Phạm Viết Đào kể “chuyện thâm cung bí sử(CS) xưa

Dao Pham Viet

  · 

“BẰNG MẶT KHÔNG BẰNG LÒNG” CÚA CÁI MỐI QUAN HỆ “ LƯU-QUAN-TRƯƠNG”- TRƯỜNG CHINH-LÊ DUẨN VÀ HỒ CHÍ MINH

( Phần 1)

Phạm Viết Đào.

Trong các lãnh tụ của Đảng CS Việt Nam, Trường Chinh là người có tác phẩm được đưa vào giá trình dạy được coi là nền tảng lý luận của Đảng, đó là tác phẩm “Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hóa Việt Nam” được soạn từ năm 1943…Đây là tác phẩm lý luận đầu tiên nêu những nhiệm vụ chiến lược của cộng sản Việt Nam:

1. Phạm vi vấn đề: Vǎn hoá bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật.

2. Quan hệ giữa vǎn hoá và kinh tế, chính trị: nền tảng kinh tế của một xã hội và chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn bộ vǎn hoá của xã hội kia (hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc).

3. Thái độ Đảng Cộng sản Đông Dương đối với vấn đề vǎn hoá:

a) Mặt trận vǎn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, vǎn hoá) ở đó người cộng sản phải hoạt động.

b) Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng vǎn hoá nữa.

c) Có lãnh đạo được phong trào vǎn hoá, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả.

Trước tác phẩm “Đề cương văn hóa…”, ông và Võ Nguyên Giáp với 2 bút danh Quan Ninh và Vân Đình đã cùng viết chung cuốn “Vấn đề dân cày” xuất bản vào năm 1938… Đây là tác phẩm going lên như một tiếng trống, với cương lĩnh đã là “ dân cày thì phải có ruộng” nhằm kêu gọi nông dân Việt Nam, thời điểm đó phải coi là gần 90% hãy ủng hộ Đảng Cộng sản đứng lên làm cách mạng, lật đổ ách thuộc địa của thực dân Pháp…

Đây là cuốn sách cụ thể hóa cương lĩnh của Luận cương cách mạng điền thổ do TBT Trần Phú đặt ra từ tháng 10/ 1930; Cuốn sách “Vấn đề dân cày” đánh động dư luận để tập hợp, lôi kéo nông dân chuẩn bị cho cuộc nổi dậy cách mạng tháng 8…

Sau cuốn sách này, tại Hội nghị TW lần thứ 8/1941 Trường Chinh được bầu làm TBT Đảng CS Việt Nam…(Thực ra sau này sau này Lê Duẩn có đưa vấn đề này ra để “ đì “ Trường Chinh; ngọn cờ Tổng Bí thư rơi vào tay Trường Chinh do 4 ông thường vụ thì 3 ông bị Pháp bắt giam còn Trường Chinh thoát. Theo Vũ Thư Hiên thì sở dĩ Trường Chinh thoát không bị bắt do nhát và nằm im hoạt động nên thoát…)

Với đội ngũ hơn 5000 đảng viên trong cả nước, nhân cơ hội phátxit Nhật đầu hàng Đồng Minh, thực dân Pháp thì đã hàng Nhật nên Mặt trận Việt Minh với hạt nhân là những đảng viên CS đã phát động quần chúng nổi lên cướp chính quyền tháng 8/1945…

Những bi kịch của Trường Chinh bắt đầu hình thành sau cách mạng tháng 8 khi ông Hồ Chí Minh từ hải ngoại về nhận vai trò lãnh đạo tối cao. Ông Hồ Chí Minh nắm được ngọn cờ vì ông có uy trước đó và các cán bộ CS trong nước hy vọng dựa vào ông Hồ, tức là dựa vào lực lượng CS quốc tế đứng đầu là Liên Xô đang ở vào cái thế đi lên…

Đây là giai đoạn mà trong đội ngũ Việt Minh xảy ra xung đột giữa 2 nhóm với 2 đường lối khác nhau:

1/ Nhóm Việt Bắc do ông Hồ Chí Minh cầm đầu đứng trước thế lực hung hãn của các thế lực đế quốc và sự non trẻ của chính quyền Việt Minh vừa thành lập chủ trương hòa hoãn, tìm cách thỏa hiệp với Mỹ và Pháp… Thiết lập một nhà nước Việt Nam trong khuôn khổ Liên hợp Pháp để tránh một cuộc chiến tranh…

2/ Nhóm cách mạng nội địa do những đồng chí của Trường Chinh chủ trương phải quyết chiến đến cùng với thực dân Pháp; Đường lối Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi là đường lối của nhóm cách mạng nội địa do Trường Chinh đứng đầu…

Chính quyền Việt Minh thành lập sau 2/9/1945, ông Hồ Chí Minh danh nghĩa được suy tôn là lãnh tụ tối cao nhưng thực ra bộ sậu, quân quyền, chân tay bên dưới đều là đồng chí của Trường Chinh, những người từng vào tù ra tội trong các nhà tù Pháp; Căm thù thực dân Pháp đến tận xương tủy…

Chính vì 2 đường lối này nên giai đoạn đầu sau 2/9/1945 giữa Trường Chinh và Hồ Chí Minh đã có những mâu thuẫn ngấm ngầm với nhau, không phục nhau.

