Đọc truyện “Mèo” của eng Huế Hồ Đình Nghiêm(Gio-o)

Hồ Đình Nghiêm

MÈO CÁI

Người đàn ông dựng xe ở gốc cây, dưới tấm giấy cứng ghi chữ “Chuyên vá sửa xe đạp”. Anh cởi nón, đứng quạt, ngó con đường bụi mốc dẫn tới cái chợ án cuối tầm nhìn.

– Trời đất, tưởng ai!

Sau ngạch cửa tối om có người bước ra. Áo quần lem luốc, tay chân đen đúa, tóc rối và giọng nói khàn đục.

Chớ bấy lâu ni đi mô mà không thấy?

Người đàn ông nheo mắt:

– Loanh quanh chỗ cũ chứ biết đi mô!

– Chừ thì răng? Xe trật cóc hay có chuyện chi mà ghé đó?

– Mượn cái bơm, chỉ rứa thôi.

– Rảnh không? Vô đây uống miếng nước.

Hai người bước vào khung cửa tối. Nắng đứng ngoài và dường như nó không đủ sức mạnh để lấn sâu. Chập choạng thứ ánh sáng dán nơi vách xám bẩn. Người đàn ông ngồi xuống chiếc giường tre, nhỏ nhắn, ọp ẹp. Anh vác mặt ra đường.

– Làm ăn buôn bán ra răng?

– Cụ mi thấy đó, ngồi ngáp vặt cả buổi. Cái ruột xe bị chi? Ưa tau vá cho không? Vừa vá vừa nói chuyện.

– Thôi, mất công. Điệu ni bán phức cho yên chuyện!

– Mụ vợ cũng thường hí? Nghe họ nói trên Kim-long có ông thầy thuốc mát tay lắm, uống vô vài thang thì gieo mô đậu nấy. Hai người đã thử chưa?

Người đàn ông đón ly nước từ tay bạn. Ly thủy tinh vẽ sơn lem nhem bên ngoài hình cô thiếu nữ đội nón bài thơ nhìn mặt trời và đôi ba cánh chim bay. Thứ ly mà ở chợ Đông-ba bán tràn đìa, vài đồng mua được cả tá, rẻ như bèo, đổ bể chẳng lấy làm xót ruột. Người đàn ông uống chất nước vàng, không biết gọi là chè hay trà, màu sắc thì đậm đà hơn cả rượu thuốc. Dẫu là thứ gì thì nó cũng mát cần cồ khi trôi xuống bao tử, nẫu ruột!

– Chưa thử. Có con trong lúc ni thì thêm bấn thôi.

– Cụ mi cũng lạ thiệt. Người ngợm tướng tá ngó đâu đến nỗi!

– Chuyện chi nữa đó?

– Còn nhớ thằng Hưng không? Học Hàm-nghi với tụi mình tới lớp đệ tam thì hắn đổi qua bên Quốc-học đó… Ai đời học tới đệ ngũ rồi mà con chim thì nhỏ chỉ bằng cái van xe đạp!

– Nói quá đáng!

– Ấy. Thời đó hắn đái bậy ở am miếu miễu đền nào không biết, về nhà khóc tứng lừng lựng Mạ ơi Mạ hỡi cả buổi. Hắn vạch quần chỉ con cu sưng tấy mọng nước cho mọi người coi. Cụ mi biết đó, sưng quá cỡ thợ mộc mà chỉ lớn bằng ngón tay cái thì khi bình thường nó không bằng cái van xe đạp là chi?

– Thì đã sao?

– Dĩ nhiên là không sao cả. Bởi giờ này hắn có tới bốn mặt con. Hôm trước hắn đi cà nhắc ghé thăm tau, kể là đương sự bị mụ vợ bắt đi cột cho mụ ta được yên thân tảo tần. Ngồi nhắc chuyện cũ hắn rung đùi cười nắc nẻ, nhỏ to là chuyện lẻ tẻ. Khiếp thật!

– Thôi, lấy cho mượn cái bơm đi.

– Chưa nóng đít đã bỏ đi! Cái số tau ngó vậy mà nhàn nhất bọn. Me! Cuộc đời này chẳng có chi sướng cho bằng làm chủ được bốn chữ…

– Độc lập tự do à?

– Sai. Ung dung tự tại.

– Sao không là “In God we trust”?

– Hả. Cụ mi nói chi?

