Chuyện Kontum

Trải qua bao thăng trầm, biến đổi hơn trăm năm nay; bên dòng ĐăkBla xanh trong hiền hòa, những nét đẹp lâu đời của ông cha người Ba Na, Gia Rai vẫn được bảo tồn và trao truyền cho con cháu. Góp phần làm nên bản sắc đáng tự hào, có công lao không gì sánh bằng của các nghệ nhân dân gian- những người nhiệt thành “giữ lửa” đến mai sau.

Tái hiện một lễ hội của người Ba Na

Là một phần không thể thiếu trong kho tàng văn hóa dân gian của các dân tộc Tây Nguyên, sử thi (Hơ mon) của người Ba Na để lại dấu ấn lưu truyền, nhờ tài nghệ của các nghệ nhân tâm huyết. Có thể kể đến già A Lưu ở Kon Klor 2, già A Đăng ở Kon JơRi (xã Đăk Rơwa), già A Tik ở Kon RờBàng 1 (xã Vinh Quang)… họ xứng đáng được ghi danh là những “báu vật sống” của loại hình văn hóa đặc sắc này.

Già A Lưu kể, theo mẹ đi hát kể hơmon từ lúc 9-10 tuổi, giờ đã hơn 80 mùa rẫy, của cải vô giá của già là hàng chục bài vẫn còn trong trí nhớ, cùng với các nghệ nhân anh em, già đã góp phần lưu lại trong bộ sách giá trị do Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam ấn hành năm 2005.

Ở tuổi 85, mắt không nhìn thấy gì nữa và đi lại rất khó khăn, nhưng nhắc đến h’mon thì già A Tik ở làng Kon RờBàng1 (xã Vinh Quang) vẫn còn hào hởi. Nhân vật Đăm Giông – chàng trai anh hùng của người Ba Na, bao năm rồi vẫn sống trong từng lời hát kể. “Ngày xưa khổ quá, có được học đâu, có biết chữ đâu, chỉ biết giữ con bò thôi; nhưng hát kể chuyện Đăm Giông thì mình rành lắm đó. Ngày trước, ở Kon Rờ Bàng, không phải một mình mình biết hát biết kể. Có mấy người nữa. Bây giờ, họ mất cả rồi… Ngày xưa, mình thường theo bác A Lem đi hát kể, nay ổng cũng yếu lắm, nằm một chỗ thôi…” – Già A Tik chia sẻ.

Nghệ nhân ưu tú A Tik ở làng Kon Rờ Bàng 1 (xã Vinh Quang, TP. Kon Tum)

Cuộc sống kham khó, nhọc nhằn xưa kia đã sinh ra những người “giữ lửa” khiêm nhường, đáng quý như ông A Tik và các thế hệ nghệ nhân đi trước.

Trong dịp kỷ niệm 10 năm thành phố Kon Tum (10/4/1990 – 10/4/2019), mảnh đất bên sông tự hào chào đón 09 nghệ nhân ưu tú được Chủ tịch nước phong tặng. Trong số các nghệ nhân đầu tiên của thành phố vinh dự nhận danh hiệu cao quý này, có 03 nghệ nhân hát kể sử thi được ghi nhận ở loại hình ngữ văn dân gian.

Cũng trong số các nghệ nhân ưu tú được phong tặng đợt tháng 3/2019, ở loại hình trí thức dân gian, thành phố Kon Tum có nghệ nhân A Phor người làng Kon Klor (phường Thắng Lợi) nổi tiếng làm cây nêu truyền thống; ở loại hình  nghệ thuật trình diễn dân gian, danh hiệu ghi danh nghệ nhân A Wer (thôn Kon Rờ Bàng 1, xã Vinh Quang), nghệ nhân A Biu (làng Plei Klêch, xã Ngọc Bay), nghệ nhân Y BLưn (làng Kon Kpâng, phường Thắng Lợi)

Nghệ nhân ưu tú A Jar(giữa) ở làng Plei Đôn (P. Quang Trung, TP. Kon Tum)