Để thực thi đường lối hòa hoãn, tránh một cuộc chiến tranh với thực dân Pháp, xây dựng một chính phủ Việt Nam nằm trong khối Liên hiệp Pháp, ông Hồ Chí Minh đã đưa ra chủ trương giải tán Đảng CS và ông Trường Chinh từ là Tổng Bí thứ rút xuống đảm nhận một chức danh mang tính học thuật…

Trường Chinh từ “một ngọn cờ”, một lãnh tụ đã có công phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền, ông Trường Chinh buộc phải lui vào bóng tối chính trường…

Và sau khi tờ Cờ giải phóng đình bản, do Đảng CS rút vào bí mật và tờ Sự thật được thay thế, trên tờ báo này đã xuất hiện 1 bài do Trường Chinh viết có nội dung ám chỉ, chỉ trích ông Hồ Chí Minh; Do bài báo này mà trong năm 1946 ông Hồ Chí Minh đã nhiều lần phải đứng ra công khai thanh minh: “Hồ Chí Minh không phải là kẻ bán nước”…

Một đợt sóng ngầm thứ 2 đó là sau việc Hồ Chí Minh đã ký Tạm ước 14/9/1946 với Chính phủ Pháp, mở đường cho quân đội Pháp ra miền bắc thay thế vai trò của quân đội Quốc dân Đảng…

Bản hiệp ước này thực chất là một cuộc đổi chác giữa “3 nhà buôn chính trị lớn”: Với Tạm ước 14/9/1946 này, Chính phủ Hồ Chí Minh đã đuổi được tay chân của Quốc dân Đảng trong Chính phủ Việt Minh; đuổi được quân Tưởng ô hợp ra khỏi miền bắc nhưng lại phái đối đầu với quân viễn chinh Pháp thiện chiến, đang máu mê quyết giành lại thuộc địa cũ…

Còn quân Tưởng chịu nhượng bộ Chính phủ Pháp để đổi lại một số quyền lợi do phía Pháp nhường cho, đó là một số tô giới của Pháp trên đất Trung Quốc và tuyến đường sắt Côn Minh-Hà Khẩu dài trên 400 km do Pháp đầu tư xây dựng theo lối BOT thời hiện đại được ký kết với triều Mãn Thanh. Tuyến đường sắt này theo ký kết Pháp được khai thác 100 năm, phải đến 2011 mới chuyển giao lại cho phía Trung Quốc…Với thỏa thuận này, từ năm 1946, tuyến đường sắt này đã thuộc về Trung Hoa dân quốc và sau 1949 trở thành tài sản của Trung Quốc cộng sản của Mao…

Mặc dù 3 chính phủ đã ký kết, đổi chác với nhau nhưng khi quân Pháp vào Hải Phòng đã xảy ra xung đột với với quân Tưởng…

Còn tại Hà Nội, quân Tưởng vẫn lần lữa không chịu rút quân. Trước tình hình đó, ông Hồ Chí Minh đành phải cắn răng đem 20 kg vàng đến hối lộ cho Lư Hán. Cuộc hối lộ này ông Hồ Chí Minh chỉ bàn bạc với ông Phạm Văn Đồng, thời điểm đó được ông Hồ tin cậy giao cho làm Bộ trưởng Bộ tài chính, tay hòm chìa khóa và cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng xách vàng đến cống cho Lư Hán để hắn chịu rút quân…

Sở dĩ ông Hồ tin ông Phạm Văn Đồng thì theo một bạn học của tôi hồi ở Romania, anh Chu Trung Can, là em của giáo sư Chu Hảo, là con của ông Chu Đình Xương, là người cầm ô che cho ông Hồ Chí Minh trên lễ đài hôm đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình.

