chuyện bâng quơ giữa mùa ôn dịch cúm Tàu :Tiến Sĩ (?)Trần Ngọc Thêm đạo văn LM triết gia VN Kim Định(theo phát kiến của Trần Mạnh Hảo) đề nghị bỏ “Tiên học Lễ(không phải lễ vật) hậu học Văn”

‘Lễ’ không đơn thuần là… lễ

Tiên học lễ, hậu học văn và bất ngờ về khẩu hiệu trường học của Bộ GD-ĐT - 1

Trần Văn(VOA)

26-11-2021

Linguistics professor Trần Ngọc Thêm at home. Hồ Chí Minh City, Jul 2012.

Tuần này, đề nghị của ông Trần Ngọc Thêm (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM) tại Hội thảo Giáo dục 2021 về “Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo” do Ủy ban Văn hóa – Giáo dục của Quốc hội Việt Nam tổ chức: Không nên sử dụng quan điểm “Trồng người” cũng như “Tiên học lễ, hậu học văn” vì làm giáo dục trở thành thụ động, kiềm chế sáng tạo (1)… là một trong những vấn đề gây tranh cãi kịch liệt cả trên hệ thống truyền thông chính thức (2) lẫn mạng xã hội…

Có một số người đã dụng công viết những bài khá dài để đóng góp ý kiến, nhận định về đề nghị của ông Thêm, ví dụ ông Lê Học Lãnh Vân (3). Ông Vân cho biết, ông không muốn tranh luận về việc nên giữ hay bỏ quan điểm “Tiên học lễ, hậu học văn”, ông chỉ muốn trình bày kinh nghiệm và suy nghĩ của ông về tương quan giữa “Tiên học lễ, hậu học văn” với tư duy phản biện – điều mà ông Thêm cho rằng đang bị “Tiên học lễ, hậu học văn” kiềm chế, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục, thành ra cần phải loại bỏ.

LM/GS/triết gia văn hoá Việt KIM ĐỊNH

Ông Vân – người được hệ thống giáo dục của Việt Nam Cộng hòa dạy dỗ – kể rằng, thời đó, khi đề cập về “Tiên học lễ, hậu học văn” thầy của ông giải thích: Lễ là những phép tắc giao tiếp với người khác tỏ lòng kính trọng. Lòng kính trọng luôn luôn có hai chiều, có lễ của thần tử đối với quân vương, mà cũng có lễ của quân vương đối với thần tử. Xã hội đã thay đổi nhưng thời đại dân chủ cũng không thể không có “lễ”, đó là là “lễ” giữa những người bình đẳng, tự do

Ông Vân kể thêm, bởi thấm nhuần điều đã được các thầy của ông căn dặn: Lấy “lễ” đãi nhau, không gì bằng lời nói thật. Câu “quân tử chi giao đạm nhược thuỷ” quý ở lòng chân thành… nên khi trưởng thành, trong giao tiếp và lúc cần thảo luận, nếu khác ý, ông Vân… không dám không nói ra. Đó cũng là lý do ông Vân tự thấy, chữ “lễ” không những không ngược với tư duy phản biện mà còn thúc giục người ta nói lời phải, nói lời phản biện thật lòng!

Dẫn trường hợp cụ Hoàng Xuân Hãn – một học giả nổi tiếng sống ở Pháp – lúc đã ở tuổi 80, khi tiếp bất kỳ ai vẫn mặc âu phục, khoác áo veste vì nghĩ “mình phải giữ lễ với người ta dù có khi “người talà con cháu ở quê nhà ghé thăm cụ khi sang Pháp, hoặc luôn luôn ra bàn làm việc ngồi trước giờ hẹn ông Vân tới nhà làm việc với đầy đủ tài liệu cần thiết, bất kể ông Vân đến thường xuyên chỉ vì muốn giữ “lễ”, ông Vân nhấn mạnh yếu tố: “Lễ” luôn luôn phải có hai chiều!

Ông Vân đề nghị ông Thêm giúp trả lời: Có đúng tinh thần của chữ “lễ” trong thời cận đại và hiện đại là sự ràng buộc một chiều, chiều từ người dưới tôn trọng người trên không? Ông Vân tin… tư duy phản biện không bị trói buộc bởi quan niệm “Tiên học lễ”. Nó bị trói buộc bởi cách tổ chức xã hội trong đó cả ngôn luận lẫn tư tưởng không được tự do. Không có tự do báo chí thì rõ ràng không có tự do ngôn luận. Khi người dân bị tù vì ý nghĩ trong đầu của họ thì rõ ràng không có tự do tư tưởng rồi.