Người đàn ông bước ra sân. Chợ ở cuối đường vẫn đông, không ngớt gửi về những thứ tiếng động tạp nhạp. Mơ hồ, nghe chẳng rõ hư thực.

– Có con bé bán ly tách chén đọi đằng chợ lúc nào cũng cười mỉm chi với tau. Có hôm sơ ý làm vỡ mất của nó cả chồng chén đất, cụ mi biết em nó nói sao không? Cái anh ni thiệt vô tâm, răng không xô bể cho nhiều thêm để tui tha cái xác anh về mà trừ nợ. Con gái bây giờ có nhiều đứa ăn nói chịu đời không thấu. Phải mà nó thơm chút xíu thì lọ phải ngôn, giờ này nó có thể cầm bơm ra xịt ít phát cho bánh xe cụ mi được năng cứng lên… Ủa, chở cái qủi chi ở yên sau rứa?

– Nuôi mèo không? Định chở nó tới đằng chợ mà thả chơi. Cho nó hết biết đường về.

– Đoản hậu! Có vấn đề à?

– Nó ăn cái giống gì mà đẻ lia chia, tìm người cho không cũng đủ khùng!

– Mèo cái à? Bỏ nó trong bao bố cả buổi vậy sao chẳng nghe nó kêu than gì cả?

– Vậy đó, đến khi cần, đêm hôm khuya khoắt nghe giọng nó réo gọi mới thê thiết. Có nước thức trắng đêm theo nó.

– Ui chào. Đằng chợ kia mèo hoang cả ngàn con, thả nó tới đó mặc sức mà trúng mánh, lập đoàn lập đảng. Cái xứ chi kỳ lạ, chó qúy mà mèo thì chê. Cụ mi quen ai có chó mới đẻ, nhớ xin cho tau một con.

– Rủ rê con nhỏ đằng chợ về sống với nhau có phải thích hơn không? Nuôi thú vật làm sao bằng được.

– Bậy nà. Chó còn biết giữ nhà, đàn bà có khi biết bỏ nhà mà ra đi. Này, tính bán chiếc xe ni thiệt à? Khi mô kẹt tiền nhớ hú tau.

Người đàn ông nắn thử bánh xe, anh vỗ vai bạn như thế một lời cám ơn.

– Đi hí. Chiều hung rồi. Còn về nấu miếng cơm.

– Ủa, chớ mụ vợ làm chi?

– Làm chuyến đi buôn cả mấy ngày rồi, không chừng bả về tối nay. Thiệt khổ! Thất bại lần này nữa thì buộc lòng phải giao chiếc xe ni cho ông thôi.

Người đàn ông đạp xe đi, cái bao bố ở yên sau nhúc nhích. Tiếng mèo kêu nghe phát chán, cứ lập lui lập tới chữ “nghèo, nghèo”. Dai dẳng, da diết.

Xe dừng ở quảng đường vắng, cách ty Thương nghiệp một bãi đất trống. Xe tắt máy, bóng đêm phủ chụp lẹ làng xuống mọi cảnh vật. Gió thổi hiu hiu, mang theo mùi nồng của vùng đất đang cày xới ngổn ngang và rỉ rả tiếng dế từ đó trôi dạt về, không gián đoạn. Động cơ tuy yên nghỉ, nhưng thỉnh thoảng sắt thép còn trở mình kêu ca, bốc hơi nóng luồn lách vào đôi chân.

Quan sát động tĩnh một khoảnh khắc, kể cả ngó tìm vào kính chiếu hậu. Yên hàn vô sự. Đêm sâu hoắm, sâu tới mức trăng sao thảy đều mờ nhạt thiếp ngủ. Gã lái xe nuốt nước bọt, rời những ngón khỏi tay lái trơn tuột. Hắn không kềm giữ được cái độ rùng lan truyền nhanh từ cơ thể chạy ra tới tận cùng những ngón tay vụng cứng. Người đàn bà ngồi bên hơi co thân lại, chiếc nịt vú như nguyên nhân chính làm tim cô đập vội, bởi bình thường nó không chật chội đến thế. Những ngón tay kia đã điều khiển xe, mang chở cô đi và về an toàn trên suốt con đường dài của quốc lộ Một có quá nhiều trạm kiểm soát. Và lần này nó như muốn kéo cô vào một lãnh thổ khác, ở cái nơi mà lý trí dường như là thứ sớm bỏ cuộc nhất. Người đàn bà nhắm mắt lại, lưng hơi cong để vô tình đầu cô dựa khít khao vào thành cửa. Gió phiá ngoài mơn man làm dễ chịu cái vầng trán đang tươm mồ hôi. Những ngón tay làm máu huyết hốt hoảng chạy xuôi ngược, làm miệng cô khô khát và cô đã phải cắn lấy môi mình nhiều bận. Chiếc quần được kéo xuống, thoát vội vã khỏi đôi chân. Cô rướn mình để việc thoát y được suông sẻ. Cô hoàn toàn không muốn hai bàn tay năng động kia lỡ làm rách cái quần “ăn nói” của cô. Nếu rách, cô thiệt chẳng biết sao ăn nói…