Theo anh Can thì bố anh kể: hồi ở Quảng Châu, nhiều thanh niên cách mạng đồng chí hội sang đó học làm cách mạng, do xa nhà nên cuối tuần hay xin tiền ông Hồ Chí Minh đi em út. Hồi đó máu nhất là ông Hoàng Quốc Việt; còn ngoan hiền, chỉnh chu nhất là ông Phạm Văn Đồng. Vì vậy nên Chính phủ đầu tiên ông Đồng được ông Hồ giao cho làm Bộ trưởng Bộ tài chính…Còn ông Hoàng Quốc Việt sau này chỉ được giao Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc…

Một nhân chứng kể lại tình tiết thú vị này: Khi 2 ông già Hồ Chí Minh và Huỳnh Thúc Kháng lệ mệ khiêng 20 kg vàng đến tư dinh Lư Hán, hắn không chịu mở cửa tiếp ngay mà bắt 2 cụ ngồi chờ gần 2 tiếng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng căm lắm; dậm chân vỡ cả gạch thốt ra với cụ Hồ: Thế này thì nhục quá cụ ạ ?

Ông Hồ Chí Minh đã phải an ủi cụ Huỳnh Thúc Kháng chịu nhẫn nhục vì đại sự quốc gia. Khi Lư Hán mở cửa mời 2 ông vào, ông Hồ đã quắc mắt với Lư Hán: Các ngài đòi gạo nhưng Việt Minh chúng tôi không còn gạo; Hàng tuần bản thân tôi cũng còn phải nhịn mấy bữa đây nay…Ông Hồ biết nếu không cấp gạo thì quân Tưởng mới chịu rút nhanh.

Khi thấy Lư Hán sa sầm mặt, ông Hồ mới chìa ra bao tải vàng: chúng tôi có cài này giành riêng cho ngài…

Xong việc về, ông Trường Chinh đã tỏ ý không bằng lòng: Sao hai cụ không cho Đảng biết việc này; Đây là số vàng gon trong tuần lễ vàng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng lấy thế người già đã phải mắng át Trường Chinh: Các anh biết một mà không biết hai. Cho Đảng biết thì làm sao Lư Hán nó dám nhận…Quân Tưởng không rút thì đã chắc gì mạng sống của anh và tôi còn…

Sở dĩ ông Hồ đưa cụ Huỳnh đi cùng để mang vàng cho Lư Hán để tránh tiếng thị phi, tui túi vì Cụ Huỳnh Thúc Kháng thời điểm đó uy tín rất cao, được nhiều người tin…

Chuyện Việt Minh mang vàng hối lộ cho Lư Hán được nhà sử học Trần Trọng Kim ghi chép trong cuốn “ Việt Nam sử lược”…

( Còn nữa…)

MỐI QUAN HỆ ” BẰNG MẶT KHÔNG BẰNG LÒNG ” GIỮA LÊ DUẨN-TRƯỜNG CHINH VÀ HỒ CHÍ MINH ( Phần 6)

Đưa Lê Duẩn nắm ngọn cờ đầu

Đôn Chí Thanh thúc đẩy giang sơn nhất thống…

Lại nói, việc ông Hồ Chí Minh bố trí để Tướng Giáp đi Bắc Kinh để xin “chiếu chỉ” phê chuẩn của Mao là một đòn “ khí công ” ( đòn gió) để vỗ về Tướng Võ Nguyên Giáp, khi Giáp đang ở đỉnh cao danh tiếng để chuẩn bị sắp xếp nhân sự cho ekip mới, chuẩn bị ván cờ thế sự mới…

Tại sao ông Hồ sớm xếp góc ekip “ Trường Chinh-Võ Nguyên Giáp” đang ở đỉnh cao danh tiếng để thiết kế một bộ máy nhân sự mới nhắm thực hiện nhiệm vụ do ông đặt ra “ thống nhất đất nước”. Ông Hồ Chí Minh mong muốn đi vào lịch sử, muốn trở thành “ ông vua” thống nhất sơn hà xã tắc…Điều này ông đặt niềm tin, trông cậy vào “ thê đội 2” đó là ekip Lê Duẩn-Nguyễn Chí Thanh?

Đây là vấn đề thuộc về lịch sử mà ít nhà nghiên cứu cất công nghiên cứu và tìm thìa khóa giải mã được bài toán này của ông Hồ. Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng Điện Biên Phủ; kết cục về đất đai chính phủ Hồ Chí Minh đã nắm được 2/3 đất đai, quân Pháp chỉ nắm được những thành phố lớn, đồng bằng Bắc Bộ. Thắng lợi này là thắng lợi của đường lối do Trường Chinh đặt ra như Tướng Giáp thừa nhận và người đứng ra làm tiền bộ tiên phong là Tướng Giáp…

Phải chăng, do ông Hồ phát hiện ra ở Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp bắt đầu xuất hiện tâm lý thúc thủ, cầu an, hưởng thụ thành quả hơn là sự hăng say với ý chí và sự nghiệp thống nhất đất nước mà một người nuôi ý chí vương quyền mãnh liệt như ông Hồ đang nung nấu. Phải chăng, việc ông Hồ đặt hy vọng niềm tin vào “ thê đội 2” Lê Duẩn-Nguyễn Chí Thanh do ông phát hiện ra tố chất gì đặc biệt mà ông hy vọng, gửi gắm niềm tin vào ekip này?