Trới buộc tư duy phản biện ở mức thấp, trong trường học, thể hiện qua cách giáo viên có thể theo dõi hay can thiệp vào các trao đổi trên mạng của học sinh, nhà trường cũng có thể làm vậy đối với giáo viên. Ở thượng tầng là việc quá nhiều thông tin được đánh dấu mật dù không liên quan tới an ninh quốc gia như nhiều thông tin về những sự việc ai cũng biết đã xảy ra mà không tờ báo chính thống nào đăng tải! Thông tin một chiều, hạn chế thông tin và môi trường thiếu tự do tư tưởng trói buộc tư duy phản biện.

Có lẽ ông Thêm sẽ giữ im lặng rất lâu trước những thắc mắc của ông Vân như: Anh có nghĩ rằng xã hội đơn nguyên và chuyên chính là nguyên nhân của các nguyên nhân kể trên, do đó là tác nhân quan trọng trói buộc tư duy phản biện không và do đó, có phải đó là tác nhân đào tạo nên những con người thụ động, không chủ động, không sáng tạo như lo lắng của anh không?

Hoặc: Anh nghĩ sao về nhận xét, trong xã hội khi mà cá nhân quá nhỏ nhoi trước cơ quan, cấp trên có quá nhiều quyền lực với cấp dưới, thiếu vắng sự bình đẳng thì chữ “lễ” được hiểu theo nghĩa của ngàn năm phong kiến xưa? Trái lại, trong xã hội mà sự bình đẳng hiện diện rộng rãi, tự do của con người được tôn trọng và bảo vệ thì chữ “lễ” được hiểu một cách phóng khoáng, do đó không còn trói buộc sự chủ động, tính phản biện của cá nhân, chữ “lễ” đó có tác dụng nào tích cực không anh?

***

Giống như ông Lê Học Lãnh Vân, đề nghị của ông Trần Ngọc Thêm là lý do khiến ông Nguyễn Văn Nghệ viết một bài dài với rất nhiều dẫn chứng từ thực trạng xã hội Việt Nam để chứng minh: Tất cả cũng bởi “vô lễ” mà ra! Xã hội mà “vô lễ” thì “trên không ra trên, dưới không ra dưới” (4). Sau 1954 – thời điểm Việt Nam bị chia đôi thành hai quốc gia biệt lập. Miền Bắc không còn ai nhắc: “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Ông Nghệ ôn lại chuyện cũ: Sau gần 20 năm “đào tận gốc, trốc tận rễ” mọi thứ… tàn dư phong kiến, thực dân, năm 1973, nhà giáo Nguyễn Lân ở miền Bắc XHCN rụt rè đề nghị: “Có nên vận dụng phương châm ‘tiên học lễ hậu học văn’ trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” khi… “một số trẻ em không ngoan, trong nhà thì bướng bỉnh với cha mẹ, ra đường thì hỗn láo với mọi người, đến trường thì xấc xược với thầy giáo”. Đề nghị đó bị lên án như nỗ lực bới lại… rác bẩn và nếu Thủ tướng khi ấy là ông Phạm Văn Đồng không can thiệp thì không rõ số phận của nhà giáo Nguyễn Lân sẽ ra sao trong đợt đánh hội đồng này… Năm 1975, sau khi miền Nam được… giải phóng, đất nước thống nhất, giống như miền Bắc XHCN, “Tiên học lễ hậu học văn” bị đục bỏ khỏi sinh hoạt học đường và sinh hoạt xã hội…

Không phải tự nhiên mà cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, “Tiên học lễ, hậu học văn” xuất hiện trở lại trong sinh hoạt học đường ở cả hai miền Nam, Bắc. Ông Nghệ nhắc rằng, không phải tự nhiên mà cổ nhân đúc kết: “Bất học lễ vô dĩ lập”(Không học lễ thì không thể nên người) và người thật sự có văn hóa thì theo phương châm: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (Không phải lễ thì chớ trông, không phải lễ thì chớ nghe, không phải lễ thì chớ nói, không phải lễ thì chớ làm).