– Bao lâu nữa thì tụi mình lại gặp gỡ nhau?

Gã lái xe nói giọng đứt quảng. Hắn có bộ ngực khá rắn chắc. Phiến lưng to, nhờn láng như thoa sẵn dầu mỡ. Khi nói, những chân râu cứng châm chích vào má. Cô thấy nhột nhạt ở mặt và sự ngứa ngáy chạy xuôi phiá dưới cơ thể. Mọi cử động của hắn có vẻ từ tốn, khoan thai, chậm rãi. Làm như cấp bách quá thì lời từ giã sẽ sớm được nói ra.

– Anh lỡ ghiền mùi hương của Trầm mất rồi. Một tuần với Trầm thật không đủ cho anh.

Người đàn bà nấc lên. Cô ngẫng đầu và cô vung phát những cử chỉ gần giống như một người đàn bà đang lâm bồn. Điểm khác biệt là mỗi bên ở một tận cùng thái cực. Sự đau đớn ở cuối đường và hút mắt đầu kia là niềm sung sướng tràn dâng. Đau đớn có thể kéo dài, nhưng hạnh phúc thì luôn diễn ra trong phút giây. Thật không đủ! Cho riêng anh, cho chính tôi, cho chúng ta.

Đêm hừng hực nóng. Cơ thể như cổ máy đã yên nghỉ, nguội dần, nguội dần. Gã lái xe mặc lại áo quần. Hắn thắp một điếu thuốc, khói tuôn mau ra khỏi buồng lái. Khi hít hơi sâu, đầu lửa đỏ rọi cho người đàn bà thấy một phần khuôn mặt gãy góc của hắn, vương vấn ít nhiều gió bụi giang hồ. Lúc hút thuốc, hắn có vẻ trầm tư.

– Đây, phần của Trầm. Lần trước thì sáu bốn, nhưng bây giờ tụi mình bình đẳng, năm mươi năm mươi.

Người đàn bà đón lấy gói giấy báo, nó hơi kềnh càng khi nhét thu vào lưng quần. Cũng chẳng hề gì, con buôn nào mà không từng một lần đóng vai bụng mang dạ chửa khi đi qua những trạm quan thuế. Biết cách nôn mửa thì càng tốt. Con buôn Trầm lại khác, đi bên hắn, tên “giặc lái” này như thể có ô dù, không một ai gạn hỏi rầy rà khi hắn trình tờ giấy giới thiệu của một cơ quan khỉ mốc nào đó của tỉnh Bình-trị-thiên. Thuận buồm xuôi gió.

– Trầm ưa xuống đoạn nào? Thương-bạc hay cầu Gia-hội?

Người đàn bà thở dài:

– Khoảng giữa. Chợ Đông-ba.

Xe rùng mình, hai ngọn đèn lòa sáng xẻ rách màn đêm. Những con vật bé xiú bay quờ quạng giữa vũng màu chói. Xe rú lên, chồm mình ra con đường trồng sánh đôi bóng điện vàng, thắp bạc nhược suốt lối về nhà. Và lối đi khuya khoắc ấy trở nên hun hút sâu dưới mắt người đàn bà.

.

Người đàn bà gác chân lên xô nước, lau chậm rãi từng vuông da. Lau đùi, lau mông, lau lưng. Cổ, ngực… và sau cùng dùng khăn lông kì cọ qua về trên bụng. Cô áp bàn tay vào đó, đứng bần thần, như thể một người đang tự tra vấn mình, tìm hiểu xem đã ăn nhằm thứ gì trong ngày để giờ này phải chột bụng.