Về Nguyễn Chí Thanh, theo nhiều nguồn tin mà người viết thu thập được thì về huyết thống, Nguyễn Chí Thanh gọi Hồ Chí Minh bằng chú; Nguyễn Chí Thanh, ( Nguyễn Vịnh) là con riêng của cụ Nguyễn Sinh Khiêm, anh của ông Hồ Chí Minh. Nếu nhìn từ góc độ huyết thống, thì khả năng ông Hồ đôn con bài Nguyễn Chí Thanh để kế thừa tiếp nối Hồ Chí Minh giữ gìn ngôi báu cho dòng họ Hồ như chính ông Hồ tự đặt tên. Hồ Chí Minh, nói lái theo kiểu người Nghệ: Chính Mi là Hồ…là con cháu họ Hồ. Về việc này sẽ viết chi tiết ở phần sau…

Vậy thì Lê Duẩn là ai mà được ông Hồ Chí Minh chọn làm lá cờ đầu, thay thế Trường Chinh để chuẩn bị bước qua giai đoạn khốc liệt chuẩn bị một cuộc chiến đương đấu với đế quốc Mỹ; thế lực đế quốc hùng mạnh nhất từ sau thế chiến thứ hai cho đến nay.

Lê Duẩn sinh năm 1907, ông sinh ra vào thời gian mà Lê Hoan được lệnh về Huế làm Thượng thư bộ Binh kiêm Đô sát viện Hữu đô ngự sử năm 1905. Về nhân vật lịch sử Lê Hoan WikiPedia viết:” Ông sinh năm Bính Thìn (1856) tại làng Mọc, xã Nhân Mục, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông; nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Thân thế ông không rõ, chỉ biết thời trẻ Lê Hoan đi lính triều Nguyễn đóng ở Sơn Tây. Khi quân Pháp xâm chiếm Bắc Kỳ, ông phối hợp với Quân cờ đen đánh Pháp. Sau vì phạm quân lệnh bị khép án tử hình, nhưng được giảm án.

Năm 1886, dưới triều vua Đồng Khánh thân Pháp, Lê Hoan quy thuận Pháp, nên được bổ làm thông phán ở Lạng Sơn, rồi Hưng Yên.

Sau đó ông thăng tiến rất nhanh. Dưới triều vua Thành Thái, năm 1892, ông được thăng chức Bố chính Sơn Tây, rồi lần lượt trải các chức: Tuần phủ Hưng Hóa kiêm Tiễu phủ sứ Tam Tuyên (gồm các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang), Tổng đốc Bắc Ninh. Năm 1896, Lê Hoan bị cách chức Tổng đốc Bắc Ninh vì để hai người Pháp bị giết và về tội ăn hối lộ[1]. Người Pháp nghi ngờ ông làm gián điệp hai mang, vừa cộng tác với Pháp vừa kín đáo ủng hộ các hoạt động chống Pháp, tuy nhiên họ không thể công khai chuyện này vì ảnh hưởng đến công cuộc cai trị của người Pháp.[2]

Năm 1905, Lê Hoan được lệnh về Huế làm Thượng thư bộ Binh kiêm Đô sát viện Hữu đô ngự sử.

Dưới triều nhà vua yêu nước Duy Tân ông vẫn tiếp tục được trọng dụng, năm 1909, ông là Tổng đốc Hải Dương, được phong Khâm sai đi tiễu trừ Đề Thám với 400 lính. Theo giáo sư sử học Trần Huy Liệu, khoảng năm 1909 (dưới triều vua Duy Tân), để đối phó lại các cuộc tấn công theo lối du kích của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, Lê Hoan (lúc bấy giờ đang làm Khâm sai đại thần Bắc Kỳ) đã cùng với quân đội Pháp ra sức khủng bố nhân dân, cắt đứt mối liên hệ giữa nhân dân với nghĩa quân và tìm cách bao vây nghĩa quân. Trước sự dồn ép ấy, nghĩa quân từ chỗ lưu động, phải rút lên lập cứ điểm tại vùng núi Lang, tả ngạn sông Thanh Giang. Rồi một cuộc ác chiến đã diễn ra tại núi Lang vào ngày 5 tháng 10 năm 1909, đã làm một phần lớn nghĩa quân bị tan vỡ. Từ đó, nghĩa quân Yên Thế chỉ còn một số nhỏ, và không đóng ở một vị trí nào…[3]

Cuối năm đó, ông bị người Pháp kết án về tội bí mật thương lượng, lấy lòng Đề Thám. Hội đồng điều tra sau đó kết luận là Lê Hoan vô tội, nhưng ông vẫn bị thực dân Pháp gạt ra[4]”.

