nhân cái chết của Thích Nhất Hạnh Đồng hương Kontum Trang Y Hạ giới thiệu 2 bài thơ “phản chiến của 2 ông sư !!

Thơ của “thiền sư “

Trang Y Hạ,

giới thiệu:

Hai bài thơ của Thiền sư Tuệ Sĩ – Một bài thơ (Phản Chiến Tranh) hay và nổi tiếng khắp thế giới của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Trong bài thơ phản chiến có câu: “Kẻ thù chúng ta không phải con người. Giết con người đi rồi, chúng ta ở với ai?”.

CHIẾN TRANH

Thơ: Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Xin hãy nghe tôi đây

Làng tôi hôm qua chỉ vì có SÁU người Việt Cộng về

Mà đã bị dội bom – hoàn toàn tan nát!

Cả làng tôi chết sạch

Nền hoang ngơ ngác

Lũy tre xác xơ

Miếu thờ ngã gục

Tôi về đây trong mây nước rưng rưng.

Có trăng sao mười phương

Có nhân loại, có anh em đây

Cho tôi cất cao lời tố cáo cuộc chiến tranh bẩn thỉu này

Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, dã man, thảm khốc,

Ai xô chúng tôi vào vũng lầy chết chóc?

Xin làm chứng cho tôi.

Hãy nghe tôi đây

Tôi nói rằng tôi không công nhận cuộc chiến tranh này

Chưa bao giờ và không bao giờ công nhận cuộc chiến tranh này

Tôi muốn nhắc lại một ngàn lần, trước khi tôi bị giết.

Hãy nghe tôi, như nghe chim đỗ quyên,

Vì anh em

Nhỏ giọt máu trên cành hoa mà kêu lên tiếng kêu bi thương thống thiết

Tất cả các anh hãy quay báng súng về đập vào khối đen hận thù tham vọng

Hãy đưa bàn tay của các anh ra mà chở che cho sự sống

Kẻ thù của chúng ta là cuồng tín, là bạo tàn

Là tham lam, là vu khống

Kẻ thù chúng ta không phải con người- dù con người gọi là Việt Cộng

-Giết con người đi rồi, chúng ta ở với ai?

Hãy đuổi chúng đi, những đàn âm binh từ muôn phương tràn tới

Gieo rắc vô minh, hận thù

Sầu thương vời vợi

Anh em giết nhau tủi nhục quá chừng

Cuộc chém giết vô nghĩa quá rồi, oan khuất nhiều rồi

Anh có nghe không?

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

LỜI GIÓ MƯA của Trang Y Hạ

Cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam trong hơn hai mươi năm – nơi mà chiến trường đẫm máu nhứt chính là ở miền Nam. Trong thời gian chiến tranh có nhiều người làm thơ, viết sách, viết nhạc hay sinh viên các trường Đại Học xuống đường biểu tình chống chiến tranh, gọi chung là: Thơ – Văn – Nhạc “Phản Chiến”. Tôi đã đọc nhiều, đọc nhiều lắm cái: “Tinh Thần Phản Chiến Dũng Cảm” của (một số) ký giả, tác giả thuộc hàng trí thức khoa bảng ở trong và ngoài nước lúc đó. Cho dù chiến tranh triền miên trên quê hương lửa khói nhưng họ, (phe phản chiến) vẫn luôn được người lính ở ngoài chiến trường bảo vệ an toàn và sống an nhàn thoải mái nơi thành phố để phản chiến – hết mình, hết tài năng, hết sức lực… Tác phẩm, lưu danh của họ còn truyền tụng lâu dài… Trong số họ có Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bài thơ phản chiến của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một bài thơ hay, nhân ái nổi tiếng phản chiến hơn hết và được nhạc sĩ Phạm Duy trích phổ nhạc.