Buổi tối điện cúp, người đàn bà bước ra khỏi buồng tắm với một mẩu nến tàn lụn khá nhiều. Theo chân đi, ngọn lửa trên tay cháy nghiêng về phiá sau khiến người đàn ông đang gối tay nằm trên giường nhìn thấy đốm lân tinh chớp sáng trên màu lụa trắng. Màu trắng, nó chẳng tượng trưng được điều gì cả, nhưng ít ra, nó nói hộ ta một chuyện: Nó sạch sẽ nhất so với những sắc màu khác nó. Đã thế, sau khi tắm gội xong, vợ anh sẽ rất “ăn” với cái màu trinh nguyên ấy. Tại sao lại gọi là màu trong khi nó trắng ngần, nó sạch bong?

Người đàn bà đặt cây đèn cầy nơi chiếc bàn nhỏ kê sát đầu giường. Cô khởi sự chải tóc. Trước đây, khi còn là học sinh, cô có mái tóc thề rất mực mượt mà. Lấy anh xong, cô cắt mái tóc ấy đi, như cắt bỏ chuỗi ngày hồn nhiên để trực diện những khốn khó khi vào đời. Tóc ngắn, điều đó làm người cô trông có vẻ khỏe mạnh hơn. Sự khỏe mạnh biết lan truyền qua người anh nỗi an tâm, gieo cho anh cái ý tưởng khó có người bắt nạt được cô ấy.

Một hai giọt nước rơi xuống mặt người đàn ông. Mát, ngọt. Anh lười biếng giữ nguyên dáng nằm, đón nhận sự tĩnh lặng, lơ mơ thụ hưởng niềm sảng khoái nào đó vừa hiện tới.

– Nghĩ thật buồn cười… dài lưng tốn vải ăn no lại nằm… những ông nhà thơ là những kẻ tiên tri.

Người đàn bà thôi chải tóc, cô kéo những hộc tủ và đóng nó lại sau khi thò tay vào lục soạn.

– Em muốn kiếm tìm cái chi?

– Cái quạt. Anh không thấy nóng sao?

– Anh đang cầm trên tay. Nằm xuống đi, để anh quạt cho.

Người đàn ông dang cánh tay cho vợ gối lên trên, bàn tay kia xòe chiếc quạt giấy phe phẩy hình cánh cung. Ngọn nến cháy run đốm lửa.

– Em thổi tắt đèn sáp hí?

– Kệ, cứ để rứa, cho nó tự lụn tàn.

– Ngày ni anh làm được những chi, kể em nghe.

– Anh ra chợ mua hết những thứ em ghi trên giấy. Giặt đống áo quần, hứng đầy những xô nước dự trữ. Viết cho thằng bạn tị nạn bên Pháp một lá thư. Hết, xong một ngày! Nghĩ cũng lạ đời, cái đời mà trong đó nó hoán đổi tài tình cái chức năng giữa gái và trai. Em bương chải bên ngoài và anh lại cặm cụi việc nội trợ. Xã hội bây giờ không tin tưởng lắm khi giao việc cho bọn đàn ông. Bao giờ thì lí lịch của mỗi người được trong sạch?

Người đàn bà không nói gì. Cô nhìn con thằn lằn đang di chuyển kiếm ăn trên trần nhà. Và cô đếm, có cả thảy là năm con. Cô dong tay lên, uốn éo co giãn những ngón rồi mượn đốm sáng duy nhất trong phòng để chiếu hắt lên vách hình thể những con thú. Với hai bàn tay quyện vào nhau, người đàn bà có thể thay đổi dáng dấp từ con chó sang con thỏ, tới con cò, con rắn con rùa…

– Úi chào, sao mà mỏi hai cái bả vai!

Người đàn bà than, hai cánh tay buông mạnh xuống mặt chiếu.

– Tại hôm nay khiên phụ bà Qúy đống hàng. Nặng như qủy sứ!

Người đàn ông thôi quạt, anh ngồi dậy sửa soạn đấm bóp cho vợ. Người đàn bà để yên cho chồng cởi từng hạt nút áo. Bên hông người đàn bà có cái bớt đỏ. Hình dáng sẽ thay đổi tùy thuộc vào dáng nằm của cô. Méo, tròn, bầu dục. Nó như triện son thế vì khai sanh nhằm cầu chứng sự có mặt ở đời. Mỗi lần nhìn thấy dấu vết riêng tư kín đáo ấy, người đàn ông đều liên tưởng tới chuyện tiết trinh. Ở trong cổ tích, người ta dựng nên truyền thuyết: Con gái, khi thất thân, cái đốm màu đỏ chu sa đó sẽ bị phai nhạt đi. Đêm nay, dưới mù lòa ánh nến, cái bớt kia dường như có phần biến đổi. Nó đen đúa tựa như có người nhúng mực xạ để lăn dấu tay vào đấy. Nó giống vệt dầu nhớt mà ta sơ ý bị vấy bẩn, thấm qua làn vải mỏng, ngấm rút xuống thịt da.