Sở dì chúng giới thiệu về Lê Hoan vì nhiều nguồn tin cho rằng Lê Duẩn là con riêng của Binh bộ thượng thư Lê Hoan thời gian ông được triều đình Huế trọng dụng và là một võ tướng quyền biến không chỉ biết vâng dạ thực dân Pháp…

Ông Hồ Chí Minh sinh năm 1891, thời gian Lê Hoan về đảm trách Binh bộ Thượng thư tại Huế 1905 là lúc ông Hồ Chí Minh đã ở Huế, ở tuổi 14-15 và cụ Nguyễn Sinh Sắc đã ra làm quan nên chắc chắn biết rõ Lê Hoan là ai?

Lê Duẩn sinh năm 1907, có chân trong thường vụ Đảng CS Đông Đương giai đoạn 1937-1939, ông sinh ra tại Quảng Trị; Năm 1939, ông được bầu vào Ban thường vụ Trung ương Đảng. Cuối năm 1939, tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6; Năm 1940 ông bị thực dân Pháp bắt và kết án 10 năm tù…

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, Lê Duẩn dường như không có công trạng gì đặc biệt; tháng 9/1945 ông mới được cứu từ Côn Đảo về. Sau một thời gian ra Việt Bắc, ông quay lại Nam Bộ và nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống …

Để hiểu thêm về con người và sự nghiệp của Lê Duẩn trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, cần phải thông tin thêm về quan hệ của ông với Lê Đức Thọ là Tướng Nguyễn Bình, bạn chiến đấu với ông giai đoạn này…

Vào năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển từ giai đoạn phòng ngự sang giai đoạn phản công, tại chiến khu Việt Bắc ông Hồ Chí Minh đã quyết định điều 2 người vào giúp Lê Duẩn đó là Lê Đức Thọ và Trung tướng Nguyễn Bình…Đưa 2 đầu lĩnh này vào để mục đích phân lửa ra các chiến trường, thúc đẩy cuộc kháng chiến ở Nam Bộ…

Người chủ trương đưa Lê Đức Thọ vào giúp Lê Duẩn là Trường Chinh, một người cùng quê Nam Định với Lê Đức Thọ. Sở dĩ Trường Chinh chủ trương đưa Lê Đức Thọ vào Nam vì Trường Chinh sớm nhận ra Lê Đức Thọ cũng là một “đầu lĩnh” ghê gớm, một kẻ đang ôm ấp mộng mưu bá đồ vương…

Nên nhớ trong Bộ Chính Trị Lê Đức Thọ được duy danh, có thể ông tự nhận là Sáu, ( Sáu Búa), sau Trường Chinh, vị trí anh Năm; Lê Duẩn thứ ba…

Lê Đức Thọ là người biết làm thơ, ông đã xuất bản thơ ký tên là Trung Thành. Thế nhưng trong cuộc đời hoạt động chính trị, từ Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…đều đã viết nhiều bài ca ngợi ông Hồ Chí Minh nhưng riêng Lê Đức Thọ thì không hề viết một bài nào. Đã có lần tôi trò chuyện với một biên tập viên của Nhà xuất bản chính trị Quốc gia ( Sự thật), anh bạn này cho biết: Khi làm sách về Lê Đức Thọ là khó khăn nhất vì tất cả các tài liệu cá nhân đều bị ông này hủy đốt. Trước khi mất, tại tư gia ông cho đốt hai ngày đêm những tư liệu cá nhân… Lê Đức Thọ vẫn được mệnh danh là Beria, Khang Sinh của Việt Nam.Sau này, Lê Đức Thọ được coi là Công trình sư dựng nên vụ án xét lại chống Đảng. Về vụ án này, WikiPedia viết:

“Vụ án Xét lại Chống Đảng có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”[1] mang mã số X77[2] là một vụ án chính trị do Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn trực tiếp chỉ đạo đưa đến việc bắt giam không xét xử nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao động Việt Nam và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1967 với cáo buộc những người này đi theo Chủ nghĩa Xét lại và làm gián điệp, sau đó từ năm 1973 lần lượt thả ra…

Vụ án này được phương Tây cho là bắt nguồn từ cuộc tranh chấp về đường lối chính trị trong nội bộ Đảng Lao động Việt Nam và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một bên là Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, bên kia là Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp. Hồ Chí Minh lúc đầu không ủng hộ phe nào cả nhưng sau chấp nhận đường lối của Lê Duẩn, mở đầu cho các cuộc bắt giữ năm 1963.[3] Theo Trần Đĩnh, nhóm ủng hộ Lê Duẩn còn có Tố Hữu, Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng.[4]

