Một ông “tấn sĩ” thương cho mình và tiếc cho đời khi quyết định ở lại sau 30/4/75: Nguyễn Thiện Tống-báo Dân Việt

Vị tiến sĩ ‘thương cho mình và tiếc cho đời’ khi ở lại sau 1975

May 3, 2022

Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống

Vị tiến sĩ quyết định ở lại Việt Nam sau 30/4/1975 cho biết ông “thương cho mình vì ôm nhiều hoài bão lớn nhưng lại không có cơ hội để đóng góp như mong ước”.

Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống cho biết:

“Tôi nhớ cảm giác rất buồn sau buổi họp cuối cùng của Hội đồng Giáo sư trường Đại học Kỹ Thuật ở Phú Thọ một tuần trước đó. Kết thúc buổi họp thì hầu như mọi người đều ghi tên vào danh sách muốn đi để chuyển đến các tòa Đại sứ Mỹ, Pháp, Úc… Chỉ có tôi và hai người khác không ghi tên thôi. Lúc đó một người bạn hỏi tôi: “Anh đã được nhận đi nước nào vậy?”. Thấy mọi người như thế, tôi đứng lặng bên cửa sổ rồi than thầm: Trời ơi, sao ai cũng đi hết vậy!

Hôm đó chúng tôi quyết định phát bằng tốt nghiệp sớm cho tất cả các sinh viên năm cuối và Tiến sĩ Nguyễn Thanh Toàn là Khoa trưởng đã ký hết các văn bằng này trước khi ra đi. Tôi là người trao bằng cho các sinh viên đến muộn vào ngày thứ sáu 25/4. Họ nhận bằng trong nước mắt từ biệt. Sau 30/4/75 những sinh viên năm cuối không trở lại trường nữa.

Tôi rất buồn vì nhiều người đã ra đi trước và sau 30/4/75, trong đó có bà con anh em bạn bè của tôi.

Tôi chọn ở lại vì tôi đã chọn trở về quê hương năm 1974 cùng vợ con sau gần 9 năm du học ở Úc.

Sau ngày đất nước thống nhất, kinh tế đi xuống, đời sống khó khăn, rồi chiến tranh ở biên giới Tây Nam với Campuchia và chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc năm 1979 đã làm cho nhiều người cảm thấy tuyệt vọng và ra đi nhiều hơn.

Sau 1975, phần lớn người dân Sài Gòn rơi vào cảnh khánh kiệt dưới sự cai trị của Đảng

Sau đợt đổi tiền lần đầu, tôi được xếp vào mức lương 75 đồng/tháng mà sau này tôi mới biết là bằng với lương của anh trung úy công an khu vực tôi ở.

Từ thứ hai đến thứ sáu tôi hàng ngày đạp xe lúc sáng sớm chở 2 con vào Xóm Gà quận Bình Thạnh gửi bà ngoại rồi đi lên trường Đại học Bách Khoa ở quận 10, buổi trưa vào chở con trai đưa đi học trường Lê Quý Đôn ở quận 3 rối lên trường làm việc tiếp, đến chiều quay vào xóm Gà quận Bình Thạnh chở con gái về nhà ở chung cư Yên Đỗ quận 3, còn vợ tôi sau giờ làm việc thì đón con trai về nhà.

Tôi đạp xe như thế trong mấy năm liền. Gia đình tôi lúc đó cũng rơi vào hoàn cảnh quá khó khăn, và vì thiếu ăn nhiều năm nên vào những năm đầu thập kỷ 1980 tôi giảm mất 15 kg chỉ còn 53 kg như hồi học sinh 18 tuổi.

Nhưng tôi vẫn quyết ở lại quê hương với gia đình với mẹ và anh chị em và bạn bè dù cũng vơi dần một số người.

Để có thêm thu nhập cho gia đình, vợ tôi dạy Anh văn ở nhiều tư gia, có nơi phải đi đạp xe gần 10 km. Tôi thấy thương cho vợ con tôi phải chịu đựng gian khổ vì tôi và không hề có suy nghĩ phải chi chúng tôi đừng về nước mà ở lại Úc hay đi Anh đi Mỹ. Vợ tôi còn nói với một số bạn bè rằng: “Anh Tống mà bị trục xuất khỏi Việt Nam thì anh sẽ vượt biên trở về.”

Và như thế cho đến nay, mỗi khi có người hỏi: “Tại sao anh không đi?” thì tôi luôn trả lời: “Bởi vì tôi đã chọn trở về năm 1974.”