– Thằng bạn hành nghề vá sửa xe đạp nói với anh trên Kim-long có ông thầy mát tay lắm.

Người đàn bà lật úp thân thể lại.

– Ông ta trị được bệnh đau lưng không?

– Không. Ông xắc vài thang thuốc, uống vô thì gieo mô đậu nấy.

– Có nghĩa là sao? Thực sự thì anh đâu cần những thứ bậy bạ đó.

Người đàn ông dừng tay. Từ vai, anh di chuyển những ngón xuống mông vợ và lật ngửa người đàn bà lại.

– Không chắc lắm, nhưng em nghĩ mình đã có thai.

Khi nói, người đàn bà chẳng nhìn mặt chồng. Tia mắt đâm thẳng lên trần nhà. Cô lấy cánh tay đắp lên vầng trán đang gợn nhăn, như thể ánh nến có thể làm người ta chói lòa nhãn quang.

Người đàn ông nhìn xuống cái bớt đen, cố nhớ lại một cột mốc, một khoảnh khắc của quá khứ. Bao lâu rồi, chúng ta đã ra sức đền bù cho nhau với sự rên siết đồng lõa của chiếc giường long chân này?

– Có ai gõ cửa phải không ? Anh nghe tiếng động gì không?

Người đàn ông bước xuống khỏi giường, đi chân đất rón rén lại gần cánh cửa. Anh áp tai vào tấm ván mỏng dùng ngăn chia, định hình cái thế giới nhỏ bé của mình và bên ngoài là một cõi ta bà lao lung những hoạt cảnh của lầm than nhớn nhác khổ ải triền miên. Cửa được mở trong ái ngại, cảnh tỉnh. Trống trơn, không một ai. “Meo, meo…meo”. Dưới chân anh, con mèo tam thể vừa lách mình vào. Nó dụi mặt và liếm lấy những ngón chân trần của người đàn ông.

– Đồ tinh ranh! Xa xôi như rứa mà mi cũng biết tìm đường về.

Con mèo đi khoan thai vào chỗ ngủ của hai vợ chồng. Trên mình nó, đốm lông đen di động trông hệt như cái bớt bí mật của người đàn bà. Nến lung linh ứa chảy chất sáp xuống rồi phụt tắt. Phòng tối thui. Chỉ có một vật thể sáng nhờ nhợ: Bộ đồ lụa của người đàn bà. Cô nằm với tư thế dạng chân.

2009

MEO HUYỀN

chuyện ngắn

1.

“Nhà em có nuôi một con mèo. Hắn không có tên, trong khi nớ con chó thì mang tên Lu. Nhờ con Lu nhà em ít khi bị ăn trộm chui vô, trong khi nớ nhà em nhiều chuột dễ sợ vì nuôi con mèo không có tên, đồ vô tích sự. Bên nhà hàng xóm o người làm lúc mô cũng hò ru em: Con mèo con chó có lông, bụi tre có mắt nồi đồng có quai…”

Cô ngừng đọc, cô ngó tôi, có vẻ ngao ngán, có vẻ chê bai, có vẻ hết biết. Người tôi nóng, sự hổ thẹn khiến đầu tôi trì nặng cúi gầm xuống mặt bàn. Bàn gỗ nhiều vết rạn nức, hai mẫu tự ai đó cặp đôi bằng dấu cọng lồng vô một trái tim. Tôi sẽ khắc lên đó chữ thù ghét cô nếu cô mãi tiếp tục trò đùa tai quái ấy. Đã có nhiều tiếng cười trỗi lên lùng bùng màn nhĩ. Sĩ số trong lớp là bốn mươi tám đứa cả gái lẫn trai và trai hay gái đều cười một giọng điệu hệt nhau, rất trêu ngươi. Cô bước tới trước mặt tôi, thảy tờ giấy mỏng manh đang co rúm ấy xuống bàn. Con số không thiệt to nằm dưới chữ Luộm Thuộm Dài Dòng Lạc Đề, cùng đi với chúng là dấu chấm hỏi và dấu than; tất cả cô dùng mực đỏ cào đậm nét ở góc giấy uốn cong.

