chuyện “tồ lô ” văn chương :Cái gì của César trả lại cho César”-Về bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư hay của Sarumaru?

Fb @Thiem Vo

Về bài thơ Tiếng thu: của Lư hay của Sarumaru?

– Nguyễn Vỹ

một lần ở tại nhà trọ của Lư phố Hàm Long tôi cười hỏi Lưu Trọng Lư:

-Lư ơi, bài thơ Tiếng thu có phải thật của cậu không?

Có Nguyễn Xuân Huy ngồi đấy, Lư “cười như nắc nẻ”:

-Thằng này mơ mộng thật! Mi tưởng bài đó của Thế Lữ à?

-Thế Lữ làm gì nổi một bài thơ như thế.

– Nhưng tao có đọc một bài thơ của một thi sĩ Nhật Bản, giống hệt bài thơ của mày, và bài thơ Nhật cũng tựa đề là Tiếng thu.

Lưu Trọng Lư ngó Xuân Huy:

– Huy, mầy thấy thằng Vỹ nó điên không?

Huy bảo tôi:

-Bài thơ Nhật như thế nào?

-Mày muốn chép, tao đọc cho chép. Đây là một bài Tanka nổi tiếng:

Oku yama ni

Momoji fumi wake

Naku shika no

Koe kiku toki zo

Aki wa kanashiki

Tác giả là Sarumaru, thế kỉ VIII.

Bài thơ này, Michel Revon có dịch ra Pháp văn trong quyển Anthologie des poètes japonais – (Ed. Hachette):

Combien triste est l’automne

Quand j’entends la voix

Du cerf qui brame

En foulant et dispersant les feuuilles des érables

Dans les profondeurs de la Montagne.

– Karl Petit, trong quyển La poésie japonaise (Ed. Seghers) lại dịch đảo ngược lại, nhưng đúng theo nguyên văn bài thơ Nhật:

Aux profondeurs de la Montagne

Ecartant et foulant les feuilles d’érable

Le cerf brame

Et à l’entendre ainsi,

Ah! que l’automne m’est lourdement triste!

Dịch đúng nghĩa ra Việt văn:

Trong núi rừng sâu

Ta nghe tiếng xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô

Ôi buồn làm sao!

Bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư!

Em không nghe mùa thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô.

Lưu Trọng Lư cãi liền:

– Bài của tao còn đoạn trên:

Hình ảnh kẻ chinh phu

Trong lòng người cô phụ.

Tôi cười:

– Cậu làm bài thơ này hồi năm nào?

– Mới đây.

– Mới đây, và mấy năm nay trong nước mình làm gì có chiến tranh, có “kẻ chinh phu” có “người cô phụ”? Tôi cho rằng cậu ghép thêm ba bốn câu đó vào bài thơ của Saramaru để tương đối đôi chút, nhưng cậu lấy trọn vẹn bản chính của Saramaru.

Lưu Trọng Lư không cãi nữa, nhưng Nguyễn Xuân Huy cười:

– Kết luận: les grands esprits se rencontrent! (Những trí óc vĩ đại thường gặp nhau!)

Lưu Trọng Lư cũng biết rằng Lư nổi tiếng là nhờ bài này, nên anh lấy tựa đề bài thơ Tiếng thu làm nhan đề cho quyển thơ của anh.

Nhân vụ này, tôi cũng cho Lưu Trọng Lư và Nguyễn Xuân Huy biết là câu thơ “Yêu là chết trong lòng một tí” của Xuân Diệu, là lấy nguyên vẹn câu của nhà văn Pháp Roland Dorgelès đề trên trang đầu quyển phóng sự hồi kí Sur la route mandarine:

Partir c’est mourir un peu

(Đi, là chết trong lòng một tí).

Chỉ đổi động từ Partir thành Yêu mà thôi.

Cũng như tất cả những truyện ngắn của Đoàn Phú Tứ trong tập truyện Những bức thư tình, đều dịch ra từ các truyện của các nhà văn Pháp: Jules Renard, Courteline, P. Benoit, Secha Guitry.

Đoàn Phú Tứ dịch hẳn ra Việt văn, chứ không phải phóng tác, hay “phỏng dịch”, mà anh ta lờ luôn “xuất xứ”, tự đề tên tác giả là Đoàn Phú Tứ?

Cũng hôm ấy, Nguyễn Xuân Huy và Lưu Trọng Lư bảo tôi viết một bài trong Hà Nội báo, phê bình tập truyện của Đoàn Phú Tứ, với câu kết luận là “trả lại César cái gì của César”. Bài đó có đăng hai trang Hà Nội báo của Lê Tràng Kiều.

Nguồn: Văn thi sĩ tiền chiến, Nguyễn Vỹ, NXB Khai Trí, 1969

LeVanQuy sưu tầm

Thu về với Tiếng thu

Trần Văn Thọ

Thứ Hai, 15/02/2021,

Tiếng thu của Lưu Trọng Lư là một trong những đỉnh cao của thi ca Việt Nam và là một kiệt tác trong văn chương Việt Nam. (??!!)

Tôi nhận mail của người bạn cùng học và sinh sống tại Tokyo từ xưa. Lâu ngày không gặp, bạn hỏi thăm và bàn về bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư. Anh bạn cho biết vừa đọc bài Sự thật về bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư do Trần Đăng Khoa viết trên Báo Sức khỏe và Đời sống và muốn trò chuyện về vấn đề này. Anh bạn chuyên về nông học, còn tôi chuyên về kinh tế học, chẳng liên quan gì đến thơ văn. Bọn tôi chỉ là những người thích đọc thơ văn tiền chiến của Việt Nam và lạm bàn cho vui thôi.