Nhiều năm qua, nỗ lực cống hiến cho cộng đồng và đóng góp của già làng A Jar ở Plei Đôn (phường Quang Trung) trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đã được ghi nhận. Say sưa, tâm huyết sưu tầm, biên dịch và được xuất bản nhiều ấn phẩm về truyện cổ, dân ca, tục ngữ, trò chơi… của dân tộc BaNa, Xê Đăng, Ja Rai; song góp phần làm nên “thương hiệu” của nghệ nhân chính là tích cực tham gia Dự án “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” trong vai trò phiên âm chuyển ngữ, biên dịch các tác phẩm sử thi của người Ba Na, Xê Đăng để tập hợp, xuất bản bộ sách giá trị. Tuổi càng cao, sức khỏe ngày một giảm sút, song cho đến giờ, ông vẫn miệt mài làm việc để có thể lưu giữ thêm vốn quý sử thi của người Ba Na trong kho tàng văn hóa dân gian của các dân tộc anh em.

Với lịch sử lâu đời và bề dày truyền thống vốn có, thành phố bên sông Đăk Bla luôn tự hào, vì dường như trải qua bao biến đổi, mảnh đất và con người nơi đây vẫn hội tụ đầy đủ và đậm nét các loại hình văn hóa dân gian, từ cồng chiêng – xoang, dân ca – dân vũ, nhạc cụ dân tộc, tạc tượng gỗ, đến các loại hình kiến trúc dân tộc, các nghề thủ công truyền thống với đan lát tre nứa, làm rượu cần, dệt thổ cẩm… Tiếp bước các thế hệ nghệ nhân đi trước, ngọn lửa của ông cha sẽ mãi được nối truyền./.

Bài, ảnh: Nghĩa Hà

Thôn Kon Krốc, xã Ngọc Réo có hơn 120 hộ, phần lớn là đồng bào dân tộc Tơ Đrá (Xê Đăng). Nhà nào cũng biết làm rượu ghè, song làm rượu ghè ngon nhất và nổi tiếng hơn cả là ông Nay Bui. Rượu ghè của ông đã được xã chọn làm sản phẩm truyền thống đại diện, góp mặt trong các sản phẩm đặc trưng cùng các địa phương của huyện Đăk Hà.

Ông Nay Bui với bánh men làm rượu truyền thống

60 tuổi, ông Nay Bui đã có gần 30 năm làm rượu ghè. Ngày trước, mẹ ông là người Gia Rai làm rượu ghè không ai bì kịp ở Ia Rsiơm (huyện KrôngPa, tỉnh Gia Lai). Rượu ghè chủ yếu được làm bằng củ mì, nếp trắng, nếp than, bo bo. Nhà ông luôn có nhiều ghè to ghè nhỏ để đựng. Gần mẹ, lại hay phụ giúp mẹ những việc lặt vặt nên từ nhỏ, cậu bé Nay Bui đã “nhiễm nghề”. Năm 1980, theo vợ về làm rể làng Kon Krốc, anh công nhân cầu đường Nay Bui đã thành thạo làm rượu ghè.

Ghè ngon là ghè đượm nồng hơi men, mới nhấp đã thấy ngọt thơm, lỡ có quá chén một chút cũng không đau đầu hay mệt mỏi. Ghè ngon của gia đình ông Nay Bui được đúc kết từ kinh nghiệm làm rượu ghè của cả dân tộc Gia Rai và Xê Đăng.

Gần 30 năm qua, mỗi năm, từng làm ra bao nhiêu ghè rượu ngon cho gia đình và bà con người gần người xa, nhưng cái ngày được mang những ghè rượu do chính tay mình làm để trưng bày, giới thiệu tại lễ ra mắt các sản phẩm đặc trưng của huyện Đăk Hà, ông Nay Bui mừng vui khó tả. Ghè của ông được nhiều người nếm thử, ai cũng gật gù.Người xin số điện thoại liên lạc. Người hẹn sẽ vào tận nơi… Gặp người muốn tìm hiểu về “bí quyết” ghè ngon, ông ân cần giải thích.