Sau khi đọc xong bài luận văn cô cho là dở nhất lớp, cô tiếp nối chương trình tự diễn bằng một bài mẫu mực với số điểm tối đa. Cô hắng giọng, trò Nguyễn thị Huyền xứng đáng để mấy em noi gương. Bài luận tuy ngắn nhưng nó có đủ mọi yếu tố để nói rõ tới nhân vật chính: Mèo. Nó đáng yêu ở chỗ mô, nó lợi ích ở chỗ nào. Có nên xem mèo là con vật thiết thân không? Và cô đọc. Cô đi giữa khoảng trống lớp học, từ bảng đen xuống cuối vách rồi ngược lại. Mọi thứ im thin thít, mọi thứ chẳng cục cựa, mọi thứ tuồng đang dóng tai nghe. Tôi thì không, tai tôi điếc đặc, tôi ngó ra vuông sân ngập nắng. Ngoài cổng trường thằng cha bán kẹo kéo đã xuất hiện, bắt đầu dựng chống chiếc xe đạp lỉnh kỉnh đồ đoàn rất rắc rối nhưng cũng rất gợi trí tò mò. Tôi chờ đợi tiếng trống đánh dồn dập nhưng ông cai có vẻ như đang quên nhiệm vụ, hoặc ông bị mụ vợ bắt nhồi nặn bánh bột lọc, xào nhân nhụy tôm thịt từ hồi hôm tới chừ vẫn chưa xong?

Nguyễn thị Huyền, đứa văn hay chữ tốt kia thì đang nở lỗ mũi. Nó ngồi bàn đầu phía bên kia, cái lưng tròn đầy mà thằng cu Toản lúc mô cũng ưa làm trạng: Con Huyền mai sau hắn đẻ con như gà đẻ trứng cho mà coi. Nói láo cho bà vật tau ra hộc máu… Huyền cắt tóc ngắn, nghe kêu là kiểu bum-bê, ưa dùng ngón tay vén những sợi đi lạc giắt lui sau vành tai. Trái tai có đục lỗ nhỏ rức nhưng chưa khi mô tôi thấy nó đeo bông đeo vòng đeo khoen đeo xuyến như thể những vật trang sức nọ sẽ làm ô uế vẻ ngây thơ tuổi học trò. Mỗi khi tan học, đi cùng đường nhưng khác hướng Huyền luôn quay đầu ngó tôi, ê a ngâm nga ca kệ một điệp khúc: “Tau đi lối ni có hoa có bướm, mi đi lối nớ có ma qủi chận đường”. Ban đầu tôi có hơi ngán nhưng thét rồi cũng bình yên. Đường tôi đi dọc bờ thành phủ bám đầy rêu xanh, cỏ tranh từ trong đó phồn thịnh mọc lấn ra tuốt mép rìa đường nhựa, cỏ xao xác run rẩy thường trực. Châu chấu có nhiều ở mùa hè và cóc nhái ễnh ương kêu than rỉ rả suốt những ngày mưa. Nghe đồn có o con gái thất tình chui vô đám cỏ rậm cả gan uống độc dược tự tử, nghe thêu dệt đêm khuya thanh vắng chính o con gái dễ sợ nớ leo lên đọt cây sầu đông ngồi chơi với đám đom đóm ma trơi luôn quần tụ, lân tinh xanh mướt sáng ngời cả một khúc đường vắng người, nhác chơi. Trong bài luận, tôi có thòng vào cái lí do vì răng tôi ghét mèo: “Em nghe nói, mèo phi thân qua xác chết thì xác chết liền lồm cồm ngồi dậy, cái mới gay cấn ác đức bất nhơn không bút mực nào tả xiết!”. Rõ ràng là cô ghét tôi, sao nỡ nhẫn tâm cho tôi ăn hột vịt lộn khi tôi đưa ra được cái nhận xét quan trọng và hiểm nghèo đó. Người ta đã đặt một con dao trên thi thể khi chuẩn bị khâm liệm, Huyền có biết không, dụng ý là con dao đó sẽ cắt đi, hóa giải được dòng điện do con mèo tạo ra khi nó bất thần nhảy ngang qua xác kẻ xấu số.

Hiện tại thì cô đang là con dao thiệt bén, cứa vào lòng tôi những nhát đau thương. Tôi là đứa bất hạnh đang hồn lìa khỏi xác. Và Nguyễn thị Huyền đích thị biến thân thành con mèo đen, ngổi thu lu với tất cả vẻ xấu xa của nó.

