hết giãn cách vì “cô Vít”ôn Thái Cát Thân Trọng Tuấn(có bà con chi với Thân Trọng Phước ngày xưa khôn ?)mời mấy ôn mụ Huế đi ăn “Chè thịt heo quay”

tài liệu thư giản mùa ôn dịch

See the source image

VĂN HÓA RUỒI BU

CHÈ THỊT HEO QUAY

                             Hình: cooky.vn

Năm 1973, lần đầu tiên Viện Đại Học Huế tổ chức ra trường liên khoa gồm Khoa Học, Luật Khoa, Sư Phạm, Văn Khoa và Y Khoa. Các Tân Khoa mang áo đội mũ do Viện Đại Học Huế mượn của các đại học trong Sài Gòn, sắp hàng hai đi bộ từ trường lên Viện Đại Học dự lễ tốt nghiệp.

Tôi cũng mang “tô” đội mũ xênh xang. Bạn Khoa học là Robert Mai Văn Hóa tức “Hóa Be” chụp cho tôi mấy tấm hình trước bậc thềm của Viện Đại Học và một tấm hình cười toe trước sân trường Sư Phạm. Hai đứa qua tiệm ảnh La Cảnh Lưu bên đường Trần Hưng Đạo nhờ rửa phim và tráng thử. Phải chờ vài ngày vì tiệm ảnh vốn nổi tiếng này quá đông khách đến sang ảnh ra trường. Tôi mua một khung ảnh và lồng kiếng tấm hình tôi đứng trước sân trường Đại Học Sư Phạm, xong mang lên Nguyệt Biều trình với cô Kim, người hằng lo cho tôi như con và tôi kính trọng thương yêu như người sinh ra tôi. Lắm lúc tôi muốn bắt chước đứa em út của tôi kêu hai tiếng “Mạ Cô”, nhưng không dám. Trong nhà Bà nội, chúng tôi gọi các chị và em gái của ba tôi mang họ Thân trọng là “Cô”. Chúng tôi gọi các chị và em gái của ba tôi mang họ Hoàng trọng của bên nhà Bà nội bằng “O”. Cô ngắm tấm hình, cười vui tươi, xong biểu tôi treo lên bức tường gỗ dưới chân bộ ngựa mít tôi hay nằm ngủ trưa.

Cô Kim hỏi thăm hai người nữa cũng ra trường cùng ngày là em Thân Trọng Hóa tức “Hóa Xì Tôn (Hóa Stone)” học Khoa Học ra kỹ sư Tạo Tác, sau chuyên ngành thủy điện, và cháu Thân Trọng Thị Túy Diễm ra trường Cử nhân Anh Văn với danh dự Thủ Khoa Liên Trường của Viện Đại Học Huế. Túy Diễm dạy Kiểu Mẫu một năm, và năm sau 1974 du học Hoa Kỳ, trường PSU (Pennsylvania State University). Tháng 6, 1975 trong trại tỵ nạn Indiantown Gap ở thủ đô Harrisburg, Pennsylvania tôi và Nguyễn Cửu Châu đi nghe giáo sư Camelia hát nhạc Việt, trong đó có bài Nha Trang Ngày Về của Phạm Duy. Camelia vốn là giáo sư người Mỹ, dạy Văn Khoa Huế, là thầy của Túy Diễm, và Túy Diễm lại là người viết hộ những bức thư tình cho người bạn gái để Camelia vào làm rể nhà Trưởng Trần Điền dòng dõi quan Đại Thần Trần Tiễn Thành, và Túy Diễm về sau cũng vào làm dâu nhà Trưởng Trần Điền luôn. Nguyễn Cửu Châu cũng là học trò của Camelia, do đó xin được địa chỉ của Túy Diễm đang theo học tại PSU cho tôi.

Sau khi tưởng đôi mắt bị “tợp bì lời” vì lá thư của tôi, Túy Diễm vào trại Indiantown Gap thăm tôi. Năm 1976, tôi từ thành phố Rochester, New York, lái xe về PSU thăm Túy Diễm. Tên hiệu của trường PSU là “Lion” tức “Sư Tử Đực” nhưng lại tạc tượng con sư tử cái “Lionese”. Túy Diễm cũng thắc mắc như tôi không hiểu tại sao. Sau năm 1975, hầu như các sinh viên Việt Nam, Lào và Kampuchia của PSU bị cúp hết học bỗng, không mượn được nợ sinh viên (Student Loan) và những trợ cấp khác cho sinh viên du học như trước nữa. Đây là do William J. Duiker là một nhà sử học và là giáo sư chuyên ngành lịch sử Đông Nam Á tại Đại học PSU bang Pennsylvania. Nghiên cứu của ông tập trung vào lịch sử Việt Nam. Ông viết bài do Hà Nội cung cấp tài liệu, ca tụng Việt Cọng và các lãnh đạo Hà Nội trong khi tình nguyện phục vụ ở bộ ngoại giao Mỹ tại Sài Gòn. Sự láo lếu trơ trẽn của William J. Duiker thấy rõ ràng nhất trong cuốn “Ho Chi Minh: A Life” đến nỗi kẻ tôn thờ chủ nghĩa cọng sản là Nguyễn Thành Nam đã phải bỏ băng không dịch gần nửa cuốn.