Tôi không bàn hay luận gì về nội dung bài thơ phản chiến của nhà sư, vì đó là “quan điểm” nhìn về cuộc chiến theo cái nhìn khác biệt của cá nhân Thiền sư. Hơn nữa là trong nội dung bài thơ Thiền sư đã xác nhận cũng như diễn giải rất rõ ràng chính kiến rằng tác giả đã đứng ở (tọa độ) nào rồi. Do đó không nhứt thiết phải mổ xẻ thêm làm gì; càng mổ xẻ thì lại càng xúc phạm tới (việc phản chiến một chiều) của Thiền Sư, vi phạm quyền “Tự Do Ngôn Luận” vốn được công nhận trong Hiếp Pháp của chính phủ Quốc Gia Miền Nam. Người xưa nói “Điều kiện tối thiểu để thấu hiểu một người xin làm bạn đó là: thời gian và điểm tương đồng…”.

Thương thay cho những người lính miền Nam, họ đâu có muốn tương tàn, tương tàn có ích chi đối với họ đâu. Họ chỉ biết cầm súng với “Trách nhiệm – Danh dự – Tổ quốc” hầu canh giữ cho người dân có một giấc ngủ an lành, cho em thơ cắp sách tới trường, cho tiếng chuông Chùa, cho tiếng chuông nhà Thờ được Tự Do ngân vàng truyền đi tới từng nhà, tới từng người để sống trong “Từ Bi, Bác Ái, Ngay Thật”. Nguyện vọng thiêng liêng cao cả đó theo họ suốt cuộc chiến dai dẳng với hàng chục ngàn người bỏ mạng ngoài chiến trường và hàng vạn người mang vết thương chiến tranh tàn phá đau đớn trên thân thể gọi là “Thương-Phế-Binh”… Tội nghiệp cho họ là đã không hoàn thành được ước vọng vì thất bại! Từ thất bại đó nên họ bị tù đày, bị loại trừ để rồi lang bạt khắp nơi ở xứ người trong gần nửa thế kỷ qua. Người dân miền Nam cũng không hơn gì so với họ, bởi vượt biên tìm tự do đề rồi một số làm mồi cho hải tặc, cho cá mập…!

Lạc bến mái chèo khua viễn xứ

sầu dâng con quốc vọng đêm sương.

(Thơ: TrangY Hạ)

Người đời thường hay đi tìm những điều “cao & sâu” ở nơi chân trời góc biển… Vậy mà chẳng biết gì về con (Chuồn Chuồn) làm tổ ở chỗ nào? Con Chuồn chuồn ở rất gần chung quanh và dự đoán thời tiết khá chính xác. Kẻ trí thức không biết, người nông dân cũng không biết cái tổ ấm của con chuồn chuồn. Tuy vậy, với người nông dân tuy ít biết chữ nhưng từ rất lâu đã nhận diện con chuồn chuồn ở đâu. Đó là: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” rất là thực tế chứ không viễn vông… Tôi không phải là người am hiểu về triết học, nhưng qua những gì mắt thấy tai nghe gần hết cả cuộc đời mà nhận ra rằng: (Bàn tay trái đánh người tới hộc máu mồm, bàn tay phải vội vàng hấp tấp chạy chữa vết thương). Từ đó suy ra: Thiện hay ác đều trú ngụ ở chính trong bản thân con người chứ nào ở đâu xa.

Chuyện xưa nay ai cũng thấy, cũng biết rằng có cả một cái làng – mọi người hăng say, hăng máu, đồng lòng, quyết tâm, cầm: gậy, gộc, gươm, đao, giáo, mác… – hô hào chạy rần rần hè nhau, xúm nhau đánh… Chết Toi… một người đi bắt trộm chó. Hí hửng ăn mừng vì đã lập được chiến công to lớn. Lại rồi cũng cả một cái làng – vội vàng, hấp tấp, hối hả, sợ sệt… – lo đi đóng chặt cửa cổng, đóng chặt các cánh cửa nhà lại và rồi trốn kỹ ở trong nhà, trốn kỹ ở trong hầm sâu. Bởi nghe một ai đó ở trong làng hô lớn: – Có cướp…! Có cướp…! Bọn cướp rất đông tới thăm viếng làng của chúng ta rồi bà con ơi! Hãy chạy ra mà đánh tụi nó… Không một ai dám ra.

