Như một lời chia tay với nhà văn Pháp gốc Việt Linda Lê

Linda Lê, nhà văn Pháp gốc Việt từ trần ở tuổi 58

 10/05/2022 – 15:22

Nhà văn Pháp gốc Việt Linda Lê tại phòng thu của đài Phát thanh Quốc tế Pháp RFI (tháng 01/2020). © RFI/Fanny Renard

Tuấn Thảo

Sinh thời, Linda Lê nổi tiếng là một nhà văn cầu toàn. Tuy cho ra mắt quyển tiểu thuyết đầu tay vào năm 23 tuổi, nhưng có lẽ vì cảm thấy văn phong chưa đạt cho nên nhà văn không nhận đó là tác phẩm của mình. Tính từ năm 1986 đến nay, ngòi bút này đã sáng tác hơn 25 tác phẩm. Theo nhà xuất bản Stock, tác giả Linda Lê vừa qua đời hôm 09/05/2022 vì bạo bệnh, ở tuổi 58.

QUẢNG CÁO

Sự kiện tác giả Linda Lê đột ngột qua đời gây khá nhiêu bất ngờ vì cách đây 3 tháng, nhà văn từng cho ra mắt độc giả tác phẩm mới của mình mang tựa đề ”De personne je ne fus le contemporain” (tạm dịch ”Tôi không sống cùng thời với bất kỳ ai”). Theo đài truyền hình France24, thật ra Linda Lê đã lâm bệnh nặng từ một năm nay. Nhưng có lẽ do tác giả không thích gây ồn ào, tránh thu hút sự tò mò, cho nên Linda Lê đã không nói gì về bệnh tình của mình.

Tác phẩm tạo dấu ấn sâu đậm như tranh khắc acid

Theo phụ trang văn học BibliObs của tạp chí L’Obs, tác giả Linda Lê khá kín đáo trên văn đàn, nhưng những tác phẩm của cô đầy bóng ma ám ảnh tựa như những bức tranh khắc bằng acid, để lại nhiều vết in hằn sâu đậm. Giờ đây, Linda Lê đã tìm lại thế giới của bóng tối từng đeo bám tác phẩm của mình. Sinh tại Đà Lạt năm 1963, Linda Lê theo mẹ và 3 chị em gái sang Pháp từ năm 14 tuổi. Thân phụ của cô ở lại Việt Nam, nhưng ông sau đó lại qua đời trước khi có dịp gặp lại vợ con.

Định cư tại thành phố Le Havre miền Bắc nước Pháp vào năm 1977, Linda Lê từ thời còn trẻ đã ghiền đọc sách và say mê văn chương. Đến thủ đô Paris, cô vào trường trung học nổi tiếng Henri IV, sau bằng tú tài, cô học qua hai lớp cao đẳng chuyên khoa văn học (hypokâgne và kâgne) trước khi tốt nghiệp đại học Sorbonne. Tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Linda Lê ”Un si tendre vampire” (tạm dịch Tình ca Ác quỷ) được xuất bản vào năm 1986, kế theo sau là hai bộ truyện ”Fuir” (1987) và ”Solo” (1988).

Thế nhưng, có lẽ do các tác phẩm này vẫn còn ở trong giai đoạn trau dồi tay nghề, chưa đến độ chín muồi, cho nên cả ba quyển sách ”đầu đời” sau đó lại bị chính tác giả gạch bỏ xóa tên trên danh sách các tác phẩm chính thức của mình. Theo Linda Lê, sự nghiệp văn chương của cô chỉ thật sự bắt đầu vào năm 1992 với tập truyện ngắn ”Les Évangiles du crime” (Phúc âm của tội ác), từng đoạt giải Prix de la Renaissance vào năm 1993.

Hơn 25 tác phẩm trong 3 thập niên sáng tác

Tuy bị Linda Lê chê là còn non tay nghề, nhưng các tác phẩm đầu tay vẫn hội tụ những điểm sáng về cả ý tưởng lẫn ngôn từ. Có thể lúc đầu Linda Lê khi viết văn muốn khoe các ngón sở trường cũng như muốn chứng tỏ bản lĩnh của mình. Nhưng rõ ràng là trong thời gian đầu, tác giả Linda Lê mang nhiều ảnh hưởng lớn từ nhà văn Áo Thomas Bernhard. Cách viết của Linda Lê thường dùng nhiều độc thoại, từ câu văn làm nảy sinh một giọng điệu đầy cảm xúc căm giận, cuồng nộ nhưng vẫn kìm nén, kiểm soát được nhờ lý trí. Văn phong trau chuốt, từ ngữ chọn lọc sao cho câu chữ ngắn gọn không rườm rà. Những tác phẩm như ”Calomnies” (Vu khống – 1993) hay ”Les dits d’un idiot” (Lời kẻ ngốc – 1995) tiêu biểu cho giai đoạn này.