2.

Tôi học kém, tôi không phủ nhận chuyện đó. Nhưng nhờ Trời tôi cũng leo ì ạch theo kịp những bước nhảy chân sáo của Huyền. Thỏ hay rùa, chẳng quan trọng. Cái đáng nói là lằn mức của đích tới, cả hai, tôi và Huyền cùng dẫm đạp lên. Cũng đệ Tứ, cũng đệ Tam, cũng đệ Nhị như ai. Khác biệt chăng là tôi học một nơi toàn cả bọn đực rựa, còn Huyền thì kín cổng cao tường nhốt thân trong ngôi trường tinh ròng một binh đoàn con gái, ngó bắt ớn! Thời tiểu học, ham nói chuyện với thằng bạn ngồi bên bị thầy phạt bắt qua ngồi bàn con gái, bị chèn ép giữa hai trò tóc dài có kẹp bướm, sợ tới độ gần són đái. Giờ ni, nếu vô tình đi lạc ngang trường của Huyền vào lúc bãi học cũng còn cái cảm giác ngan ngán, tim đập quờ quạng. Lúc xưa, con nít chay còn rứa huống chi bây chừ ngã mặn o mô cũng ngực nở eo thon yểu điệu áo dài má hồng môi đỏ. Họ có thể bẻ gãy sừng trâu sá chi cái mạng èo uột của tôi. Nhưng nói thật lòng, bây giờ gây lầm lỗi, hình phạt là bị kẹp giữa hai trò khác giống e trong bụng cũng có chút thinh thích, tay chân bức rức và đít sẽ nhấp nhổm tựa phỏng lửa. Chẳng biết mặt o bên trái khuôn trăng đầy đặn hay o bên phải nét ngài nở nang? Lê thị hoa nhường hay Nguyễn thị nguyệt thẹn? Và rồi thì cái mùi thơm kì lạ vừa chui vào khứu giác chẳng biết của người mô vừa xô giạt qua, cho hít ké. Ui chầu, học răng vô hè. U mê ám chướng là điều bắt buộc!

Nguyễn thị Huyền rất đẹp. Nhỏ không lộ ra, lớn một tí thì e ấp, phải đợi đúng kỳ hạn mới phô bày toàn vẹn, làm bọn con trai chết lên chết xuống… là chuyện hiển nhiên. Nhưng do một sắp đặt bậy bạ của đấng vô hình nào đó, Nguyễn thị Huyền lên xe hoa với một kẻ xa lạ, nếu còn nhật báo, giở mục Từ Thành Đến Tỉnh ra, hẳn bạn sẽ đọc hàng chữ: “từ chết tới bị thương đếm không xuể”. Tôi là một trong số những “thương binh” đang lây lất sống sau ngày Huyền theo chồng vào nam. Tôi chưa bao giờ viết thư cho Huyền vì mặc cảm tự biết phận mình không văn hay chữ tốt bằng cô bạn học cũ. Tôi ôn lại hình ảnh cùng điệu bộ Huyền, cái môi chu, cái lưỡi lè ra và chuỗi cười sảng khoái: Tau đi lối ni có hoa có bướm… Không, Huyền ạ, mình không là đứa ác khẩu nhưng mình linh cảm có khi Huyền sẽ bị ma qủi chận đường.

3.