Dẫn một nhận định của ông Nguyễn Thế Hùng khi xảy ra scandal “công chức bẻ hoa, chụp ảnh”: Đạo lý xã hội suy đồi, cái đúng, cái sai không phân biệt được. Ở Việt Nam bây giờ, ngay trên các phương tiện truyền thông đại chúng và quan niệm xã hội rất lệch lạc nên cái đúng, cái sai người ta không hiểu được. Điều này rất đáng buồn. Những người biết cái đúng và muốn tuyên truyền thì có khi nhà nước không cho làm. Những xã hội dân sự muốn truyền bá cái đúng thì lại không được nhân rộng, phổ biến, cho nên những điều không đúng có dịp sinh sôi nảy nở. Nói cho cùng người ta gọi nhà dột từ nóc dột xuống là như thế”… ông Nghệ phê phán việc phân biệt xuất xứ của “Tiên học lễ, hậu học văn”nếu điều đó đúng, có thể áp dụng vào đời sống của quốc gia, của dân tộc thì có gì ngại về “xuất xứ” để phải phân biệt?

***

Giữa “lời qua, tiếng lại” về đề nghị của ông Trần Ngọc Thêm, Tầm Dương không bình luận mà đưa lên facebook bài “Tiên học lễ – vấn đề không chỉ của nhà trường” mà ông từng viết cách nay 21 năm với kết luận: Lễ là biểu hiện đạo đức luân lý và kết tinh quan niệm giá trị chung nhất của toàn xã hội, là một bộ phận của hệ thống chuẩn mực xã hội và một phương tiện của hệ thống quản lý xã hội, thấm vào mọi cơ tầng của hoạt động sống của con người cũng như mọi chi tiết của hệ thống giao tiếp xã hội, có cơ cấu nội tại riêng biệt và cơ chế phát triển độc lập như một thực thể xã hội. Vậy thì “Tiên học lễ” đâu phải chỉ là vấn đề của nhà trường (6)?

Trần Văn

Chú thích

(1) https://www.vietnamplus.vn/giao-su-tran-ngoc-them-de-xuat-bo-khai-niem-tien-hoc-le-hau-hoc-van/755333.vnp

(2) https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tranh-cai-de-xuat-bo-khau-hieu-tien-hoc-le-hau-hoc-van-795943.html

(3) https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1878142242395216&id=100005983757010

(4) https://www.facebook.com/tiengdanbao/posts/4487698327974841

(5) https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=646797146557560&id=100036818401918

“Học lễ” có phải là học “thừa hành”, “phục tùng” người trên?

Hoàng Tuấn Công

26-11-2021

GS. Trần Ngọc Thêm cho rằng, phải bỏ câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”, vì đây là “sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo, phục vụ cho mục tiêu đào tạo người thừa hành, coi việc đòi hỏi người dưới phải phục tùng và giữ “lễ” với người trên là yêu cầu số 1”.

Vậy có đúng trong thực tế, “học lễ” trong “Tiên học lễ, hậu học văn” được hiểu là học “thừa hành”, “phục tùng” người trên không?

Chúng thử tra từ điển xem sao:

-“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam” (Vũ Dung – Vũ Thuý Anh – Vũ Quang Hào – NXB Văn Hoá – 2000) giải thích: “tiên học lễ, hậu học văn: […] Một kinh nghiệm giáo dục trẻ em: trước hết là phải học lễ nghĩa đạo đức, sau mới học chữ nghĩa văn chương”.

“Đại từ điển tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên) và “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS. Nguyễn Lân) có cách giải thích tương tự.

Cách hiểu về “học văn” của các nhà biên soạn từ điển hơi máy móc, nhưng giải thích “học lễ” như vậy là phù hợp với cách hiểu, cách dùng của các nhà biên soạn sách quốc văn cách đây hơn 100 năm.

Cụ thể, trong lời tựa của Quan chánh Đốc-học Bắc-kỳ (1915) cho cuốn sách “Sơ-học độc-bản” của Nguyễn Quang Ánh và Nguyễn Đình Quế, có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lời tựa như sau:

“Các con. Sách học bây giờ ngày càng nhiều thêm lên, là cốt để các con dùng; này đây là một quyển sách bài ngắn, dễ hiểu, ta chắc các con xem tất phải lấy làm thích.

Các con tuổi còn thơ, nguyên lý của các sự vật các con chưa hiểu thấu, nên các con chưa thiết mấy. Các con chỉ thích những chuyện vui, bài ngụ-ngôn trong có lắm điều kì dị mà lại hợp với sự thực, có súc vật, có cây cối ăn nói như người mà vẫn giữ được nguyên tính, vì cái tưởng tượng của các con còn non nớt, nên các con xem những chuyện này vẫn lấy làm vui.