Cũng theo phụ trang văn học BiblioObs, những cảm giác thiếu thốn trống vắng, những nỗi dằn vặt day dứt dần dần khiến cho giọng văn trong các tác phẩm về sau trở nên u uất, như thể những điều thầm kín nhất chôn giấu trong nội tâm, ngày càng hiện rõ hẳn qua dòng chữ. Về điểm này, giới phê bình đánh giá cao tác phẩm ”À l’enfant que je n’aurai pas” (Viết cho đứa con không được sinh ra), từng nhận được giải thưởng Renaudot dành cho hạng mục sách bỏ túi vảo năm 2011.

Tính đến nay, Linda Lê đã sáng tác 27 cuốn sách, ngoài Renaudot Poche còn giành thêm một số giải thưởng khác như Vocation, Renaissance, Fénéon, Wepler …. Riêng tiểu thuyết ”Lame de Fond” (Sóng ngầm) lọt vào vòng chung kết của giải Goncourt năm 2012, giải thưởng văn học cao quý nhất của Pháp. Tiểu thuyết này từng được dịch và được nhà xuất bản Nhã Nam phát hành tại Việt Nam. Nhiều tiểu thuyết nổi tiếng khác của Linda Lê cũng được xuất bản ở Việt Nam như ”Tiếng nói” (Voix), ”Thư chết” (Lettre Morte), ”Lại chơi với lửa” (Autres jeux avec le feu), ”Vu khống” (Calomnies) và nhất là ”Vượt sóng” (Oeuvres vives), qua đó văn chương tựa như một ”chiếc phao trong cuộc sống, điểm tựa của những kẻ bị hủy hoại lưu đày, chốn bình yên của những tâm hồn nổi loạn”.

”Cái chết là kiệt tác duy nhất mà tôi có thể thực hiện”

Trong các tác phẩm kể cả truyện ngắn, tiểu thuyết hay tiểu luận, Linda Lê thường hay nói về những nỗi ám ảnh chưa được hoá giải trong cuộc sống riêng tư. Trong tác phẩm ”Voix”, bà kể lại căn bệnh trầm cảm, chứng suy nhược tinh thần buộc nhà văn phải nhập viện một thời gian ngắn. Như một người bị mất phương hướng, không đất lành để đậu, không chốn yên bình để cắm rễ, nhà văn ở bất cứ lúc nào, bất kỳ nơi đâu cũng cảm thấy lưu vong lạc lõng, dù ghét nhưng buộc phải sống trong một xã hội đầy bạo lực. Nơi văn chương, Linda Lê tìm thấy một thoáng thanh bình trong con tim, tâm hồn kiếm hoài nơi nương tựa, trong sách vở tìm thấy được chỗ dựa.

Giới phê bình thường khen ngợi các tác phẩm của Linda Lê có tính sáng tạo cao về ngôn từ. Tính sáng tạo ấy từng thu hút sự chú ý của ca sĩ kiêm tác giả Jacques Dutronc. Được mời hợp tác trên album ”Brèves Rencontres” phát hành vào năm 1995, Linda Lê đã viết lời cho ba ca khúc của Jacques Dutronc. Đó là các nhạc phẩm ”L’Âme Sœur”, ”Rappelez-moi de vous oublier”  ”Entrez M’sieur dans l’Humanité”. Bên cạnh công việc sáng tác, cô còn làm việc cho một nhà xuất bản lớn ở Pháp. Từ thuở thiếu thời, Linda Lê đã ghiền đọc sách và từ đó đã viết nhiều lời tựa cũng như một số tác phẩm đề cao những tác giả quan trọng đối với cô.