Cũng như đồng bào Ba Na, Gia Rai, Giẻ Triêng anh em, rượu ghè của người Xê Đăng ngon nhất là làm bằng nếp than. Nếp than không chỉ dẻo thơm, mà còn “ngon cả con mắt” vì có màu tia tía. Để làm men rượu, lấy vỏ hai loại cây, cây Blo và cây Hiêm; giã nát, vắt lấy nước. Đem nước này trộn với bột gạo mịn, nhào cho nhuyễn; sau đó vắt thành nắm dẹp như những chiếc bánh, phơi khô. Phơi men tốt nhất khi có nắng. Gặp lúc trời thiếu nắng, lấy chiếc đũa, chọc xuyên miếng men từ bên này sang bên kia, để tiện xỏ vào dây, hoặc đoạn cây, cắm gần bếp lửa để thêm hơi ấm, tránh men bị “ ươn” không ngon không tốt.

Ông Nay Bui với bánh men làm rượu truyền thống

Cây Blo, cây Hiêm ở vùng núi Ngọc Réo khá nhiều, chỉ cần đi xa để lấy; đây là những loại cây thân gỗ, đường kính chỉ chừng chiếc ghè loại vừa, song để giữ cây, người làm men thường chỉtỉa cành, tước vỏ. Nhiều khi, còn dùng lá vắt lấy nước, với liều lượng sử dụng gia tăng hơn từ vỏ cây. Bánh men được giã nát, rây lấy bột mịn, để sẵn. Nếp (hoặc củ mì) được nấu chín, rải ra chiếc nia lớn cho nguội, trộn đều men rồi bỏ vào ghè. Lấy lá chuối bịt kỹ miệng ghè rồi buộc lại, sau đem ra dùng. Với ông Nay Bui, “bí quyết” làm rượu ghè là 01 ghè 5kg nếp than, chỉ cần rắc khoảng 3gam men. Ông Nay Bui bảo, để làm nên những ghè rượu ngon, ngày trước còn chút kiêng cữ, song bây giờ, mê tín không còn. Nam, nữ  đều có thể làm ngon nếu chịu khó để ý và tự mình rút ra kinh nghiệm.

Có “tay” làm nghề, nên rượu ghè của ông Nay Bui trước giờ không lo bị ế. Mỗi dịp hội làng, hay bà con trong xã đón Tết, vui lễ…, gia đình ông làm tới 50-60 ghè vẫn không đủ cho người mong. Được chọn làm hạt nhân “thương hiệu” rượu ghè nếp than Ngọc Réo, ông Nay Bui nhận rõ trách nhiệm được lãnh đạo xã và  đồng bào địa phương gửi gắm, gắng hết sức để trở thành điểm kết nối, đưa bà con Kon Krốc cùng chung tay xây dựng thành công sản phẩm đặc trưng của địa phương./.      

Bài, ảnh: Nghĩa Hà

Không chỉ được biết tiếng ở làng Gia Xiêng, nghệ nhân ưu tú A Deng còn là niềm tự hào của đồng bào Xê Đăng nhánh Hà Lăng xã Rờ Kơi, huyện Sa Thầy. Đan lát, diễn xướng cồng chiêng, chế tác và biểu diễn nhạc cụ dân tộc…; cách ông gìn giữ và trao truyền cho lớp trẻ nét đẹp văn hóa dân gian cũng chân phương, bình dị như chính con người thuần phác của mình.

Nghệ nhân A Deng giỏi đan lát, làm mô hình nhà rông

Đã qua 75 mùa rẫy, già A Deng còn say sưa làm rẫy làm ruộng; song vẫn dành thời gian đan lát. Đánh cồng chiêng, làm Ting ning và đàn hát thì “Ở sẵn trong người rồi, lúc nào chơi cũng được, dạy cho bọn trẻ cũng được…”- ông nói. 

Ông A Deng sinh ra và lớn lên ở vùng biên giới Mô Rai, nên duyên với bà Y Nhoi, mới thành người làng Gia Xiêng (xã Rờ Kơi) cùng huyện Sa Thầy.

Theo truyền thống, ngày xưa, đan lát tre nứa là công việc của  người đàn ông Hà Lăng, giống như dệt thổ cẩm là “nghề” của phụ nữ. Đồng bào địa phương có nhiều đồ dùng, vật dụng được làm ra từ bằng tre nứa; song ngoài rổ, rá, nia, sàng…đơn giản để dùng hàng ngày, phải kể những vật dụng quý, “cao cấp” hơn, đòi hỏi “tay nghề” của người đan bằng sự kỳ công, khéo léo.

