NGƯỜI NHẬT NHƯ TÔI HIỂU-Châu Thị Hải

NGƯỜI NHẬT NHƯ TÔI HIỂU

TS. Châu Thị Hải

Sau nhiều lần may mắn được đến với xứ sở “Mặt trời mọc” để tham gia giảng dạy chuyên đề tại Trường Đại học Tổng hợp Kobe GaKuin, hợp tác nghiên cứu dự án “Giá trị châu Á và vai trò của nó trong phát triển”, tham dự các cuộc HTKHQT trong những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, mình có nhiều trải nghiệm và cũng lắm suy tư. Thực ra, sự trăn trở này đã hình thành từ lâu trong suy nghĩ của mình ngay từ những thập niên 80 của thế kỷ trước, khi đang ở Praha, mình đã ngỡ ngàng trước sự ngưỡng mộ của người châu Âu và thế giới đối với người Nhật Bản. Nếu tính thời gian thì ở những năm 1985-86 của thế kỷ trước, nước Nhật đã thoát ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ II được 40 năm (1945-1985), cũng bằng chứng ấy thời gian người Việt Nam kết thức chiến tranh chống Mỹ cứu nước (1975-2015) . Nhưng người Nhật thoát khỏi chiến tranh trong thân phận của những kẻ thua trận, thất bại, bị cả thế giới lên án, tẩy chay. Ngược lại, người Việt Nam kết thúc chiến tranh trong tư thế ngẩng cao đầu của những người chiến thắng. Nhưng sau 40 năm kết thức chiến tranh, đất nước của những kẻ thua trận, bị cộng đồng thế giới cô lập ấy đã trở thành một đất nước có trình độ phát triển tiên tiến làm cho cả thế giới phải nghiêng mình thán phục. Cũng sau 40 năm kết thúc chiến tranh ,đất nước Việt Nam của chúng ta tuy đã có những thành tựu và những đổi thay đáng mừng, nhưng vẫn còn nằm trong cung bậc phát triển khiêm tốn. Câu hỏi đặt ra là tại sao lại có sự khác biệt này?

Hiroshima then and now

Có lẽ có nhiều yếu tố làm nên sự khác biệt giữa hai đất nước có nhiều nét tương đồng về văn hóa. Những yếu tố mang tầm chiến lược, sách lược và chiến thuật, là những lĩnh vực của các nhà hoạch định chính sách và là công việc của triều chính. Ở đây mình chỉ kể lại những việc cỏn con, mắt thấy, tai nghe mà mình cảm nhận được trong thời gian có cơ may làm việc với người Nhật.

Điều cảm nhận đầu tiên của mình là cho đến nay tuy người Nhật vẫn tích cực duy trì những nét đẹp của văn hóa truyền thống nhưng trong tính cách của họ đã xuất hiện khá rõ nét hai yếu tô Á -Âu. Vừa tinh tế, lịch lãm theo phong cách phương Tây lại vừa ân cần, chu đáo không thể chu đáo hơn theo truyền thống phương Đông đến mức nếu chúng ta chưa quen thì sẽ cho họ là khách sáo. Họ cúi rạp người chào khách, bất kể người khách đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội, không kể giàu sang hay nghèo hèn. Mà không phải chào một lần đâu nhé, họ chào rất nhiều lần. Ngay chỉ đối với những khách hàng đi vào cửa hàng, cửa hiệu của họ, họ cũng đứng nghiêm trang, miệng cười tươi, hai tay xuôi xuống, cúi đầu chào một cách lễ phép dù cho khách hàng đó có mua hay không mua hàng của họ. Khi khách ra khỏi cửa hiệu, họ cũng làm như vậy để tiễn khách. Những cử chỉ này người ta thường gọi là nét đẹp của văn hóa thương mại mà ngày nay chúng ta đã thấy nhiều ở những cửa hàng, siêu thị của người Nhật, người Hàn đầu tư ở Việt Nam. Nhưng cách đây 20 năm thì quả là một “hiện tượng” lạ lẫm đối với người Việt Nam như mình.

