Thơ của thi sĩ Serhiy Zhadan,người Ukraina

Serhiy Zhadan

Chuyển ngữ: Lê Đình Nhất Lang

(damau.org)

21.03.2022

Serhiy Zhadan - RockEuroMaydan


Serhiy Zhadan sinh năm 1974 và lớn lên ở miền Đông Ukraine, tốt nghiệp cử nhân văn chương, theo học cao học về ngữ văn rồi giảng dạy văn chương Ukraine và thế giới trước khi chuyển sang viết chuyên nghiệp. Ông là tác giả của 12 tập thơ và bảy cuốn tiểu thuyết, trong đó nhiều tác phẩm đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng Âu châu, kể cả tiếng Nga. Một số tiểu thuyết đã mang về cho ông hơn một chục giải thưởng quốc gia và quốc tế. Tuyển tập thơ Dynamo Kharkiv của ông thắng giải “Sách Của Năm” của Ukraine vào năm 2014.

Ngoài đời, Serhiy Zhadan là một nghệ sĩ dấn thân đúng nghĩa. Ông từng tham gia những cuộc biểu tình Cách Mạng Màu Da Cam 2004. Khi phong trào biểu tình đòi tự do dân chủ ở Ukraine lên cao lần nữa vào năm 2013, ông tham gia hội đồng điều phối Euromaidan Kharkiv. Từ năm 2014, ông nhiều lần đi thăm khu vực tiền tuyến chống phe ly khai thân Nga ở Donbas. Sau khi Nga mở cuộc xâm lăng Ukraine vào tháng 2-2022, ông quyết định ở lại thành phố nhà Kharkiv để giúp tổ chức cứu trợ nhân đạo.

Thơ Serhiy Zhadan ngay từ những bài đầu tiên được công bố đầu thập niên 1990 đã gây chấn động với cách viết ít cảm tính, mang hơi hướm những nhà thơ tiền vệ Ukraine những năm 1920. Đối với nhiều độc giả quốc tế, thơ ông có thể được xem là kế tục một vài đường nét chính làm nên phong cách của nhà thơ Ba Lan Zbigniew Herbert. Không có gì lạ khi tổ chức đầu tiên đề cử Serhiy Zhadan cho giải Nobel Văn Chương (2022) là Viện Hàn Lâm Khoa Học Ba Lan.

người dịch

Tìm

Tôi tìm nàng trong một thời gian dài. Nàng đã đổi số,
rời thành phố, không có trên Facebook.
Tôi không tìm được nàng qua bạn bè
hay qua những thành viên cộng đoàn của nàng.
Rồi nàng viết, mô tả tình hình hiện tại:
chuyến đi, hoàn cảnh mới của nàng, và làm thế nào nàng thích nghi.

Nàng viết về anh mình; thật ra, tôi nghĩ đó mới là lý do nàng viết—
để cho chúng tôi biết về anh nàng và cái chết của anh.
Tôi không là người duy nhất nàng nhớ đến,
Tôi chẳng thể là người đầu tiên.
Nàng viết quá bình thản.
Nàng viết, tất cả họ đều trúng loạt đạn đầu tiên.
Rồi một vài người trở lại
để thu lượm những kẻ chết. Hay đúng ra những gì còn lại
của họ. Những cái chân là vấn đề lớn nhất. Mỗi người
cần hai chân. Đó là cách họ ráp lại—
sao cho mỗi người có hai chân. Tốt nhất là cả hai
na ná nhau về kích thước.

Anh nàng là nhạc sĩ. Anh có cây ghi ta tiếng nghe hay,
mà người ta cứ mượn luôn.
“Em nên làm gì với nó bây giờ?” nàng hỏi.
“Em đã cầm đàn lên thử chơi, nhưng chỉ bị dây đàn làm đứt tay.
Đau lắm. Vẫn còn đau.”

Kim

Anton, ba mươi hai tuổi,
tình trạng bao gồm đang ở với cha mẹ.
Theo Chính Thống Giáo, nhưng không đi nhà thờ,
tốt nghiệp đại học, chuyên khoa Anh văn.
Làm nghề thợ xăm, có hẳn một phong cách riêng,
nếu ta có thể gọi thế.
Ở vùng này đã nhiều người trải qua
mũi kim nhọn và bàn tay thành thạo của anh.

Khi vụ này nổ ra, anh nói rất nhiều về
chính trị và lịch sử, bắt đầu tham gia biểu tình,
tranh luận với bạn bè.
Bạn bè bực mình, khách hàng biến mất.
Họ sợ, không hiểu, đi khỏi thành phố.