Do thời cuộc, do hoàn cảnh, do sinh kế hoặc do định mệnh, tôi vào Sài gòn đầu tắt mặt tối làm đủ bảy nghề, ngoại ngữ gọi là Thất Nghiệp. Tôi lao đao và hư hao. Tôi ốm o và tôi gầy mòn. Tôi xấc bấc và tôi xang bang. Tôi ngác ngơ và tôi lạc hồn. Tôi linh tinh rắc rối luộm thuộm lạc đề cà năm trời thì một bữa đụng đầu Huyền ngay chợ Bến Thành. Bạn có tin tình yêu được khởi đi từ một ánh mắt? Tôi không tin. Nhưng tôi tin có thần Thiên lôi vác búa làm nên sét đánh ngang mày. Tôi choáng váng ở phút giây tao phùng hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Tai tôi lùng bùng, thị tại môn tiền náo có khi được giải thích sai lạc, ngay ở chợ Bến thành âm thanh vỡ bờ đến thế mà tuyệt đối nó không chui được vào thính giác tôi. Tất cả những nhiễu loạn của các nguồn sóng xô bồ vây quanh đều bị chận đứng lại bởi sự xuất hiện thần kỳ của Huyền. Cái loa phóng thanh treo ờ góc chợ lải nhải những chuyện xằng bậy phải nghẻo đầu tắt tiếng. Nó nhường lời cho Nguyễn thị Huyền: Ủa, vô đây khi mô? Chỉ năm chữ, chỉ một câu hỏi tầm thường. Vẫn là giọng nói nhỏ nhẹ, gần như thỏ thẻ; nhưng nó dịu dàng chui vào tai tôi rất rõ tiếng. Tôi đứng như hình dáng núi vọng thê, nghĩa là cứng đờ chẳng tin vào hiện thực. Tôi ngác ngơ như đứa trôi sông lạc chợ lâu ngày một hôm về chốn xưa để phải bàng hoàng bởi những đổi thay, tàn phá kỉ niệm. Huyền tựa một báu vật đã bị đánh tráo, đã bị phủ dụ bằng thứ sơn son thếp vàng giả mạo. Vẻ đẹp nức lòng ngày cũ bỏ trốn đi đâu? Huyền mời tôi đi ăn cơm bụi, dắt lắc léo vào sâu trong chợ. Huyền dùng từ mới lạ: Để Huyền bồi dưỡng cho, ngó gầy quá! Bây giờ thì tóc Huyền để dài, dài như một hồi ức rối rắm khó đi hết đường. Những trang đời giỡ lật nhưng tựu trung nó chẳng soi sáng được điều gì và có vẻ như nó làm tăng thêm sự bí ần luôn hiện diện. Tôi đưa ra nhiều câu hỏi, Huyền nói không dấu che, chẳng bối rối. Huyền li dị đã lâu, lí do: Ông chồng ấy rất mực hoang đàng, ổng có mèo. Huyền chấm câu. Nữa, lại là mèo! Mèo, con vật ấy gần như tượng trưng cho những điều bất chính. Có bồ nhí sao không gọi là tôm cá cua nai bầu gà, thiếu gì thứ, mà kêu là mèo. Nghĩ không ra! Mi đi lối nớ có ma qủi chận đường. Không riêng tôi, chúng ta đều gặp hoạn nạn, phải không Huyền? Và bằng sự chống đối trong tuyệt vọng, chúng ta phải tự mình xoay xở lấy, cố tìm cho ra hoàng đạo.

Ăn uống no say, tự do độc lập hạnh phúc xong, tôi phải va đầu vào thực tại: Sự chia lìa. Huyền không cho biết địa chỉ thường trú. Huyền nói một câu tối nghĩa: Chẳng ai lường được chuyện ngày mai. Hãy buông thả. Huyền gọi một chiếc xe ôm, leo lên ngồi ở chỗ trống còn lại. Tôi ngửi mùi khói xăng. Huyền trao cho tôi một phong thư, dặn dò lát nữa hẳn mở. Huyền nói với ông già luôn vặn tay ga: Bác cứ cho xe chạy đi, tôi sẽ nói địa điểm sau. Như vậy, Huyền chẳng cần mặc cả tiền cuốc xe. Thây kệ! Tôi ngó cái dáng ngồi hư hao của Huyền đang bị bụi đường nuốt trôi. Nắng, khói xe hay bởi điều gì làm mắt tôi cay. Tôi cúi đầu mở phong bì. Một xấp tiền với nhiều con số: 10.000, 20.000. 50.000… Và vuông giấy nhỏ. Nét chữ mềm mại: “Huyền đang là cô con dâu của một gia đình người Đài-loan. Huyền sắp lưu lạc. Tiền này không biết cách xài, bạn tiêu phung phí giùm mình hỉ. Thương nhớ. Nguyễn thị Huyền.”

Tôi lội bộ ra tuốt bờ sông . Sóng nước ở đó luôn cau có và chúng làm tôi chóng mặt dật dờ. Ngó mông lung, tôi không tài nào biết được hướng mô chôn chặt vùng đất mang tên Taiwan. Tôi thầm gọi tên Huyền, nhẫm gọi như lần kêu mẹ ơi mẹ ơi khi bà bị hạ huyệt ở buổi tiễn đưa đơn sơ và buồn đau.

Năm ấy là năm Mão, lòng người tao loạn đầy nghi kỵ, bội bạc. Gió về đêm buốt lạnh, cây đứng dáng mặc niệm và hoa lá chưa đâm chồi kết nụ dù Xuân đang về.

Hồ Đình Nghiêm

2011

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.