Đi trên đường hay trong cơ quan, nếu lỡ va chạm vào ai đó, họ quay lại với vẻ mặt đầy ái ngại và luôn mồm xin lỗi. Có những cử chỉ khả phổ biến mà mình thường nhìn thấy khi bước vào hay ra khỏi cầu thang máy, những người khỏe mạnh, trẻ tuổi thường đứng giữ nút điều khiển cho những người già, trẻ nhỏ bước vào hay ra hết mới đến lượt mình . Thậm chí khi giữ xong nếu cầu thang máy quá tải, người đó sẵn sáng thoái lui để nhường chỗ cho những người yếu thế hơn. Phải chăng những cử chỉ này là kết quả của cả một quá trình giáo dục về ý thức “Một người vì nhiều người” mà có. Ở Việt Nam câu khẩu hiệu “Mình vì mọi người” cũng trở thành câu khẩu hiệu nổi tiếng và ở đâu, làm gì mình cũng thấy nhắc đến thường xuyên, nhưng không hiểu vì sao ở đất nước mình ít thấy nó thể hiện trong sinh hoạt đời thường. Người Nhật quan niệm rằng: “Một người vì nhiều người” không chỉ nằm ở khẩu hiệu và không ở đâu cao xa cả, mà nó ở ngay trong các công việc thường nhật. Ví dụ ở gia đình các em giúp gì được cho cha mẹ, anh chị em, ở trường các em làm gì được cho cô giáo, cho bạn bè, làm gì để giữ cho trường, lớp sạch sẽ và làm gì cho chính bản thân mình. Vì mình tự hoàn thành nhiệm vụ của bản thân, tự hoàn thiện mình cũng có nghĩa đã là “vì mọi người” rồi. Bởi lẽ, nhiều cá nhân sẽ họp thành cộng đồng, từng cá thể hoàn thiện sẽ có một cộng đồng hoàn thiện và tất nhiên một cộng đồng hoàn thiện sẽ có một xã hội hoàn thiện.

Ngay những đứa trẻ khi mới chập chững bước đi, người Nhật cũng đã dạy cho các cháu tính tự lập và tự tin rất cao: Khi bị vấp ngã phải biết tìm cách tự mình đứng dậy, ngã ở đâu tự đứng dậy ở đó, không được “cầu viện” cha mẹ. Dạy bảo con cháu tính tự lập nhưng họ không áp đặt mà ngược lại, cha mẹ thường dùng những phương pháp mềm mỏng để cho con cái tự nhận ra cái đúng, cái sai của chính mình và tự tìm cách điều chỉnh. Có lẽ cũng nhờ đức tính tự lập và tự chủ được giáo dục từ bé này mà người Nhật đã tự gượng đứng lên sau nhiều lần vấp ngã trong chiến tranh. Đặc biệt sau thời kỳ đại bại năm 1945, đất nước Nhật không những không được sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế mà còn phải làm nghĩa vụ bồi thường chiến tranh đối với một số nước châu Á bị Nhật chiếm đóng trong thời kỳ Thế chiến thứ hai (1939-1945) thông qua hình thức viện trợ kinh tế. Thế mà họ đã tự đứng lên để trở thành một cường quốc kinh tế chỉ sau mấy mươi năm thoát khỏi chiến tranh.