Đọc sách này các con mới biết được điều gì nên làm điều gì nên tránh. Mục đích của người làm sách này là khai tâm tính của các con trước khi luyện trí: “Tiên học lễ, hậu học văn”, nghĩ như thế là rất phải vì biết ăn ở cho phải đạo là điều nên học trước hết. Học giỏi là điều nên khen, nhưng học giỏi lại có nết na mới thực đáng khen hơn mà vừa được mọi người quý mến.

PÉRALLE – Quan chánh Đốc-học Bắc-kỳ

Hà-nội, ngày 30 tháng mười một năm 1915”.

Chúng ta thấy “lễ” trong “Tiên học lễ, hậu học văn” đã được các nhà biên soạn sách quốc văn hồi đầu thế kỷ 20 giảng giải một cách ân cần, thân thiện, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của lứa tuổi nhỏ. Lễ là nết na, đức hạnh. “Học lễ” là tu dưỡng đạo đức, học đạo lý làm người, chứ không phải học phục tùng, thừa hành cấp trên theo kiểu “lễ trị”.

Như vậy, nếu lấy lý do “Tiên học lễ, hậu học văn” là “đào tạo người thừa hành, coi việc đòi hỏi người dưới phải phục tùng và giữ “lễ” với người trên”, nên phải loại bỏ khỏi môi trường giáo dục như GS. Trần Ngọc Thêm đề xuất là không có cơ sở.

P/S: Đáng chú ý đến năm 1923, cuốn sách “Sơ-học độc- bản” này đã được tái bản tới lần thứ 7. Trong sách có nhiều bài tập đọc nội dung giản dị, lời lẽ ân cần, giáo dục đạo đức cho trẻ rất hay.

Ở đây không bàn chuyện bỏ hay không bỏ câu khẩu hiệu, mà chỉ bàn về chữ nghĩa, cách hiểu khái niệm “học lễ” trong “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Ảnh chụp sách “Sơ-học độc-bản”. Nguồn: Thư viện QGVN.

Truyền thống “tiên học lễ” và tư duy phản biện

26/11/2021

Lê Học Lãnh Vân

26-11-2021

Là người ưa chuộng hoạt động thảo luận trong xã hội, tôi theo dõi tham luận của giáo sư Trần Ngọc Thêm tại hội thảo “Văn hoá học đường trong bối cảnh đổi mới GD-ĐT” với tinh thần lắng nghe, học hỏi. Bài viết này xin thảo luận với ông và với những người quan tâm về quan điểm của ông rằng khi học Lễ con người sẽ trở nên thụ động, mất tư duy phản biện.

Cũng như ông Trần Ngọc Thêm, tôi rất xem trọng tư duy phản biện vốn là một thuộc tính thường thấy của con người tự do, chủ động, sáng tạo. Bài viết này không đề cập tới việc giữ hay bỏ quan điểm “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn”, mà chỉ bàn về mối quan hệ của quan điểm này với tư duy phản biện.

Học tiểu học, trung học tại Miền Nam (tức tương đương ba cấp phổ thông hiện nay), tôi quen thuộc với quan niệm Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn mà khẩu hiệu được khắc hay treo trang trọng tại trường học dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà.

Hè năm lớp Mười, nhờ quen biết gia đình, được học thêm chữ Hán với giáo sư Nghiêm Toản. Thầy Nghiêm Toản là bậc túc nho, về sau theo tân học. Trước năm 1945 Thầy giao thiệp gần gũi với các ông Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Hiến Lê trong nhóm Thanh Nghị. Xin mở ngoặc rằng thầy dạy thêm vì muốn truyền dạy chữ, không phải vì thu học phí!

Thầy giảng cho nghe rằng:

“Lễ là những phép tắc giao tiếp với người khác tỏ lòng kính trọng”

“Lòng kính trọng luôn luôn có hai chiều, có lễ của thần tử đối với quân vương, mà cũng có lễ của quân vương đối với thần tử”

“Chúng ta ngày nay đã theo tân học, chữ Lễ cũng nên hiểu theo thời đại mới. Xã hội đã dân chủ, xã hội không thể không có lễ, nhưng là lễ giữa những người bình đẳng, tự do”

Bây giờ, trong giao tiếp với những người trong xã hội, nhất là với người đáng quý, đáng trọng, khi cùng nhau thảo luận, điều gì mà có ý kiến khác thì tôi không dám không nói ra. Ấy là bởi lời của Thầy năm xưa còn văng vẳng: “Lấy Lễ đãi nhau, không gì bằng lời nói thật. Câu quân tử chi giao đạm nhược thuỷ quý ở lòng chân thành”. Như vậy, với tôi, chữ Lễ không những không ngược với tư duy phản biện mà còn thúc giục người ta nói lời phải, nói lời phản biện thật lòng!