Mi thật sự trải nghiệm một con người, chạm vào họ bằng mũi kim.
Một mũi đâm thủng; một mũi vá lại. Dưới hơi ấm
kim loại của nó tấm lụa của làn da nữ trở nên thật mềm mại
và lớp vải bố sáng láng của làn da nam thật rắn chắc.
Khi đâm qua màng ngoài của một con người,
mi làm máu tứa giọt như nhung, chạm trổ
đôi cánh thiên thần lên bề mặt cam chịu của thế giới.
Hãy chạm trổ chúng, hỡi chàng thợ xăm; ta được gọi
đến để làm đầy đời này bằng ý nghĩa, bằng màu sắc.
Hãy chạm trổ lớp vỏ này, hỡi chàng thợ xăm, để che đi linh hồn và bệnh tật—
những gì ta sống cho, những gì ta chết vì.

Có người nói anh bị bắn tại một chốt chặn trên đường
vào một buổi sáng, súng trong tay, dường như chỉ tình cờ—
không ai biết rõ tại sao.
Anh được chôn trong một ngôi mộ tập thể—đó là cách tất cả họ được chôn.
Vật dụng cá nhân của anh được trao lại cho cha mẹ anh.
Tình trạng của anh chưa bao giờ được cập nhật.

Một ngày kia nhất định sẽ có một thằng chó chết nào đó
viết những áng hùng thi về chuyện này.
Một ngày kia sẽ có một thằng chó chết khác
nói chẳng có lý do gì để viết về chuyện này.

Giáo phái

Andrew và Paul là tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm và sinh viên.
Cha họ, một thương gia, hỗ trợ cộng đồng.
Họ đã quen xem nhà thờ
là một phần của đời mình:
họ ở đó mỗi ngày, giúp công việc
sửa sang, đăng ảnh lên Mạng,
cám ơn mọi người đã hỗ trợ.

Vào thời bình, họ chỉ được xem là thành viên một giáo phái,
nhưng khi chiến sự bùng nổ, một cuộc săn lùng họ
được tổ chức. Một số người bỏ đi, một số khác trốn lánh.
Nhưng hai anh em bị bắt. Họ bị nhốt dưới một căn hầm,
buộc phải chôn người chết, đào những huyệt mộ.
Họ muốn nộp tiền mua tự do, họ sợ hãi và khóc lóc.
Họ được đưa đến một cái hố khác. Rồi họ bị
quên, cứ như họ đơn giản là không hề hiện hữu.
Họ ngồi trong căn hầm không chút anh sáng và lắng nghe bóng tối.
Ban đầu họ cầu nguyện, rồi họ dừng—
và trở nên ngượng ngùng về chính mình.

Mi đánh mất đức tin khi
mi đánh mất khả năng
chết cho nó. Đức tin là gì
đối với kẻ đã thấy tận mắt mọi chuyện thật ra là gì?
Tại sao tin vào điều đã không
còn ý nghĩa với mi?
Đâu có ai nói gì về chuyện đã xảy ra với các vị thánh
mang dấu Chúa trên thân thể mình. Chuyện gì đã xảy ra
với các dấu Chúa ấy? Chúng có khép lại vào ban đêm như những đóa hồng?
Chúng có ứa máu ròng rã,
lành lại, hay đau nhức bên dưới những bông băng?
Những người có cặp mắt bị mù vì bóng tối
đến bệnh viện để thay băng.
Họ nghiến răng khi y tá xé
miếng băng khô khỏi vết thương của họ và máu tươi
tràn lên làn da nám đen. Họ xin
bất cứ loại thuốc giảm đau nào.
Nhưng không có thuốc giảm đau nào cho điều làm họ đau—
thuốc cho điều đó không hiện hữu.

Cô gái Chechen

Yuriy,
đã ngoài bốn mươi tuổi,
một nhân viên sở xã hội,
theo học môn lịch sử.
Anh ngồi trên internet
nghiền ngẫm những trang sử rách nát.
Viết blog với bút danh “Cô gái Chechen.”
Anh bịa ra người nữ bắn tỉa này,
và giờ đây sống qua nàng.

Anh viết về tín ngưỡng của nàng,
viết về những mối nghi hoặc của nàng,
viết về cảm tính của nàng,
chạm trổ lên báng khẩu súng trường của nàng:

này là—cha – kẻ thù,
này là—con – kẻ thù,
này là—chúa thánh thần, cũng một kẻ thù,
đáng nhắc đến
trong danh sách chung
những kẻ sẽ bị xử tử,
mà tay bắn tỉa vô hình
yêu cầu trong những lời cầu nguyện của nàng.