Tôi dài dòng về Túy Diễm vì tình thân gia tộc, và cũng vì liên quan với lịch sử món CHÈ THỊT HEO QUAY độc đáo của xứ Huế thân yêu.

Sau khi treo xong khung ảnh lên bức tường gỗ quý giá đã được cô Kim cho phép đóng đinh, tôi nhìn lên và cũng cười theo hình tôi trong khung ảnh!

Cô Kim hỏi tôi muốn ăn mừng ngày ra trường không? Tôi lắc đầu vì sợ phiền toái. Cô Kim chợt hỏi tôi “Cò Riếng có biết làm thịt heo không? Giống như mấy chú vẫn làm trong những ngày kỵ đó!” Tôi thưa ngay “Dạ thưa cô: Được!” Cô cười tươi “Rứa thì ta cho lựa bắt một con heo trong chuồng mà làm tùy ý!”

See the source image

Cô Kim có bốn con heo “noại” trong chuồng mập tròn hỉn như mấy trái bí đao. Tôi chọn con nhỏ nhất khoảng dưới 10kg, cỡ như con lợn ỉn ở Thanh Hóa vẫn gọi là “Lợn cặp nách”. Xong, tôi băng hàng rào, qua nhà ông tôi là Thân Trọng Công, trước thưa chuyện định làm thịt heo, sau xin ông cho hai chú con của ông là chú Quắn và chú Tý sang giúp việc. Ông cười nhìn tôi với đôi mắt nheo nheo kỳ lạ! Ông hỏi tôi “Rứa thì eng Cò Riếng định làm cái món chi?” Tôi thưa “Dạ làm heo quay!”

Hai chú Quắn 16 tuổi, và Tý 14 tuổi, hăng hái việc phụ giúp. Cũng như tôi đã rất nhiều lần trông thấy cảnh mổ heo làm kỵ hàng năm, nên mỗi người tùy theo sự hiểu biết, chia lo công việc. Sắp xếp xong các thứ, tôi nhảy vô chuồng lôi con heo út ra. Đè heo ra ghế mổ, chú Tý giữ hai chân sau, chú Quắn giữ hai chân trước, tôi cầm tai con heo kéo ngược lên, đưa ngang con dao phay sắc lẻm ngay cổ con heo cứa một nhát thiệt êm, xong quay mũi dao chỉa vào chỗ cứa làm một phát xuyên tâm thật ngọt, dúi đầu con heo xuống cho huyết chảy vào chậu, sau đó xoáy con dao phay quậy qua quậy lại hai lần thiệt điệu nghệ trước khi kết thúc. Cây tre xuyên con heo từ đuôi qua bụng ức rồi ra khỏi miệng không đúng cách, nên lưng của nó cứ xoay xuống phía than hồng, chỉa hai bộ chân trước và sau chổng lên trời, không chịu nằm yên. Ông Công lúc đó vì gần nhà mà xa cửa ngõ, cũng đã băng hàng rào qua xem chúng tôi làm việc như thế nào. Thấy con heo cứ quay tuột trên cây tre, ông liền ra tay sửa lại nên không còn quay tuột nữa! Trên đống than hồng, con heo quay chuyển động từ từ theo tay quay, nước lạnh và các vị tây đinh, tây hồi được phết đều đặn bằng cọng lá chuối đập dập. Mùi ngậy của mỡ heo theo làn khói xông lên làm cho tôi dần dần trở nên ngột ngạt, khó thở và dợm buồn nôn. Hai chú Quắn và Tý hớn hở tươi cười với hai má ửng hồng. Hai chú không nói một lời, chăm chỉ làm phận sự.