Trong tác phẩm ”Les Chercheurs d’ombre” (tạm dịch Những kẻ truy tìm bóng tối), cô bày tỏ lòng ngưỡng mộ với nhiều nhà văn, trong đó có Bảo Ninh, tác giả của ”Nỗi buồn chiến tranh”, nhà thơ kiêm tiểu thuyết gia người Ý Cristina Campo hay nhà văn kiêm phê bình văn học Ba Lan Bruno Schulz. Cách đây ba năm, Linda Lê đã được trao giải Hoàng tử Pierre de Monaco cho toàn bộ sự nghiệp sáng tác của mình. Tuy trong đời đã nhận khá nhiều giải thưởng văn học, nhưng dường như nhà văn chưa một lần cảm thấy tự mãn. Ra đi rất sớm chỉ ở tuổi 58, Linda Lê hẳn chắc còn nhiều điều để sáng tác, nhiều tác phẩm gửi gắm cho đời, mặc dù cô đã từng viết lúc sinh thời : “Tôi nhận thấy cái chết của tôi là kiệt tác duy nhất mà tôi có thể thực hiện”.

Linda Lê – nhà văn gốc Việt số 1 ở Pháp đột ngột qua đời

THIÊN ĐIỂU

TTO – Tin buồn bất ngờ với giới văn chương và độc giả, nhà văn Linda Lê vừa qua đời sáng nay 9-5, tại Paris, Pháp ở tuổi 59.

Linda Lê - nhà văn gốc Việt số 1 ở Pháp đột ngột qua đời - Ảnh 1.

Nhà văn Linda Lê – Ảnh: VŨ HỒI NGUYÊN

Thông tin được tuần báo Nouvelobs – một trong số những tạp chí lớn nhất của Pháp – đưa tin chiều nay, giờ Việt Nam.

Nhà văn Vũ Hồi Nguyên từ Pháp cho biết ông nhận tin buồn từ một người bạn thân thiết người Pháp của Linda Lê.

Đây là tin rất đột ngột với ông Nguyên bởi mới cách đây 1-2 tháng nữ nhà văn còn ra mắt độc giả cuốn sách mới nhất.

Đài phát thanh France24 cho biết Linda Lê bệnh nặng từ một năm nay.

Nhà văn Vũ Hồi Nguyên cho biết Linda Lê hoàn toàn sống bằng công việc văn chương. Ngoài viết văn thì bà làm việc cho một nhà xuất bản lớn ở Pháp.

Ngoài tài sáng tác, bà rất giỏi tiếng Pháp, được các tờ báo lớn của nước Pháp đánh giá trình độ tiếng Pháp của bà ở mức sáng tạo ngôn từ tiếng Pháp.

Sinh ở Đà Lạt năm 1963 nhưng bà sang Pháp sinh sống từ sớm, say mê văn chương Pháp nên tiếng Pháp của bà rất giỏi.

Linda Lê:

Văn Chương Vô Xứ, Đào Trung Đạo dịch và giới thiệu

 Tròn 1 năm nhà văn Linda Lê qua đời (9/5/2022 – 9/5/2023)

Nhà văn Linda Lê (1963 – 9 May 2022)  Hình Wikipedia

Linda Lê sinh năm 1963 tai Dalat, Viet Nam, 14 tuổi qua Pháp “hồi hương”. 1981

học tại Lycee Henry IV để chuẩn bị thi vào Ecole Normal Supérieur, không
đậu nên vào học Sorbonne. Tiểu thuyết đầu tay xuất bản năm 1984. Linda Lê mất ngày 9 tháng Năm, 2022.

Đã xuất bản 10 tiểu thuyết: Autres jeux avec le feu, Les aubes, Calomnies, Les dits
d’un idiot, Lettre morte, Les trois parques, Voix, Personne, In Memoriam (đều do
Christian Bourgois xuất bản), À l’enfant que je n’aurai pas (NiL xuất bản) khảo luận: Tu écriras sur le bonheur (Presses Universitaires de France P.U.F. xuất bản), Les evangiles du crime (Julliard xuất bản), Marina Tsvetaieva, Comment ca va la vie? (Jean-Michel Place, col. Poesie xuất bản), Au fond de l’inconnu pour trouver du nouveau, Par ailleurs (exils) (Christian Bourgois)

Về “Quê Nhà” cũng như về “Người Cha”, Linda Lê đã tống táng xong xuôi bằng văn chương. Phải dùng Pháp Văn để viết nhưng cô cho rằng (tuy rằng Pháp Văn của Linhda Lê thật tuyệt vời): “Écrire dans une langue qui n’est pas la sienne, c’est fair l’amour avec un cadavre.” (Viết trong một ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ của mình, chẳng khác gì làm tình với một thây ma)  