Thế giới là một bưu kiện
cột bằng dây kẽm gai.
Xé toạc nó, thì từ đống
quần áo và khăn tắm trẻ em,
bầy cóc và rắn đen
bò ra.

Ta sẽ chẳng bao giờ biết được
ai đứng trong những đám đông căm phẫn,
sẵn sàng xé toạc lớp vải mỏng manh
của da thịt một kẻ khác.
Ta sẽ chẳng bao giờ biết được
ai không ở trong những đám đông ấy.

Đưa em xuống
những con lộ đêm
chạy giữa những bãi cỏ và than,
bước đi lặng lẽ
trong đôi giày thể thao nhẹ,
đưa em đến những con suối mát,
tránh những lối đi mòn nhẵn
chân thú,
rồi để lại bánh mì cho em ăn bữa sáng,
gói trong
lá cờ của kẻ thù.

Vào buổi sáng,
anh đọc những gì mình viết.

Đôi khi anh thêm thắt vài điều.
Đôi khi anh sửa vài chỗ.
Anh cạo râu bằng một lưỡi dao cũ
và cứa vào da.

Nhưng không có máu.
Không hề có.
Cũng như không có cái chết nào.

“Họ chôn con trai họ mùa đông trước”

Họ chôn con trai họ mùa đông trước.
Đông mà thời tiết lạ ghê—mưa, sấm.
Họ chôn anh lặng lẽ—mọi người đều bận.
Anh ấy đã chiến đấu cho ai? Tôi hỏi. Bọn bác không biết, họ nói.
Nó đã chiến đấu cho ai đó, họ nói, nhưng ai—ai mà biết?
Có thay đổi được gì đâu, họ nói, lúc này còn gì là quan trọng?
Lẽ ra tôi nên tự đi hỏi anh, nhưng giờ đây—không cần.
Và chắc gì anh đã trả lời—anh được chôn không đầu.

Đó là năm thứ ba của cuộc chiến; họ đang sửa lại cầu.
Tao biết khối điều về mày, nhưng ai mà nghe?
Tao biết, chẳng hạn như, bài ca mà mày vẫn thường ca.
Tao biết con em gái mày. Có gì đó làm tao cứ nhớ nó.
Tao biết mày sợ điều gì, và ngay cả, tại sao.
Mày đã gặp ai mùa đông ấy, mày nói với hắn điều gì.
Bầu trời rựng lên, đầy tro bụi, giờ đây mọi đêm đều thế.
Mày vẫn chơi thể thao cho ngôi trường gần nhà.
Nhưng mày đã chiến đấu cho ai?

Đến đây mỗi năm, dọn cỏ khô.
Đào đất mỗi năm—nặng nề, vô sinh.
Chứng kiến tĩnh lặng sau thảm kịch mỗi năm.
Xác định bạn đã không bắn vào chúng tôi, vào dân tộc bạn.
Đàn chim mất dấu sau cơn mưa từng đợt.
Cầu xin tha thứ cho những tội lỗi của bạn.
Nhưng tôi biết gì về tội lỗi của bạn?
Năn nỉ cơn mưa rốt cuộc hãy dừng.
Đỡ khổ cho bọn chim, chúng biết gì đâu về sự cứu rỗi, về linh hồn.

* Bốn bài “Tìm,” “Kim,” “Giáo phái,” và “Cô gái Chechen” dịch theo bản dịch tiếng Anh các bài thơ “Search,” “Needle,” “Sect,” và “Chechen Girl” trong tuyển tập What We Live For, What We Die For (Những Gì Ta Sống Cho, Những Gì Ta Chết Vì) của Serhiy Zhadan, do Virlana Tkacz và Wanda Phipps dịch từ tiếng Ukraine. Tuyển tập do Yale University Press tại New Haven và London ấn hành năm 2019.

* Bài “Họ chôn con trai họ mùa đông trước” dịch từ bản dịch tiếng Anh của John Hennessy và Ostap Kin, bài thơ “They buried their son last winter” trên tạp chí Poetry, tháng 9, 2019. Tựa bài thơ hiển nhiên được đặt theo dòng đầu; đây là thông lệ của những trường hợp tác giả không đặt tựa cho bài thơ.

https://www.poetryfoundation.org/poetrymagazine/poems/150753/they-buried-their-son-last-winter

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.