Triết lý sống “Một người vì nhiều người” và ý thức “bầy đàn” của người Nhật Bản đã tạo nên đức tính KIÊN NHẪN và TỰ TRỌNG tuyệt vời. Hình ảnh chúng ta thấy trên màn hình tivi họ đứng trong im lặng, kiên nhẫn đợi chờ đến lượt mình nhận khẩu phần thực phẩm trong tai nạn sóng thần năm 2011 không phải là một hình ảnh điển hình, làm ví dụ mà nó được thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống hàng ngày. Dù có hay không có người hoặc phương tiện đang theo dõi, người Nhật cũng luôn ý thức tôn trọng những quy định của luật pháp và ít khi họ để cho lòng tự trọng của họ bị xúc phạm. Nhìn thấy cảnh người lớn, trẻ nhỏ chấp hành luật lệ giao thông, đứng chờ đèn xanh để đi qua đường trong trật tự ở những góc khuất của phố phường ngay cả khi không có người và xe cộ đi lại trên đường mà mình cứ thầm ước giá như cảnh này cũng có ở Việt Nam nhỉ? Và, cũng xuất phát từ lòng tự trọng mà ở Nhật mình chưa thấy có cảnh tượng xô đẩy, chen lấn, dẫm đạp lên nhau để được mua hàng giảm giá, ăn thức ăn miễn phí, uống bia miễn phí, nhận quà miễn phí, tranh cướp áo mưa miễn phí,… hay gần đây nhất là cảnh hỗn loạn ở công viên nước Hồ Tây, Hà Nội ngày 19 tháng tư năm 2015 vừa rồi. Những câu chuyện về lòng TỰ TRỌNG của người Nhật nếu mới nghe qua, người Việt khó có thể tin ngay được đó là sự thật. Có một vài câu chuyện mình được nghe những người bạn Nhật kể nhiều lần, lúc đầu mình cũng có chút hoài nghi nhưng sau khi tiếp xúc với người Nhật, mình tin đó là những câu chuyện có thật. Đó là câu chuyện của hai vợ chồng ở trang trại chăn nuôi gia súc khi mang gà đi nhập cho khách hàng do sơ suất không nhận biết trong đàn gà của mình có mấy con gà bị ốm do khách hàng phát hiện. Chỉ có vậy thôi mà hai ông bà ân hận, day dứt, xấu hổ và cảm thấy lòng tự trọng của mình bị tổn thương và cuối cùng chịu không được sự day dứt đó, hai ông bà đã tự tìm đến cái chết. Lòng tự trọng còn thể hiện qua câu chuyện có một người thanh niên vô gia cư khi được một số người tụ tập ở công viên chờ đón thời khắc giao thừa mời ngồi uống bia cùng, anh ta chỉ nhận lời khi được sự đồng ý của mọi người để anh ta từ tay bày biện và dọn dẹp sau khi tàn canh; có nghĩa là anh ta phải làm một việc gì đó tương xứng với giá trị vật chất mà anh ta được hưởng. Cũng có những trường hợp hiện nay ở Nhật có một số người vì do hoàn cảnh éo le nào đó khi không đủ điều kiện để sống thì họ chỉ tìm đến sự giúp đỡ của các tổ chức của Chính phủ hoặc phi Chính phủ, cùng lắm, họ tự tìm đến cái chết chứ không đi khất thực lang thang. Hóa ra là thế, lòng TỰ TRONG đã có ở hầu hết các tầng lớp dân cư của người Nhật chứ đâu chỉ có ở tầng lớp Võ sĩ đạo và tầng lớp Trung, Thượng lưu như xưa nay mình vẫn tưởng. Vì mình thấy các quan chức Nhật Bản cứ cúi rạp đầu xin lỗi bàn dân thiên hạ mỗi khi họ cảm thấy có lỗi. Thực ra, có những “lỗi” do yếu tố khách quan đem đến. Ví dụ tai nạn sóng thần, bão lũ, thiên tai đâu phải lỗi của các quan chức. Vậy mà khi tai nạn xảy ra, cuộc sống của người dân bị đe dọa, lập tức họ cảm thấy day dứt chưa làm tròn trách nhiệm với dân. Thế là họ lại cúi rạp đầu xin lỗi, rồi xin từ chức. Những cử chỉ “xin lỗi” và “từ chức” không còn là những vấn đề nặng nề mà nó đã trở thành nét đẹp văn hóa đặc trưng của xã hội Nhật Bản. Nét đẹp văn hóa đặc trưng này được nâng niu, gìn giữ và được nuôi dưỡng thường xuyên từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành. Ngay trong lứa tuổi mẫu giáo các em đã biết cúi đầu xin lỗi bạn khi tự mình nhận ra một lỗi lầm nào đó với bạn bè, chưa nói đến lứa tuổi trưởng thành hay các quan chức khi đã có ý thức nhận biết về giá trị đạo đức của lòng tự trọng. Chẳng thế mà để nhớ được tên của các quan chức Nhật Bản đâu có dễ. Vì mới thấy dân đề cử , bầu lên chưa kịp đánh vần đầy đủ tên của ông ta thì đã thấy ông ta cúi đầu xin lỗi và từ chức rồi. Một xã hội mà lòng TỰ TRỌNG đã trở thành nét đẹp văn hóa của hầu hết mọi tầng lớp dân cư thì xã hội đó theo mình nghĩ sẽ khó có cơ hội cho hiện tượng dối trá, lọc lừa, tham ô, tham nhũng xuất hiện tràn lan.

Ý thức cộng đồng tinh thần kỷ luật, tính tự trọng và tự chủ ở người Nhật đã hình thành nên “chủ nghĩa thân phận”. Có nghĩa là họ ở vào vị trí nào trong guồng máy của cơ quan, xã hội, họ sẽ làm tròn bổn phận của mình ở vị trí đó dù có hay không có ai giám sát, theo dõi. Người Nhật có tinh thần làm việc say sưa, tự giác đến mức chúng ta có cảm giác LÀM VIỆC là một nhu cầu không thể thiếu đối với họ. Mình không có điều kiện quan sát hết các ngành, các cấp trong xã hội Nhật Bản, nhưng chỉ riêng sự hoạt động của các bộ phận trong trường Đại học nơi mình đến giảng chuyên đề và tham quan một số trường khác (kể cả các trường Trung học phổ thông) mình thấy các khoa, các phòng của trường giống như các bộ phận được gắn kết với nhau bằng những mắc xích vô hình nào đó tạo ra động cơ giúp cỗ máy của trường vận hành một cách trôi chảy.