Anh Trần Ngọc Thêm thân mến, xin được gọi anh như vậy cho cuộc thảo luận này không có sự xa cách. Có đúng tinh thần của chữ Lễ trong thời cận đại và hiện đại là sự ràng buộc một chiều, chiều từ người dưới tôn trọng người trên không? Tôi không biết nên xin hỏi để lắng nghe anh.

Phần tôi, từ lúc bắt đầu đi học tới nay, tôi luôn nghe, hiểu Lễ có hai chiều. Ông Hoàng Xuân Hãn cho tới những năm tám mươi tuổi, khi tiếp ai vẫn mặc âu phục, khoác áo veste, cho rằng mình phải giữ lễ với người ta. Người ta đó có khi là con cháu ở quê nhà sang Pháp ghé thăm ông. Ông Hoàng Xuân Hãn lớn hơn tôi gần năm chục tuổi, tôi thường lui tới nhà ông học hỏi, rất thân thuộc, vậy mà khi có hẹn làm việc, luôn luôn ông ra bàn làm việc ngồi năm mười phút trước giờ hẹn, với đầy đủ tài liệu cần thiết đã được soạn sẵn. Ấy cũng là ông cụ muốn giữ Lễ.

Kẻ hậu sinh này chưa bao giờ không dám nói ra điều mình suy nghĩ khác với ý của ông, trái lại còn e không nói ra là mình thất Lễ. Chữ Lễ theo cách hiểu tích cực như vậy luôn đẩy mạnh trong tôi tinh thần phản biện. Đọc, hiểu thấu đáo và phản biện chân thành, với tôi, cũng liên quan tới Lễ của tôi đối với ông. Tôi nghĩ đây không là ý kiến chủ quan của riêng mình, đó là cách không ít người hiểu và diễn giảng từ Lễ, một từ mà ý nghĩa của nó tiến hoá và thích nghi với thời đại mới.

Đặt vấn đề xa hơn một chút, tôi thực lòng nghĩ tư duy phản biện không bị trói buộc bởi quan niệm “Tiên Học Lễ”. Nó bị trói buộc bởi cả một cách tổ chức xã hội trong đó ngôn luận không được tự do và cả tư tưởng không được tự do. Khi không có tự do báo chí thì rõ ràng không có tự do ngôn luận. Khi luật pháp có thể bỏ tù người dân vì ý nghĩ trong đầu của họ thì rõ ràng không có tự do tư tưởng rồi.

Điều này được thể hiện ở mức hạ tầng hơn, trong trường học, qua cách giáo viên có thể theo dõi hay can thiệp vào các trao đổi trên mạng của học sinh, nhà trường cũng có thể làm vậy đối với giáo viên. Điều này cũng được thể hiện ở mức thượng tầng hơn, như quá nhiều thông tin được đánh dấu mật dù không liên quan tới an ninh quốc gia, như nhiều thông tin về những sự việc ai cũng biết đã xảy ra mà không một tờ báo chính thống nào đăng tải! Thông tin một chiều, hạn chế thông tin và môi trường thiếu tự do tư tưởng tất nhiên trói buộc tư duy phản biện.

Anh Trần Ngọc Thêm thân mến, anh có nghĩ rằng xã hội đơn nguyên và chuyên chính là nguyên nhân của các nguyên nhân kể trên, do đó là tác nhân quan trọng trói buộc tư duy phản biện không? Và do đó, có phải đó là tác nhân đào tạo nên những con người thụ động, không chủ động, không sáng tạo như sự lo lắng của anh không?

Anh nghĩ sao về nhận xét rằng trong xã hội mà cá nhân quá nhỏ nhoi trước cơ quan, mà cấp trên có quá nhiều quyền lực với cấp dưới, mà sự bình đẳng thiếu vắng thì chữ Lễ được hiểu theo nghĩa của ngàn năm phong kiến xưa? Trái lại, trong xã hội mà sự bình đẳng hiện diện rộng rãi, mà tự do của con người được tôn trọng và bảo vệ thì chữ Lễ được hiểu một cách phóng khoáng, do đó không còn ràng buộc cấp dưới sợ hãi, phục tùng cấp trên, không còn trói buộc tính chủ động, tính phản biện của cá nhân? Chữ Lễ đó có tác dụng nào tích cực không anh?

Phụ Đính

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.