Danh từ “văn chương dịch vị/vô xứ” (litérature déplacée) vẫn thường được hiểu theo cái nghĩa phải cầu viện tới xúc cảm, vịn vai cảm xúc để đánh động lòng người, tức là một thứ văn chương do một kẻ buộc lòng phải rời bỏ xứ sở của mình tiếp sau một sự thay đổi thể chế chính trị viết ra. Chính những “tiếng nói của kẻ lưu đầy” được ưa chuộng này từng khiến cho gân cốt của kẻ quyền huynh thế phụ trong giới phê bình rung lên bần bật, luôn luôn nóng lòng muốn mở hội tán tụng cái cảm xúc thời thượng bầy lũ ấy ngay tức khắc.

Mới đây ở Việt Nam, tại một địa điểm cách Hà Nội chẳng bao xa, có xảy ra một sự việc nho nhỏ. Có một anh nông dân hai mươi tuổi nọ được đưa vào bệnh viện điều trị. Anh ta bị đau bụng dữ dội.  Các vị y sĩ giải phẫu lôi được từ trong bụng anh ta ra một cái bào thai nặng hai kí lô, có cái đầu đầy tóc, lại có đầy đủ tứ chi hẳn hòi, nhưng đã chết ngỏm từ hồi nào rồi. Người mẹ của anh nông dân này kể với mọi người rằng hồi bà sanh con, ngạc nhiên thấy có mỗi mình anh ta ra chào đời, thực ra bà nghĩ mình phải sanh đôi mới đúng. Nhưng chắc hẳn vì có trục trặc trong sự cấu tạo sao đó nên cái bào thai thứ nhì lại chui tọt vào trong cái bào thai thứ nhất nằm lì trong đó để phát triển. Trong suốt hai mươi năm trời cái bọc bào thai đó cứ tiếp tục từ từ tăng trưởng trong bụng anh chàng nông dân trẻ tuổi nọ.


Nelly Sachs nữ thi sĩ Đức, bạn thân của Paul Célan, có nói rằng một kẻ xa lạ mang theo quê hương mình trên hai cánh tay giống như mang một đứa trẻ mồ côi và hắn không còn biết làm gì khác hơn là đi tìm một huyệt mộ cho đứa bé. Quê hương tôi, tôi mang nó theo y hệt như anh chàng nông dân trẻ tuổi nọ đã mang cái bào thai của người anh em song thai của anh vậy.  Đó là một mối liên hệ kỳ quái. Một mối liên hệ trong đó nơi chôn nhau cắt rốn, cũng là cái bào thai song sinh, bị phủ kín và ngộp thở, vừa được nhìn nhận vừa bị chối bỏ. Và sau hết được mang theo mình giống như người ta mang theo một đứa trẻ đã chết. Mối liên hệ kỳ quái đó điều khiển tương quan của tôi với một quê hương khác, cái quê hương khác này chính là văn chương, được sinh ra từ nỗi ám ảnh về một sự mất giá, một sự hình thành hỏng hụt, và cái quê hương văn chương này cất tiếng nói với một bản thân nhị trùng.  Nhưng cái bản thân nhị trùng này sẽ chết đi và rồi sẽ đóng vai một vị quan tòa câm.


Vậy đó là một thứ văn chương được đặt dưới bảng hiệu của tang chế nguyên ủy. Một thứ văn chương cưu mang trong bụng mình một hình hài thứ hai của chính mình, một kẻ thù chối bỏ chính kẻ cưu mang nó, không ngừng đặt vấn đề về tính chính đáng của kẻ cưu mang. Chúng ta đã lướt qua từ cái nghĩa thứ nhất của “văn chương dich vị/vô xứ” được hiểu như là “tiếng nói của kẻ lưu đầy”, sang nghĩa thứ hai đó là một thứ văn chương không tìm được sở cứ (place), một chỗ, một nơi chốn cho mình. Một thứ văn chương giống như một cái cây tự sinh. Không mọc lên ở nơi này, cũng không mọc lên ở một nơi nào khác. Và, cứ như vậy, nó gây xáo trộn trật tự thiên nhiên của mọi thứ. Nó tìm cách bứt rời khỏi quyền hành. Cái quyền hành của xứ sở đã xa lìa.  Cái quyền hành của tiếng nói nó vay mượn.  Cái quyền hành của truyền thống văn học không dành cho nó một vị trí nào cả. Nó đi tìm sự chính đáng được thừa nhận của mình trong sự không được chính đáng thừa nhận, chính bởi tác gia của nó chỉ là một kẻ không quê hương, một kẻ theo một cách nào đó đã trao thân cho một tiếng nói khác. Kẻ đó sẽ sáng chế ra một tiếng nói, một cách kể truyện để nói ra tính bất chính đó.  Một tiếng nói tự đặt mình trong môi trường văn chương như một kẻ khơi khơi dự tiệc, một kẻ đột nhập. Và đó là cái nghĩa thứ ba tôi đặt cho nền văn chương dịch vị/vô xứ, rằng đó là một thứ văn chương không bao giờ tìm được một nơi chốn cho mình, không bao giờ tìm được một chỗ thích đáng cho mình. Một thứ văn chương tự ý muốn mình là kẻ không có quyền gì hết, nghĩa là không chính danh.

