Tài liệu tìm quên :nữ(BS Nha Khoa)điêu khắc gia Điềm Phùng Thị(Phùng Thị Cúc,Huế gốc Hà Tịnh)

Điềm Phùng Thị

Đặng Tiến

đôi nét về nhà điêu khắc điềm phùng thị

Điềm Phùng Thị đến với cuộc đời và nghệ thuật như bậc tài tử giai nhân. Chị là giai nhân, chị đã đi vào lời thơ Lưu Trọng Lư thời niên thiếu “Ai bảo em là giai nhân / Cho đời anh đau khổ“, chị là bậc tài tử, với “tài hoa hiển nhiên” theo lời đánh giá của André Malraux năm 1971.

Chị tên thật là Phùng Thị Cúc, Điềm là tên anh ấy. Chị quê Hà Tĩnh, làng An Tịnh nhưng sinh (1920) và lớn lên tại Huế, học tại Huế và Hà Nội. Sang Pháp từ năm 1948, chị tiếp tục học thuốc, tốt nghiệp bác sĩ y khoa rồi hành nghề tại Paris từ 1950. Mãi đến tuổi tứ thập chị mới bắt đầu học điêu khắc, nhờ danh sư Volti hướng dẫn. Chị vừa hành nghề nha sĩ, vừa làm điêu khắc và học một mình cho đến năm 1972 thì hoàn toàn bỏ nghề chữa răng để theo nghiệp nghệ thuật tạo hình. Chị sáng tác tại Fontenay Aux Roses, ngoại ô Paris hay Vallauris, miền nam nước Pháp.

Là giai nhân hay tạo nhân, là tài tử hay tài tình, chị đã bước vào âm sắc trần gian trên những gót sen vàng lãng đãng.

Non 40 tác phẩm điêu khắc lớn của chị, bằng gỗ, đá, thép, bê-tông hay hóa chất polyester đang trang trí phong cảnh nhiều địa phương nước Pháp. Từ 1966 đến nay, chị đã trưng bày hơn 20 cuộc triển lãm riêng, tại Âu châu và Việt Nam (Hà Nội và Huế, 1978, thành phố Hồ Chí Minh 1992). Tuy nhiên, tác phẩm Điềm Phùng Thị chủ yếu là điêu khắc, và điêu khắc hiện đại kén người thưởng thức, không dễ gì đi đến với quần chúng – nhất là quần chúng Việt Nam; đồng bào ta đi tìm cái đẹp, không mấy khi tìm ở nghệ thuật tạo hình. Nhưng khách sành điệu, nhất là giới phê bình nước ngoài đánh giá chị cao, và tên tuổi chị được đưa vào Từ Điển Larousse: “Nghệ Thuật thế kỷ XX: hội họa và điêu khắc (L’Art du XX Siècle: dictionnaire de peinture et de sculpture, 1992): đó là phần thưởng xứng đáng cho một phụ nữ tài hoa hy sinh cả cuộc đời cho cái đẹp.

Bản thân tôi, không chuyên về nghệ thuật tạo hình, lại không có dịp theo dõi thường xuyên công trình chị, nên chỉ có những cảm nghĩ chung chung, nhưng hứng thú trước một nghệ thuật đa diện gồm nhiều mặt tương phản, mà vẫn hài hòa. Nghệ thuật chị Điềm tân kỳ, cập nhật, phản ánh phong cảnh công nghiệp hiện đại, nhưng vẫn giữ những nét cổ kính trầm tư của phương Đông, trong phong cách đằm thắm, trang nhã, tế nhị của người phụ nữ Việt Nam. Thế giới Điềm Phùng Thị mới mẻ nhưng không lạ lẫm, đứng cụ thể sừng sững trước mắt mà lại trầm lắng trong tâm tư và hun hút trong tầm nhìn, trong một thứ ánh sáng “vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời”. Câu thơ Lưu Trọng Lư viết về chị cách đây sáu mươi năm còn soi sáng được nghệ thuật chị hôm nay. Nghệ thuật Điềm Phùng Thị là những cao ốc, những xa lộ nhớ nhung một vườn trăng, một bến đò tịch mịch.

Về màu sắc, chị không ngại dùng những màu nguyên chất rất dân tộc, màu lục của lá cây, màu đen của sơn mài, vàng của tơ lụa, màu đỏ tươi son thắm, “màu đỏ chót hay xanh lè, màu của những tâm hồn quê mùa chất phác… Sống mãi trong tâm hồn tôi” như lời Lưu Trọng Lư trong Chiếc Cáng Xanh. Về chất liệu, chị không có thiên kiến: từ gỗ đến đồng, nhôm; từ đất nung, gạch, đá, bê-tông đến chất liệu hóa học như polyester, plastic, chị dùng cả vàng mã, vỏ trứng. Nhờ đó mà chất nghệ thuật ngổn ngang và đa đoan như cuộc sống.

Về hình thể, điêu khắc chị Điềm, tuy đủ dạng, nói chung là đơn giản với những đường cong đường thẳng dứt khoát trong một vũ trụ được cách điệu hóa. Những hình khối kỷ hà sắc bén mềm mại vừa phản chiếu thế giới hiện đại vừa gần gũi với tranh tượng dân gian Việt Nam, Với những nét thu gọn, cách điệu, thơ ngây, thông minh và hóm hỉnh. Cũng có tác phẩm gợi không khí làng mạc Việt Nam: cảnh đồng ruộng, mẹ bồng con, những cổng chùa, những sư nữ, cảnh tụng niệm, nhập thiền, như trong tranh cổ Việt Nam, Nhật Bản hay Trung Quốc. Chị sử dụng vẻ đẹp của Hán tự, biến chữ viết thành hình thể nghệ thuật; ý không mới, nhưng cách tạo hình của chị thì hiện đại.