Đọc Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo thì ắt biết chứ gì.

Đừng viện dẫn câu “Nghĩa tử nghĩa tận” để biện minh cho bất cứ ai. Chết là hết đối với một sinh mạng, dù gì thì cũng phải tận tình lo ma chay, an táng mồ mả đàng hoàng – Bia ghi tên tuổi ngày tháng năm sinh, nơi sanh rõ ràng và tên người thân đứng ra lập mộ. Đừng trả thù trên mả của người chết bằng mọi thủ đoạn hèn hạ… – Đó chính là nghĩa tử nghĩa tận. Còn việc làm của người chết khi còn sống – tốt xấu như thế nào – thì đã có câu: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng” hoặc “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”.

***

Trang Y Hạ, giới thiệu:Hai bài thơ của Thiền Sư Tuệ Sĩ.

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, ngoài trời và văn bản cho biết 'Nếu trong môt nước có nhiều người theo đạo Phật, mà nhân dân nước ấy không an lạc, xã hội không trật tự an ninh, đại bộ phẩn dân chúng còn sống trong nghèo khó, thế thì ở đó không thể gọi là đạo Phật hung thịnh. THÍCH TUỆ SÝ THU CHẢO MÙNG ĐAI HỘI CU Si PHẬT GIẢO HẢI NGOAI (PL. 2547- 2003)'

Nhà sư Tuệ Sĩ bị gán tội “Lật đổ chính quyền nhân dân”. Thiền sư bị tù đày ba năm nhưng trong tâm lòng Thiền sư luôn nghĩ về quê hương đất nước, “đạo pháp”. Sau đó Thiền sư bị tuyên án tử hình, rồi Thiền sư được giảm xuống tù chung thân. Trước khi được thả, nhà cầm quyền yêu cầu Thiền Sư làm đơn xin nhận tội để được ân xá. Thiền Sư Tuệ Sĩ đã khẳng khái trả lời:

“Không ai có quyền xét xử tôi. Không ai có quyền ân xá tôi”. Và Thiền sư tuyệt thực trong tù mười ngày. Sau cùng họ phải thả Thiền sư ra. Nhân cách, tư cách của một vị chân tu của Thiền sư Tuệ Sĩ là tấm gương sáng ngời cho hậu thế.

Nhà triết học (Krishnamurti) của Ấn Độ nói “Sợ hãi nảy ra thần thánh” và “Truyền thống là nguyên nhân của sự sợ hãi”. Cả hai đều đúng. Lời Chúa cũng đã nói “Kẻ nào cố giữ mạng mình thì sẽ mất”. Vậy nên có niềm tin và suy luận nơi bản thân trước đã. Suy nghĩ và a dua theo bầy đàn có thể dẫn tới sai lầm.

TỰ TÌNH

Còn nghe được tiếng ve sầu

Còn yêu đốm lửa đêm sâu bập bùng

Quê người trên đỉnh Trường sơn

Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu.

Thơ: Tuệ Sĩ

Nha Trang, 4 – 1975

TÔI VẪN ĐỢI

Tuệ Sỹ

Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải

Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng

Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi

Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió

Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa

Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử

Dài con sông tràn máu lệ quê cha.

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ

Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương

Người ở lại với bàn tay bạo Chúa

Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng

Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu

Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng

Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều.

Tuệ Sĩ

(Đây là bài thơ mới làm của Thiền sư. Có thể làm trong khi chờ ra tòa chăng).

Trang Y Hạ

(Ảnh Thiền Sư mượn trên net)

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.