Vào thời điểm người ta lớn tiếng tuyên bố không những sự cáo chung của văn chương mà luôn cả sự cáo chung của quyển sách, tức là sự biến mất nhân vật chính của văn chương, thì người đọc, ngay vào lúc càng ngày càng hình như không còn có một chỗ đứng nào nữa, càng ngày càng trở thành bất chính danh, để hiến mình cho văn chương, thì kẻ lưu đầy lại thêm vào tính phi chính đáng đó một sự bất chính danh phụ kèm. Trong tư thế của nhà văn, kẻ lưu đầy mập mờ nước đôi trả giá cao trong cuộc đấu giá. Hắn đồng thời say sưa vun trồng cả sự bí ẩn lẫn sự phô bày, cả nỗi cô quạnh lẫn sì-căng-đan.  Hắn triển lãm những vết thương nhưng, nói như Kafka, “theo cái cách như thể sự e ấp phải tồn tại sau khi hắn chết đi.” Hắn học được từ một đứa bé gan dạ dám dấu kín trong áo mình một con cáo để nó ngấu nghiến hết ruột gan mình. Hắn không rên xiết về sự đau đớn của mình, hắn để cho chỗ bị rướm máu cứ lớn mãi cho đến khi chính hắn ta cũng chẳng còn là một cái gì khác ngoài một vết thương rộng ngoác lộ liễu.
   
Một kẻ lưu đầy khi đã chọn lựa nơi cư ngụ của mình trong văn chương luôn luôn tạo được sự thăng bằng giữa hai thái cực: một đầu là cái nguyên lý bất toàn [le principle d’incomplétude] (sự tang chế nguyên ủy và sự bất-chính-đáng tự thừa nhận, còn đầu kia là qui luật của sự quá độ (xì-căng-đan). Một kẻ lưu đầy khi đã chọn văn chương làm nơi cư ngụ sau khi đã từ bỏ ngôn ngữ của mình để chấp nhận một ngôn ngữ khác thì hắn chỉ làm cho cái chuyển động giao động giữa sự thiếu hụt (ngôn ngữ đã mất) và sự quá độ (sở hữu một tiếng nói mãnh liệt) càng tăng nhanh hơn lên. Hắn, không ai ngoài hắn, là một gián điệp nhị trùng, chính bởi hắn bước lên chuyến tàu văn chương bằng phương tiện là một ngôn ngữ cứ gọi là “vay mượn” đi, như thế là hắn đã đặt chữ ký của mình dưới dấu hiệu của sự bất-sở-hữu và sự bội phản rồi.


Vậy thì, ngay từ khởi đầu đã là một sự mất mát. Xưa có người tên là Peter Schlemihl, kẻ đã đem bán bóng mình. Nay có kẻ lưu đầy bỏ lại ngôn ngữ của mình để viết văn bằng một ngôn ngữ khác. Nhưng ngôn ngữ, như Kafka đã nói, là “tiếng thở vang vang của quê hương”. Kẻ lưu đầy bỏ lại tiếng thở vang vang của quê hương và đi chiếm hữu một ngôn ngữ khác. Nhưng để có thể nắm bắt được cái ngôn ngữ đó, hắn ước mơ ngôn ngữ đó đã cứng đơ, hắn muốn ngôn ngữ đó đã chết. Viết trong một ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ của mình đồng nghĩa với việc làm tình với một thây ma. Nhưng đó lại là một thây ma tạo ấn tượng, làm ta sợ hãi. Đứng trước cái ngôn ngữ đó, kẻ lưu đầy hành xử như một người dốt nát ngu đần. Hắn toan tính làm cho pho tượng hắn sùng kính đó cử động. Hắn nuôi hy vọng nhận được ân sủng từ một thần tượng. Đó là điều Cioran, một nhà văn gốc Lỗ-Mã-Ni viết Pháp văn đã bày tỏ như sau: “Nếu một người ngoại quốc không là một kẻ sáng tạo về phương diện ngôn ngữ chính bởi vì hắn cứ muốn sử dụng ngôn ngữ thông thạo như dân bản xứ: dù cho hắn có đến được mức đó hay không thì cái tham vọng đó vẫn là một sự mất mát của hắn.”