Vụ án xét lại chống Đảng hiện vẫn đang là một nghi án chưa có lời giải minh bạch; Có ý kiến cho rằng: Dựng lên vụ án này Lê Đức Thọ nhằm củng cố phe cánh của của mình và để răng đe các đối thru chính trị tạo thế và củng cố quyền lực cho Lê Duẩn. Những người bị xếp vào phe xét lại như Dươnh Bạch Mai, Bùi Công Trừng, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Nguyễn Trọng Vĩnh, Vũ Đinh Huỳnh, Lê Trọng Nghĩa đều là những đối thủ chính trị nặng ký, có vai vế trong Đảng. Theo Vũ Thư Hiên thì nguyên nhân một số người bị khép vào nhóm xét lại chống Đảng phần lớn là những tù từng bị giam ở nhà tù Sơn La, bạn tù với Lê Đức Thọ trong đó có Vũ Đình Huỳnh. Sở dĩ Lê Đức Thọ trù diệt những bạn tù này là miếng võ ” giết gà dọa khỉ. Hồi đó, Lê Đức Thọ được lòng cai ngục nên được xếp chân tự giác trong tủ. Những tù tự giác là những tù có điều kiện giao tiếp với cai ngục, hàng ngày ra khỏi lao để tiếp các nhu yếu phẩm cho tù. Theo cụ Võ Đình Huỳnh kể cho Vũ Thư Hiên thì không hiểu vì sao một số nghị quyết bí mật của tù nhân lại bị rò rỉ thồn tin và cai ngục nắm được. Mọi người nghi cho Lê Đức Thọ tiết lộ thông tin này. Phải chằng vì lý đó đó mà sau này Lê Đức Thọ ra đòn ” dằn măt” trước các bạn tù theo phương châm của Tào Tháo: thà ta phụ người chớ để người phụ ta….

Để hiểu rõ nguồn cơn của vụ án xét lại này và vai trò của Lê Đức Thọ một thời gian dài núp bóng Lê Duẩn khuynh loạt chính trường Việt, chúng ta phải lần dở lại giai đoạn lịch sử của những năm sau 1945, phải kể từ năm 1947 khi Lê Đức Thọ được Hồ Chí Minh-Trường Chính biệt phái Lê Đức Thọ vào nam trợ thủ cho Lê Duẩn…

Nghiên cứu thêm giai đoạn này cũng là để hiểu rõ vì sao ông Hồ Chí Minh chọn Lê Duẩn làm Bí thứ thứ nhất và duyên nợ giữa Lê Duần và Lê Đức Thọ bắt nguốn từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp….

P.V.Đ

( Còn nữa….)

Ảnh 1: Hồ Chí Minh, Nguyễn Chí Thanh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng

Ảnh 2: Binh bộ Thượng thư thời vua Khải Định Lê Hoan, người được coi là bố Lê Duẩn(??)

Ảnh 3: Lê Duẩn thời trẻ khuôn mặt hao hao Lê Hoan….

Ảnh 4: Lê Đức Thọ người được coi là Beria, Khang Sinh của Việt Nam

“BẰNG MẶT KHÔNG BẰNG LÒNG” TRONG MỐI QUAN HỆ – TRƯỜNG CHINH-LÊ DUẨN VÀ HỒ CHÍ MINH…

( Phần 3)

Phạm Viết Đào.

Bài liên quan:

>MỐI QUAN HỆ “BẰNG MẶT KHÔNG BẰNG LÒNG” GIỮA TRƯỜNG CHINH-LÊ DUẨN VÀ HỒ CHÍ MINH…( Phần 1)

Khi thực dân Pháp đưa quân trở lại gây hấn, tìm cách khôi phục lại chế độ thuộc địa tại Đông Dương, trong nội bộ Đảng CS Đông Dương đã hình thành 2 khuynh hướng đối sách: Một nhóm chủ trương hòa hoãn, nhượng bộ Pháp để tránh một cuộc chiến tranh không cân sức; Phái khác chủ trương “trường ký kháng chiến, nhất định thắng lợi”, quyết chiến đến cùng với thực dân Pháp; Phái chủ chiến này do Trường Chinh đứng đầu…

Kết cục lịch sử đã diễn tiến đúng như tiên liệu, lập trình của phái chủ chiến. Thực dân Pháp đã không chịu thương lượng, không chịu xuống thang và kết cục một cuộc chiến đẫm máu kéo dài 9 năm gây tổn thất to lớn cho cả 2 dân tộc Việt-Pháp…

Chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả, sự quả cảm của sự hy sinh to lớn của hàng vạn con em nông dân yêu nước Việt Nam; họ được đường lối trường ký kháng chiến nhất định thắng lợi động viên, khích lệ, ép buộc phải xả thân vượt qua bao hy sinh, gian khổ quyết chiến đến cùng với đội quân nhà nghề, viễn chinh Pháp…

Để đạt được thắng lợi này, ngoài sự góp sức người, con em những người nông dân phải xả thân ngoài chiến trường, cả gia đình của họ ở hậu phương cũng đã phải vét đến những hạt thóc cuối cùng, đồng tiền giành giụm cuối cùng để đổ vào chiến tranh…

Còn nhớ vào giai đoạn đầu năm 1954, có một loại thuế gọi là thuế khả năng; Chính quyền địa phương đã áp thuế, buộc những gia đình khá giả phải gánh chịu một mức thuế dựa vào tài sản mà nghi họ có.