Nhưng Việt Nam không phải chỉ có mơ mộng. Việt Nam còn chiến đấu và đau thương. Chị Điềm, người phụ nữ mảnh dẻ sống lạc loài nhiều năm đất khách lúc nào cũng tha thiết với số phận của đất nước và “cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu” với đồng bào. Tác phẩm chị gợi lại những cảnh nhà tan cửa nát, làng mạc bị phá hủy, những chiến sĩ hành quân hay trèo non vượt núi có khi làm bằng mảnh máy bay B52; có cả kẻ thù xếp hàng làm Sen Đầm Thế Giới (1975). Điềm Phùng Thị đã chạm khắc vào gỗ đá những thương tích và những thương yêu, u hoài lẫn với ước mơ, một thoáng pha phôi từ cõi xa xôi, bám vào chất liệu gần gũi và vĩnh cửu. Nghệ thuật dịu dàng và vững chắc: chị Điềm như cây liễu của các vua Trần: mềm như liễu và bền như liễu.

Nét đặc biệt trong nghệ thuật Điềm Phùng Thị là dáng trầm tư. Có khi chị xây dựng tác phẩm trên một ý niệm trừu tượng như Im Lặng, Quân Bình, Cây Nhân Sinh.. làm chao hình thể nghiêng về cõi Đạo, cõi siêu hình. Bao nhiều đường nét thuần khiết được kỹ thuật đoản khúc (mođun, module) yểm trợ bỗng vươn lên, và thoáng rộng. Khoa học nhích lại gần thần học, nghệ thuật luyện kim trong bàn tay phù thủy của màu sắc trở thành kỹ thuật chính xác trong khoa học thực nghiệm. Đường nét, màu sắc nhập cuộc vào “Vũ Khúc Vòng Mây” (La Ronde des Nuager) (1979).

Cuối cùng, tưởng nên nói thêm về quan niệm nghệ thuật “môđun”: đây là một khái niệm khoa học, bắt nguồn từ toán, vật lý, áp dụng vào kiến trúc. Một “môđun” hay đoản khúc, là một đơn vị chuẩn, một thành tố có thể di chuyển, hoán vị. Trong tác phẩm điêu khắc của Điềm Phùng Thị, có những thành tố cố định, và có nhiều thành tố lưu động luân chuyển chung quanh; mỗi lần hoán vị như thế, ta lại có một tác phẩm mới. Kỹ thuật hoán vị này người Pháp gọi là composition modulaire (bố cục hoán vị) thích hợp với tư duy và rung cảm chị Điềm, gần với các nguyên lý âm dương, động và tĩnh chuyển hóa trong kinh Dịch. Gần hơn nữa là cách chiết tự trong chữ Hán, di chuyển một nét là thay đổi một chữ, có khi lật ngược cả nội dung của nó. Kỹ thuật “môđun” tạo ra tác phẩm hiện đại – trong thời đại thay đổi nhanh – mà vẫn gần gũi với tâm tình Đông Á. Thật ra kỹ thuật mô đun không phải do Điềm Phùng Thị phát hiện, chị cũng không cố tình lập thuyết, chị kể lại rằng khi đi học điêu khắc, nhìn thấy một số học sinh đẽo đá, làm rơi nhiều mảnh, chị góp nhặt rồi lắp ráp và dần dà tạo ra được thủ pháp. Từ những mảnh rơi, chị mài dũa thành bảy hình thể, sau này sẽ trở thành cơ bản, mà chị gọi là những “mẫu tự” trên bảng ký hiệu của chị – như những “bộ”, những nét trong Hán tự, vẫn trở đi trở lại nhưng tạo thành một văn tự, một ngôn ngữ, một thế giới tư duy đầy đủ quyền năng.

Tôi là người trân trọng chị Điềm Phùng Thị. Vì tài năng của chị, đã đành. Mà còn vì tư cách chị. Cô tiểu thư “ngồi bên song cửa“, đáng lẽ suốt đời chỉ làm “người em sầu mộng của muôn đời“. Nhưng chị hăm hở, xông xáo và sáng tạo. Người đẹp ngoại thất tuần ấy, con người mảnh dẻ ấy lấy đâu ra nghị lực để không ngừng phục vụ nghệ thuật, lẽ phải và đất nước? Trong khi bao nhiêu tu mi nam tử khác, cũng là bạn tôi, có khi chưa đến tuổi chị, đã rệu rã, gàn dở và thoái hóa quá mức! Sao vậy? Phục chị rồi thương. Bóng nhỏ đường dài làm nhớ những ca dao quê chị. Đường xa sương nặng. Sương, tiếng quê Hà Tĩnh, là gánh. Và thơ Tản Đà:

Non sông nặng một gánh tình

Trời chưa cho nghỉ thì mình cứ đi.

Chị Điềm Phùng Thị là bậc nữ lưu trí thức, tân tiến và quý phái. Nhưng, dưới mắt tôi, tác phẩm chị vẫn còn chút hương đồng cỏ nội, phảng phất vài nét phụ nữ nông thôn xưa. Tôi quí cô thôn nữ trong chị.

ĐẶNG TIẾN

(Hợp Lưu số 10, tháng 4&5, 1993)

Vài tác phẩm

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.