Với một kẻ lưu đầy, việc đi vào văn chương diễn ra dưới dấu chỉ của sự mất mát chứ không dưới dấu chỉ của sự kế thừa. Của sự truất hữu chứ không phải của sự sở hữu. Hắn từ đâu đó đến đây. Hắn đã bỏ lại tất cả.  Kể cả tiếng thở vang vang của quê hương tổ quốc.  Hắn chỉ còn lại một tấm căn cước ghi: kẻ bội phản. Hắn là kẻ hai lần phản bội. Kẻ phản bội quê hương hắn. Kẻ phản bội ngôn ngữ hắn.  Hắn chỉ còn tự kiêu hãnh về một điều duy nhất: hắn đại diện cho, cũng giống như Conrad, “trường hợp duy nhất của một đứa con trai của thế hệ mình và của những thế hệ trước hắn, chụm cẳng nhảy ra ngoài khỏi cái nơi chốn và những ràng buộc về chủng tộc đó.” Nếu như có một danh hiệu công dân nào hắn thèm muốn, thì đó chính là tước hiệu công dân của ngôn ngữ mà thôi. Đã dứt bỏ hết tất cả những ràng buộc rồi nên hắn có thể đặt chân lên đô thị chữ nghĩa, và với tư thế của một gián điệp đôi hắn trở thành công dân không những của thế giới mà còn của ngôn từ (citoyen du verbe) nữa. Đối mặt với cái ngôn ngữ đó, đối mặt với cái quyền hành tự mình ban cho mình, hắn sẽ hành xử như thế nào? Có phải hắn sẽ xử sự như một kẻ độn nhập, một kẻ không được chuyển giao bất kỳ một thứ gì cả nhưng lại đến nơi đây đóng góp phần được chỉ định để kéo dài truyền thống?  Hay hắn sẽ an phận chỉ là một người học trò ngầy ngật mê lú bởi cái viễn tượng mờ ảo sẽ vượt thầy? Hoặc giả hắn cũng có thể sẽ hành động như một kẻ thù, quyết tâm làm ô nhiễm ngôn ngữ bằng văn phong của một tay vừa ngưỡng mộ vừa phỉ báng (adorateur-détracteur), giữ mối quan hệ với ngôn ngữ này theo kiểu những nhà dị giáo thần bí (mystiques) giao dịch với Thượng Đế: với một lòng cuồng nhiệt bị nỗi ham muốn bất quy phục tàn phá, với một cách thờ phượng lúc nào cũng sẵn sàng tranh luận, và với một khởi hứng hướng về sự tinh khiết của ngôn từ  nhằm chống lại cái đà lao mình xuống chỗ thấp kém, ty tiện, hạ cấp?


Như vậy việc tìm kiếm một bản ngã tự thân kinh qua cuộc chinh phục một ngôn ngữ mới. Nhưng vì mình vốn là một kẻ phản bội quê hương mình, tiếng nói mình, kẻ lưu đầy sống trong đô thị chữ nghĩa, sẽ mãi mãi là một công dân ngang bướng, một người học trò gương mẫu mong ước được cho điểm hạnh kiểm số không. Hắn đặt mình trong khi xây dựng, đào hố dưới móng trong khi xây tường, phá hoại ngầm trong lúc thực hiện.  Bởi từ nguyên ủy đã là tang chế, việc để tang một ngôn ngữ đã được tống táng. Chính sự mất mát nguyên thủy đó làm cho sự thanh toán những ràng buộc lẹ làng hơn và ném nhà văn quay trở về chốn lưu đầy, đất trích của chữ nghĩa. Nhưng cũng chính sự mất mát đó lại điều khiển một thế giới quan xây dựng trên sự thiếu hụt chứ không trên sự đầy đủ, trên sự chối từ chứ không trên khẳng quyết, trên sự tàn phế như dấu tích của tang chế và như một triệu chứng của sự phản kháng.