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG
Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Đọc bài viết của Trần Đăng Khoa mới biết có một số người cho rằng, bài thơ nổi tiếng Tiếng thu của Lưu Trọng Lư rất giống nội dung một bài tanka của Nhật vào cuối thế kỷ thứ 9 (tanka là một thể thơ của Nhật Bản). Theo những người này, bài thơ của Nhật đã được dịch ra tiếng Pháp nên có lẽ Lưu Trọng Lư đã đọc trước khi sáng tác bài Tiếng thu. Khởi đầu của nghi vấn này là ý kiến của Nguyễn Vỹ trong cuốn sách Văn thi sĩ tiền chiến (xuất bản lần đầu năm 1970 tại Sài Gòn). Tôi rất thích thơ văn tiền chiến và thích đọc cả nhưng mẩu chuyện chung quanh các văn nhân, thi sĩ thời ấy, nhưng đây là lần đầu tôi nghe chuyện này. Trong tủ sách của tôi cũng có cuốn Văn thi sĩ tiền chiến và chắc đã đọc phần tác giả viết về Lưu Trọng Lư nhưng không hiểu sao tôi không nhớ gì về nghi vấn này. Tôi đọc lại Tiếng thu và tìm nguyên tác bài tanka tiếng Nhật đọc thử.

Bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư (1912-1991):
Em không nghe mùa thu
dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
hình ảnh kẻ chinh phu
trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
lá thu kêu xào xạc,
con nai vàng ngơ ngác
đạp trên lá vàng khô?

Và đây là bài thơ cổ tanka, viết năm 893, được cho là của Sarumaru Dafu (không rõ năm sinh, năm mất):

奥山に(Oku yama ni)
紅葉踏み分け(Momiji fumi wake)
鳴く鹿の(Naku shika no)
こえ聞く時ぞ(Koe kiku toki zo)
秋は悲しき(Aki wa kanashiki)

Có thể dịch nghĩa như sau:

“Nghe tiếng nai kêu và đạp trên lá phong rẽ lối đi trong rừng sâu, mùa thu buồn làm sao!”

(Bài thơ được dịch ra nhiều thứ tiếng, ít nhất tôi thấy có hai bản tiếng Pháp và một bản tiếng Anh)

Ở đây có rừng thu, có con nai đạp trên lá vàng và trong bài Tiếng thu cũng có những hình ảnh này. Nhưng cảm nhận về con nai của hai thi sĩ thì khác. Lưu Trọng Lư nghe tiếng nai ngơ ngác đạp trên lá vàng, trong khi Sarumaru Dafu nghe tiếng kêu của con nai trong mùa gọi tình, vang vọng từ rừng sâu. Nguyễn Vỹ trong cuốn sách nói trên cứ khăng khăng rằng, Lưu Trọng Lư đã bắt chước bài thơ tanka của Nhật và nói như thế trước mặt tác giả cùng người bạn chung (Nguyễn Xuân Huy) tại nhà trọ của Lưu Trọng Lư ở phố Hàm Long. Cũng theo Nguyễn Vỹ, hôm đó Lưu Trọng Lư đã phản luận rằng, bài thơ của mình có phần đầu (hình ảnh kẻ chinh phu trong lòng người cô phụ) nên không thể nói là giống hoàn toàn. Tôi nghĩ tác giả Tiếng thu chỉ trả lời cho qua chuyện vì cách đặt vấn đề của Nguyễn Vỹ trong buổi gặp của 3 người bạn không có vẻ gì nghiêm túc.

Nhân dịp đọc lại Tiếng thu và tìm hiểu bài tanka của Sarumaru, tôi lại đọc được các bình luận liên quan của các nhà thơ hoặc phê bình thơ: Nguyễn Nam Trân (Tiếng thu, 4-2004), Nguyễn Quảng Tuân (Về nghi vấn chung quanh bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Tạp chí Hồn Việt, 7-10-2016), Trần Đăng Khoa (Bình thơ: Lưu Trọng Lư với bài thơ Tiếng thu, không rõ ngày phát hành) và một bài khác của Trần Đăng Khoa nói ở trên. Các tác giả giống nhau một điểm, đều cho rằng bài Tiếng thu không giống bài tanka của Nhật và là một trong những đỉnh cao của thi ca Việt Nam.

Về bối cảnh ra đời của bài Tiếng thu hình như có nhiều thuyết. Theo Trần Đăng Khoa: “Đây là bài hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại: Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non. Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và tỏa hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời”.

Theo tôi, nếu Lưu Trọng Lư đọc được bài tanka của Sarumaru (qua bản tiếng Pháp) và mượn hình ảnh “rừng thu, con nai vàng” để sáng tác thì bài thơ của ông vẫn là một kiệt tác trong văn chương Việt Nam. Trong âm nhạc hay thơ văn, người sau lấy cảm hứng từ người xưa để làm nên những tác phẩm mới có giá trị mới là chuyện thường thấy. Chẳng hạn, đọc hai câu cuối bài thơ nổi tiếng Tràng Giang của Huy Cận:

Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Ta thấy có thể Huy Cận đã chịu ảnh hưởng tứ thơ trong hai câu cuối bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
mà Tản Đà dịch rất hay:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

Nhưng không ai bảo Huy Cận đã cóp thơ của Thôi Hiệu.

Một thí dụ khác, Nguyễn Du đã mượn ý hai câu thơ của Thôi Hộ:

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
để viết ra hai câu lục bát thật hay:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

TRẦN VĂN THỌ
(Giáo sư danh dự Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản)

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.