Trong đó, phổ biến là các loại gùi khác nhau, như cak-loại gùi không có nắp nhưng đan dày khít, với nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, dùng để đựng lúa, đựng rau, đồ đạc trong nhà. Chiếc ktúp để bỏ gạo vào sàng sảy sau khi lúa được giã bong vỏ trấu. Đặc biệt là chiếc krok được đan bằng mây kỹ càng, tinh xảo, có nắp đậy, hình thù giống như chiếc ba lô bây giờ. Từ trước đến nay, krok luôn là vật bất ly thân của đàn ông Hà Lăng khi đi rừng; dùng để đựng cơm, đựng chim thú khi đi săn. Đeo trên vai, krok nằm gọn trên lưng nên rất gọn nhẹ, dễ di chuyển.

Thuở nhỏ đã theo cha tập đan, nên khi “theo vợ” về Rờ Kơi thì A Deng đã thạo đan hầu hết các vật dụng, đồ dùng bằng nứa tre.Mỗi đồ dùng, vật dụng dạng này, dù đơn giản đến phức tạp đều cần nhiều thời gian, tâm sức để làm ra. Vì vậy, ông A Deng luôn quan tâm chọn lựa, chuẩn bị kỹ càng nguyên liệu trước khi đan, để đồ dùng được bền lâu.

Lồ ô, cây giang thường được ông lấy phần cật cứng chứ không dùng chỗ ruột mềm.Từ khung chính của đồ dùng, vật dụng đến từng sợi nan, miếng cạp, miếng viền…đều được vót chuốt cẩn thận. Riêng dây mây cũng được chọn kỹ, vì nếu sợi non thì đồ đan  mau hư.

Tỷ mẩn, khéo léo nên đồ dùng vật dụng làm bằng tre nứa của ông A Deng vừa chắc bền, vừa đẹp mắt.Ông còn tự mày mò, tìm hiểu kỹ thuật mang tính đặc thù để chế tác mô hình nhà rông xinh xắn, trưng bày. Đồ dùng, vật dụng làm ra chẳng những phục vụ sinh hoạt gia đình, mà còn thường được trao đổi cho anh em, bà con; được mọi người  tin dùng và ưa thích.

Thạo đan lát, ông A Deng còn  được biết đến là nghệ nhân giỏi cồng chiêng và chế tác, sử dụng một số nhạc cụ dân tộc của người Hà Lăng. Sau một thời gian bị xao nhãng vì cuộc sống khó khăn, năm 2000- 2001, cồng chiêng đã được quan tâm khôi phục ở Rờ Kơi. Làng có bộ cồng chiêng chung được ông A Deng và một số nghệ nhân cao niên giữ gìn cẩn thận để sử dụng, chỉ dạy cho thanh thiếu niên. Nghệ nhân A Deng là người “giữ hồn” chiêng cồng, được dân làng tín nhiệm vì thành thạo nhiều bài truyền thống; từ mừng lúa mới, mừng nhà rông, mừng chiến thắng, bài diễn xướng trong lễ hội đâm trâu, lễ cưới… đến những bài chiêng chia buồn người mất.  

Trong số các nhạc cụ dân tộc được ông A Deng chế tác và biểu diễn, gần gũi nhất là đàn Ting ning. “Ngày trước, thấy Ting ning hay thì theo mấy ông già giỏi đàn để học lỏm thôi; còn bây giờ, muốn Ting ning không mất đi thì phải  chỉ dạy cặn kẽ cho lớp trẻ.”- Ông chia sẻ.

Nhiệt tình, tận tâm với bà con, nghệ nhân A Deng đã góp phần gây dựng 2 đội cồng chiêng, múa chiêu của làng Gia Xiêng với hơn 40 thành viên; làm nòng cốt sinh hoạt văn hóa truyền thống ở khu dân cư và tích cực tham gia các sự kiện văn hóa của xã của huyện.

Tự hào được tôn vinh là Nghệ nhân ưu tú ở loại hình tri thức dân gian, ông A Deng càng ra sức cùng các nghệ nhân trong cộng đồng  gìn giữ và trao truyền nét đẹp văn hóa dân tộc cho con cháu ở vùng căn cứ kháng chiến Rờ Kơi năm xưa./.

                                                                                            Bài, ảnh: Nghĩa Hà

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.