Mẹ tôi kể: gia đình ông bà ngoại tôi ở Đông Bích Trung Sơn, Đô Lương chỉ có 6 mẫu ruộng, thế nhưng phải chịu mức thuế 300 tạ thóc, hẹn trong 3 ngày phải đóng đủ, nếu không đóng phải bị tịch thu nhà. Mẹ tôi và ông bà ngoại đã phải đôn đáo chạy vay huy động khắp họ hàng để cứu ông bà ngoại không bị thu nhà…

Tôi đã lên thăm di tích lịch sử Điện Biên Phủ, tôi không khỏi ngậm ngùi trước hàng vạn nấm mồ liệt sĩ vô danh; Tại khu vực di tích Đồi A1, tên tuổi của các liệt sĩ được ghi lại và được liệt kê theo các tỉnh. Tôi thấy số liệt sĩ hy sinh ở chiến dịch này đông nhất là Nghệ An, đến Hưng Yên, Thanh Hóa…Riêng cứ điểm Đồi A 1 có 720 liệt sĩ đã hy sinh trong các trận đánh công kiên tại khu vực này.

Kết cục chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đầu tháng 5-1954 đã mang lại vinh quang cho phái chủ chiến của Trường chinh và Tướng Võ Nguyên Giáp. Sau chiến thẳng Điện Biên Phủ, uy tín của Tổng Bí thư Trường Chinh rất cao đe dọa làm lu mờ, thách thức vị trí chủ soái độc tôn của ông Hồ Chí Minh…

Sau chiến thắng này, đã xuất hiện bài hát được phổ biến rộng rãi: “Hoan hô anh Cả Trường Chinh”; Bài hát này người viết hiện chưa tìm được tác giả là ai nhưng đã được lưu hành một thời gian…

Sau Hiệp định Giơnevơ ký kết, Chính phủ Hồ Chí Minh về tiếp quản Hà Nội và miền bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra…và một biến cố kinh thiên động địa xảy ra đó là cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành đồng loạt tại nhiều tỉnh thành trong 2 năm 1955-1956…

Người nông dân sau mấy năm vật vã với thực dân Pháp ngoài chiến địa quay lại đấu tổ lẫn nhau một cách tàn khốc; nhiều địa chủ thực chất họ vẫn là những nông dân nhờ cày sâu cuốc bẫm mà có của ăn của để; nhiều người đã đóng góp cho kháng chiến cả gia tài điền sản nhưng vẫn bị quy thành địa chủ bóc lột, nhiều người bị xử bắn trong đó điển hình là bà Nguyễn Thị Năm…

Năm 1956 cải cách ruộng đất bắt đầu nổ ra tại Nghệ An, Hà Tĩnh tổ chức năm 1955, năm đó tôi vừa 5 tuổi và đã biết ít nhiều. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa quên nỗi hoảng sợ vào mỗi buổi sáng, nghe dân quân hô từ ngoài ngõ rất to, vừa hô, vừa xông vào lấy giây thừng trói cánh khuỷu thằng M. tên ông nội đưa ra đình đấu tố. Dân quân là mấy thanh niên người trong họ…

Ông nội tôi bị đẩy xuống một cái hổ sâu ngang thắt lưng và chịu sự xỉa xói đấu tổ của những nông dân khác phần lớn cũng là người trong họ.

Tài sản ông nội tôi chỉ có 2 mẫu ruộng, theo quy định mỗi khẩu bình quân mỗi khẩu trên 8 sào mới bị quy địa chủ. Gia đình ông nội tôi có 4 khẩu, tính ra chưa đủ 8 sào nhưng do có thêm nghề buôn bán chạy chợ nên cũng khá giả…Vào thời điểm đó, bố mẹ tôi đã ở riêng, nhà kế cạnh ông nội, bố tôi đang ở bộ đội nhưng gia đình bố mẹ tôi vẫn bị xếp thành phần trung nông…