Kẻ tàn phế mang bảng hiệu tang chế nguyên ủy, từ chối tự thân, khép kín trong bệnh độc tưởng của sự tàn phá. Nhưng với tư cách một kẻ tàn phế, ẩn náu trong thành trì của mình, hắn cũng hoàn toàn là một ý chí đoạn tuyệt, chối từ thế giới, chối từ cái người ta gọi là đời sống thường nhật, hắn không là gì khác hơn một thực thể bất động tuyệt đối.


Là khuôn mặt của sự chống cự thụ động, kẻ tàn phế là người anh em của Bartleby, tay độc thân chẳng có cha mẹ cũng không có kẻ nối giòng, và hắn không thèm đếm xỉa gì tới tất cả những hình thức quyền hành của ngôn ngữ, thu giảm vào một công thức duy nhất của sự chối từ, công thức này được lập đi lập lại với một sự tách mình ngoan cố, tung hê tan tành cái phụ quyền.  Chính vì tự nhận biết mình là một người anh em trong cộng đồng của Bartleby, cộng đồng của những kẻ cô độc không có những ràng buộc với đời và không có hậu thế, chính vì  rắp tâm tu dưỡng mối hoài nghi tinh chế bởi nhân vật người thư ký trong truyện của Melville, nghĩa là biết rõ không làm gì có phụ quyền, rằng tất cả chúng ta là những kẻ mồ côi, chỉ khi đó kẻ lưu đầy mới có thể cởi bỏ những cái thòng lọng quấn quanh cổ, đập tan sự tôn trọng xưa nay vẫn được duy trì đối với cái ngôn ngữ không phải của hắn đó và cả niềm hy vọng mình được nhìn nhận nữa. Từ nay, hắn biết rằng hắn sẽ chỉ tái sinh trong lòng cái ngôn ngữ đó khi bứng gốc cái quyền được cất tiếng nói, nhưng đó sẽ là một tiếng nói có chiều hướng đối nghịch bản thân, giống như một con dao, một tiếng nói tương tự như một lỗ hổng đen kịt và mở rộng hoác, đứng trước cái lỗ hổng đó người đọc sách không còn một chọn lựa nào khác ngoài việc lao mình vào và mất dạng. Đối diện cái ngôn ngữ đó kẻ lưu đầy không từ chối ứng xử như một người văn minh. Từ cái ngôn ngữ đó hắn sẽ phun ra với niềm kiêu hãnh của một kẻ chất phác thử tập nói, giống như hình ảnh của tên cu-ly Conrad mô tả trong tiểu thuyết Typhon: “Ánh sáng rọi chập chờn khuôn mặt mỏng và căng của hắn. Hắn hất đầu về phía sau, giống như một con chó tru sự chết. Hắn duỗi thẳng cánh tay ra và há hốc mồm trên một cái lỗ hổng đen kịt và mở ngoác, từ cái lỗ hổng đó thoát ra những tiếng tru tréo gầm gừ và vô nghĩa như thể chúng không thuộc về bất kỳ một ngôn ngữ nào của loài người…”