Những người đi du học theo học bổng Colombo Plan có ràng buộc là phải về nước sau khi học xong. Nhưng với những người có học vị tiến sĩ thì dễ dàng ở lại Úc hoặc đi nước khác làm việc. Khi biết tôi quyết định về Việt Nam năm 1974 nhiều người cũng tỏ ra ngạc nhiên, trong đó có vị giáo sư trực tiếp hướng dẫn luận án tiến sĩ cho tôi.

Ông đưa ra cho tôi nhiều sự lựa chọn, hoặc ở lại Úc tiếp tục phát triển mô hình tính toán khí động lực học áp dụng cho phi thuyền con thoi, công trình khoa học mà tôi làm trợ lý nghiên cứu cho ông suốt sáu tháng trong thời gian chờ nhận bằng, hoặc ông giới thiệu tôi qua một số nước có khoa học hàng không phát triển như Mỹ, Anh… để tiếp tục công việc nghiên cứu khoa học. Còn về Việt Nam, ông nói tôi chỉ có thể đi dạy thôi.

Ít nhất hàng trăm ngàn người phải bỏ nước ra đi tìm tự do và chạy trốn Cộng sản

Xót xa cho số phận dân mình

Tôi cũng nghĩ rằng tôi về nước để dạy đại học, tôi mong muốn nhân rộng tri thức, sự hiểu biết của mình cho các sinh viên đại học để góp phần phát triển đất nước.

Hầu như tất cả sinh viên đi du học đều nói về hoài bão “học tập cho thành tài để về xây dựng quê hương”. Khi đó tôi nhận thức khoảng cách biệt lớn lao về hòa bình, về phát triển giữa Úc và Việt Nam và tôi rất xót xa cho số phận dân mình.

Với chức vụ phụ tá Khoa trưởng tôi bị xếp loại ngụy quân ngụy quyền cao cấp và phải đi trình diện với Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định. Tôi có “Giấy Chứng Nhận Trình Diện” do ông Cao Đăng Chiếm ký ngày 14/5/1075. Vào tháng 6/1975 tôi được lệnh di học tập cải tạo tập trung, nhưng hôm đó đông người quá nên phải hoản lại hôm sau.

May thay sau đó người trong ngành giáo dục và y tế phải đi học tập cải tạo được giảm một cấp nghĩa là Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Phu tá Viện trưởng của Viện Đại học mới phải đi học tập còn Khoa trưởng, Phó Khoa trưởng, Phụ tá Khoa trưởng khỏi đi.

Tôi tham gia sinh hoạt ở Hội Trí thức Yêu nước và gặp rất nhiều nhà trí thức lớn của Sài Gòn lúc đó như Giáo sư Lê Văn Thới, Phạm Hoàng Hộ, Phạm Biểu Tâm… Giáo sư Châu Tâm Luân được đưa lên làm Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng rồi cũng vượt biên. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đi công tác ở Pháp cũng không về.

Rồi Giáo sư Phạm Biểu Tâm cũng ra đi chính thức. Có nhiều người vượt biên bị bắt giam rồi được Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước – ông Huỳnh Kim Báu vận động Bí thư thành ủy can thiệp để được tha. Ở các trường đại học, cứ sau dịp nghỉ Tết hay nghỉ hè là có một số người vượt biên.

Trong mười mấy năm sau 1975, “con đường đau khổ” của người trí thức chúng tôi còn gian nan hơn chuyện phim Liên Xô nhiều. Tôi thấy trong nhiều năm nghèo đói, bệnh tật và bão tố tinh thần siết vòng vây tấn công từng người, từng gia đình chúng tôi – những người trí thức đào tạo trong nước cũng như từ nước ngoài trở về.

Bây giờ tôi đã 75 tuổi cũng đã trải nghiệm qua nhiều thăng trầm trong cuộc đời. Kể từ 1974 đến nay tôi gắn bó với trường Đại học Bách khoa này gần 48 năm và đã “xoáy” cùng dòng chảy lịch sử của đất nước, để không chỉ chứng kiến mà còn có cả những trải nghiệm buồn vui thậm chí có lúc đắng cay… khi tiếp tục chọn công việc giảng dạy đại học với mong muốn nhân rộng tri thức, sự hiểu biết của mình cho các sinh viên đại học để góp phần phát triển đất nước.

Tuy có đôi chút ngậm ngùi, có chút buồn lòng nhưng tôi chưa bao giờ hối tiếc về quyết định của mình. Tôi có lúc cảm thấy thương cho mình và tiếc cho đời. Thương cho mình vì ôm nhiều hoài bão lớn nhưng lại không có cơ hội để đóng góp như mong ước. Còn tiếc cho đời đã không cho mình cơ hội. Tôi không đòi hỏi có được điều kiện thuận lợi, chỉ cần đừng bị gây khó…”

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.