Ông nội tôi bị xếp vào thành phần có nợ máu với nhân dân; mặc dù ông nội chưa hề cấm dao, cầm gậy đánh chết ai. Ông nội tôi bị một số người ghét vì sau 1945 có tham gia chính quyền cấp thôn, có một số đợt cứu tế của trên mang về, ông nội tôi tham gia việc chia và đã quyết định cắt một số phần của một số người mà ông nội tôi cho là lười nhác nên nghèo…

Từ việc này mà trở nên bị mang thù oán…Kết cục nhà cửa ruộng vườn, công cụ sản xuất, trâu bò đều bọ thu sạch…Sau cải cách được hạ xuống thành phần trung nông nhưng tài sản chỉ được trả lại 1/2 ngôi nhà đủ ở…

Trong xã của tôi có ông C. người phụ trách khoản cứu trợ này đã bị xử bắn, mặc dù không phải là địa chủ. Nguyên nhân vì chuyện chia chác quà cứu trợ của chính phủ không vừa ý nhiều người nên bị quy là phản động và bị xứ bắn.

Ông T. chủ tịch xã cũng bị xử băn vì bị quy là quốc dân đảng, nợ máu với nhân dân; Sau này cả 2 ông T. và C, đều được quy sai và được xóa an nhưng mạng thì không còn…

Ông ngoại tôi thì may mắn chị bị quy là phú nông, do đông con, bình quân chưa đến 6 sào/người; gia đình có ông cậu tham gia lực lượng công an võ trang…

1955, North Vietnam — A committee member speaks during the trial of a “bourgeois” landowner in North Vietnam, 1955. — Image by © The Dmitri Baltermants Collection/CORBIS

Có thể nói cuộc cải cách ruộng đất là một tại họa gieo xuống đầu hàng vạn người nông dân vô tội; Tai họa này con di họa hàng chục năm trời sau đó. Cải cách ruộng đất là một cuộc diệt tộc tàn khốc: đã tiêu diệt, hạ gục những người nông dân có khả năng tạo ra của cải cho xã hội, họ thật sự là những động lực thúc đẩy nông thôn phát triển… Cùng với chính sách Hợp tác xã nông nghiệp sau đó, Đảng đã nhổ tận gốc rễ những mầm mống có khả năng gieo trồng một nền nông nghiệp phát triển…

Cuộc cải cách khởi đầu và thí điểm năm 1953 giống như 1 liều doping kích thức sự xả thân của những người lính nông dân trên chiến trường kháng Pháp…Bởi năm 1953 là năm bản lề chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công năm 1954 tại chiến trường Điện Biên Phủ.

NQTW 4 khóa 12 với Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam ký ban hành tháng 11/1953 và Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 1 năm 1953 tại Hội nghị lần thứ tư của Trung ương Đảng Lao động VN với các nội dung mang đầy “tính chất doping” với những người lính là con em nông dân…

Xin trích Cương lĩnh và Nghị quyết của hội nghị này phần nói về quyền sở hữu đất đai:

” Để cải thiện đời sống của nông dân, để đẩy mạnh kháng chiến, đánh đuổi đế quốc Pháp, can thiệp Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền, hoàn toàn giải phóng dân tộc.

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, mở đường cho công thương nghiệp phát triển, lợi cho kháng chiến và kiến quốc.

Cần phải xoá bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của đế quốc ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng…”

(CƯƠNG LĨNH CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM 11/1953)

(http://dangcongsan.vn/…/index-21062015912154614.html)

“Cǎn cứ vào nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, cǎn cứ vào yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến, Hội nghị lần thứ tư của Trung ương quyết định:

Thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng: tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân…”( NQ hội nghị 4 BCHTWĐLĐVN khóa 2)…

( http://dangcongsan.vn/…/van…/doc-11014201511354246.html )

Chính những “liều doping” này đã thúc đẩy sự xả thân, liều chết của những người lính xuất thân là nông dân; Thế nhưng cũng với chính sách này áp dụng năm 1955-1956 đã làm cho Trường Chinh, từ đỉnh cao vinh quang bị mất chức TBT và hàng chục năm sau đó bị đẩy vào bóng tối chính trường…

Thảm họa cải cách ruộng đất phải chăng là do tội lỗi của Trường Chinh hay Trường Chinh cũng chỉ là kẻ giơ đầu chịu báng ?

Uẩn khúc nào sau việc Trường Chinh bị hạ bệ hay buộc phải chấp nhận từ chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam năm 1956, mặc dù trước đó đã được suy tôn là “anh Cả”?

Phải chăng Trường Chinh bị hạ bệ là kết cục tất yếu của miếng võ “nốc ao” trong cuộc đua tranh giành ngôi vị chủ soái với cao thủ võ lâm Hồ Chí Minh ?

Sẽ bàn thêm chủ đề này vào bài sau…

Phạm Viết Đào

( Còn nữa..)

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.