Một lỗ hổng đen kịt và mở ngoác từ đó thoát ra những tiếng tru tréo dường như không thuộc về một thứ ngôn ngữ nào của loài người: đó là hình ảnh chính xác của quyển sách như từng được ôm ấp mơ tưởng bởi một kẻ mọi rợ tập tành lời ăn tiếng nói văn minh.  Bởi nếu như tất cả những cuốn sách tuyệt tác đều được viết ra trong khuôn khổ một thứ tiếng ngoại quốc, thì nỗi ước ao thầm kín của một kẻ lưu đầy là sáng tạo được, trong cái ngôn ngữ con nuôi, một ngôn ngữ khác, một ngôn ngữ mồ côi mọi kế thừa và mọi quyền uy. Những tiếng tru tréo từ trong cái lỗ hổng đen kịt và mở hoác biến thành tiếng hát.  Một tiếng hát cất lên chống lại luật tắc, chống lại hết thảy quyền uy của ngôn ngữ. Tiếng hát tung cánh đó đem lại cho quyển sách một hình thức của cái mà Ingeborg Bachmann gọi là một “hiện hữu-đơn thoại” (existence-soliloque). Một đơn thoại mở tung hoàn toàn hiện hữu. Đơn thoại này chẳng dính dấp gì tới tự truyện cả. Đúng ra chúng ta giống như những người khách viếng thăm một cái tủ chứa ảo tượng, có đủ thứ nào là bộ sưu tập độc tưởng (monomanies), nghi lễ tống táng, có cả thần chú và lời nguyền nữa.  Khi đó thì việc kể truyện trở thành sự phàn nàn hối tiếc (bài ai tư vãn) và quyển sách trở thành lời cầu nguyện. Cuộc đơn thoại đó, cái tiếng nói đơn độc đó, thoạt đầu nghe thật dịu dàng, theo cái kiểu rúc rích của nàng Joséphine ca nhi thập thành, nhân vật của Kafka, khi đứng trước đám thần dân chuột. Dần dà lời đơn thoại trở thành kịch liệt và cuối cùng, chính trong khi làm cho bài ai tư vãn cân xứng với bài nguyền rủa, tiếng nói tìm được nhạc điệu đay nghiến. Lý do bởi vì nơi kẻ lưu đầy lòng mộ đạo luôn dính liền với thói ưa châm biếm, lời khẩn cầu luôn giữ lại dư vị lời nguyền rủa, và nằm ẩn kín bên dưới lòng nhiệt thành là tham vọng loan truyền tiếng nói xấu xa. Một tiếng nói xấu xa như vậy sẽ không là tiếng nói của kẻ lưu đầy, một tiếng nói bị xua đuổi khỏi nơi tỵ nạn, nhưng là một tiếng nói tự châm biếm việc đi tìm một chốn tạm dung, một tiếng nói thoát ra khỏi mọi sự bảo trợ, một tiếng nói tự ý muốn mình đơn độc. Một tiếng nói như một lời cầu kinh dịch vị/vô xứ (une prière déplacée), bởi vì tiếng nói đó thoát ra từ một cái lỗ đen kịt, và rằng nó từ chối nghi lễ kỷ niệm tán dương, cũng như nó từ chối luôn cả sự ủy lạo. Tiếng nói đó không tìm cách làm cho nỗi đau khổ ngủ yên, nhưng ngược lại nó khua thức nỗi đớn đau bằng lời nguyền rủa và thóa mạ. Chúng ta quay trở lui giống những tay thần bí, quay lại với bệnh cuồng ngôn, xu hướng phản kháng, và với thiên tài diễn bày tư tưởng bất phùng thời của họ. Tất cả những thứ đó luôn luôn dẫn họ tới việc đập tan những giáo điều thiêng liêng do chính giáo áp đặt.  Họ phát biểu với tư cách người dị giáo.  Họ ứng xử như kẻ thù của văn phong chính thống, kẻ thù của văn chương hoa mỹ vốn chỉ là thứ dầu thơm xoa lên trên chữ nghĩa chống lại sự đau đớn. Họ đã đối nghịch lại thứ văn chương hoa mỹ làm giảm đau đó bằng một ngôn ngữ không tinh chất, cường kích, một thứ ngôn ngữ dốc cạn năng lực trong tận hiến bất chấp phải hỗn xược, khẳng định riêng tư. Ingeborg Bachmann đã nói: “Nhiệm vụ của nhà văn không thể là phủ nhận sự đau khổ, xóa nhòa những vết tích của đau khổ, huyền thoại hóa bằng cách xa rời đau khổ.  Ngược lại, là nhà văn hắn phải chấp nhận đau khổ và làm cho đau khổ hiện bầy, để cho chúng ta có thể nhìn thấy được.  Bởi chúng ta muốn tất cả mọi người đều là những kẻ mở mắt nhìn thấy.” Vậy trách vụ của nhà văn sẽ là sáng chế ra một tiếng nói mở mắt người. Một tiếng nói chứng kiến. Một tiếng nói chống lại diễn ngôn hoa mỹ. Một tiếng nói vô xứ, bởi vì tiếng nói đó đặt mình ngay giữa khổ đau, không tìm cách xoa dịu khổ đau bằng món thuốc giảm đau làm bằng chữ nghĩa.

(Linda Lê, Tu écriras sur le bonheur, nxb PUF. Paris, 1999. Chương chót “Litérature déplacée”)

Đào Trung Đạo dịch

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.