Một nguyên nhân quan trọng nữa đã đưa đến sự thành công thần kỳ của xứ sở “Mặt trời mọc” phải kể đến là họ có một nền giáo dục được hội tụ bởi những phương pháp tiên tiến của nhân loại và kế thừa những yếu tố tích cực từ cuộc cải cách giáo dục trong thời kỳ Minh Trị Thiên Hoàng (1868-1912 ) và kết quả của những lần cải cách sau đó. Nếu trước đây nền giáo dục của Nhật Bản mang màu sắc Nho Giáo là hướng tới mục đích đào tạo những trung thần: “Trung quân ái quốc” thì các lần cải cách giáo dục từ sau năm 1947 đặc biệt là các cuộc cải cách giáo dục toàn diện trong những năm 80 lại hướng đến DÂN CHỦ HÓA theo mô hình của các nước phương Tây, chủ yếu là Hà Lan ở cấp Phổ thông cơ sở; của Pháp ở Trung học phổ thông và của Mỹ ở bậc Đại học. Có thể coi đây là một cuộc cách mạng giáo dục lột xác phản tỉnh của Nhật Bản để thoát ra khỏi cái bóng của Trung Quốc. Có một Giáo sư Nhật Bản nói với mình rằng: Phương pháp giáo dục của chúng tôi chủ yếu lấy học sinh làm chủ thể, lấy sự phản biện của học sinh làm trọng điểm. Nếu như trước năm 1945, thầy giáo truyền thụ như thế nào, học sinh tiếp thư như thế ấy. Nhưng từ sau những lần cải cách “lột xác” đến nay thì phương pháp giáo dục của chúng tôi hoàn toàn khác, thầy nói con mèo này là MÀU ĐEN, học sinh vẫn có quyền cho rằng nó là MÀU TRẮNG miễn là cách lập luận của học sinh thuyết phục được chúng tôi. Mục đích của phương pháp giáo dục này là phát huy tính độc lập trong tư duy nhằm đào tạo ra những thế hệ công dân không bị đánh lừa bởi đám đông thời cuộc (hội chứng đám đông), hoặc không bị mê hoặc bởi sự tuyên truyền dối trá. Có nghĩa là “cho ra lò” các thế hệ công dân có tư duy độc lập, tự chủ, tự tin, sáng tạo, năng động trong mọi tình huống và biến cố của xã hội . Vì chúng tôi hiểu rằng nhận thức là một quá trình, mà tri thức của nhân loại thì mênh mông, không có giới hạn cuối cùng. Chúng tôi coi khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ là đòn bẩy của sự phát triển và khoa học xã hội đóng vai trò phản biện để chính sách của Chính phủ phục vụ cho phát triển được đi đúng hướng”.

Rồi như để tự thanh minh, vị GS nói tiếp: “Như chị biết đấy đã là con người , không ai là không có lầm lỗi, nhất là những lồi lầm của chúng tôi trong quá khứ đối với một số nước châu Á trong đó có Việt Nam. Chúng tôi coi những lỗi lầm đó cùng với sự thất bại trong quá khứ chiến tranh là một nỗi nhục lớn của người Nhật. Muốn thoát khỏi nỗi nhục đó không còn cách nào khác là phải tự đứng lên trên đôi chân của mình và tìm ra phương pháp tối ưu để bước đến thắng lợi”.

Nghe xong câu chuyện lan man, lộn xộn không đầu không đuôi mà mình kể trên đây, chắc chắn các bạn sẽ ồ lên rằng: À hóa ra là thế! Bây giờ thì chúng tôi đã hiểu: tại sao đất nước “Mặt trời mọc” lại trở thành một hiện tượng phát triển thần kỳ và được cả thế giới ngưỡng mộ như vậy vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX.

(Trích trong: MỘT THỜI ĐỂ NHỚ, NXBHNV, 2016).

Châu Thị Hải

May be an image of 8 people and people sitting

Bài viết cách đây 6 năm, FB nhắc lại, bức ảnh Cố Thủ tướng Shinzo ABE đang quỳ thưa chuyện với các bâc bô lão, mình mới bổ sung.

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.