Từ khi chúng tôi bắt tay vào việc, cô Kim chỉ ở nhà trên, lắng nghe tiếng heo kêu, không ghé mắt hay hỏi thêm một tiếng nào cả. Khoảng bốn giờ chiều, chị Thừa nhà ở cuối xóm Vạn Phước, trên đường đi chợ Hổ Quyền về, ghé qua thưa chuyện với cô Kim về việc giá cả “chuối lau” của buổi chợ hôm nay. Ở sau bếp, tôi nghe rõ giọng chị Thừa “Dạ thưa cô, bữa ni chuối trầu rẻ như đất, còn cá mú thì đắt như vàng!” Tiếp theo những lời nho nhỏ nghe không rõ, tiếng cô Kim “Mụ xuống coi chúng nó có cần chi thì giúp vô một tay”. Tôi đang khó nghĩ khi phải dùng mảnh vỏ nứa rạch rửa bộ đồ lòng, lộn cái bọc chứa từ trong ra ngoài “thiệt là rất mất công và vô cùng phiền toái”. May phước, chị Thừa đã đon đã chào cười “Chà cậu Cò Riếng giỏi ghê hè! Ba người quay heo ăn mừng vinh quy bái tổ! Đãi tiệc cả xóm phải không?” Trong khi chị Thừa lo bộ đồ lòng, xong nấu nồi cháo, tôi nhờ chú Tý chạy về nhà mời “ôn mụ” Công, tiện thể ghé nhà mời anh Thừa chồng chị Thừa và hai đứa con đến dùng bữa.

Mâm bàn bày ra, cô Kim chỉ đứng nhìn qua, khen “Kể cũng giỏi!” rồi bỏ lên nhà trên. Mọi người ăn uống, nói cười vui vẻ, lại chúc tôi đủ điều. Riêng tôi thấy mệt, ớn bứ cả cổ, không thể ăn được miếng nào, chỉ biết ngồi nhìn. Ông Công thong thả nói “Sự thiệt là như rứa! Mỡ heo bốc hơi khi quay hít vào làm đầy bụng, nghẹn cổ, ớn miệng là thường. Thôi thì chịu khó lấy cái đầu heo và ít thịt đem về dưới cư xá mà ăn!”

Trên đường về lại cư xá Sư Phạm, tôi mua một lít rượu nếp chứa sẵn trong chai đựng nước biển quân đội tức chai xê rum. Tuy đã qua giờ cơm tối, nhưng phòng của Phan Minh Tráng ban Việt Hán cũng lục tục kéo vào các bạn Lê Khuê, Dương Đình Đổng, Hồ Ngọc Thỉ thuộc ban Sử Địa. Phan Thành Khương ban Việt Hán không qua, chúng tôi đùa là “Ngài đã vào thiền!”. Phan Minh Tráng sang sảng ngâm thơ. Tôi vừa lắng nghe, vừa ngắm bức tranh Tráng tạm sao lại bức “Guitarist” của Picasso treo trên tường. Tráng thay hình chiếc đàn guitar thành chiếc đàn bầu, nôm na là Độc Huyền Cầm. Miếng thị heo quay có lớp da đo đỏ chơi chung với ly rượu nếp trắng như sữa cũng ngất ngây. Cuộc vui đằm thắm xảy ra trên nền nhà. Tự nhiên tôi chợt cảm thấy rõ ràng sau lưng tôi là đường Đội Cung chạy ngang trước mặt cư xá Sư Phạm. Cứ vậy, đi về hướng trái ba bước sẽ gặp đường Nguyễn Thị Giang. Quẹo trái đi xuống cuối đường Nguyễn Thị Giang là đường Nguyễn Công Trứ có quán chè Trinh và ngã ba Chợ Cống. Quẹo phải vào đường Nguyễn Công Trứ, sẽ gặp Quán Sầu bên phía tay trái. Quán Sầu chỉ mở về đêm, nổi tiếng với món Chè Mè Đen và Chè Thịt Heo Quay. Những bộ bàn ghế của quán kê rãi rác cạnh các gốc cây trong vườn dưới ánh đèn Black Light mờ ảo, thấy rõ mấy cái răng trắng nhấp nháy khi nói chuyện. Thì cũng gọi là thơ mộng chút chi! Bạn tôi, Nguyễn Văn Anh, tên cúng cơm là Ngọc, sinh viên Khoa học Huế, thèm ăn chè Trinh đến độ “bợ cộ” luôn cô Trinh đang độ cặp kê xinh xắn về làm “Áp sảnh phu nhân”. Nguyễn Văn Anh được cho là “Lý Tiểu Long” của xứ Huế. Sau 1975, Nguyễn Văn Anh mở lò huấn luyện cận vệ cho những ai cần, tiện thể dùng luôn cho vũ trường Ngọc Anh duy nhất của xứ Huế, ngay trước trường Nguyễn Tri Phương, do chính mình làm chủ vang bóng mười mấy năm rực rỡ đại gia.

Sáng hôm sau buổi nhậu, Dương Đình Đổng than với tôi là ly rượu nếp tối qua làm anh ta rêm mình nhức mỏi suốt đêm. Những người khác đều khỏe re. Chiều tối hôm đó, tôi ghé Quán Sầu ăn ly Chè Thịt Heo Quay “riêng một chắc!”

*

See the source image

Năm mươi năm âm thầm trôi qua…

Tám giờ tối, tôi gọi điện thoại từ California về Đà Lạt thì đã là 10 giờ sáng, nói chuyện với Nam Giao Tiểu Lão. Hình như “eng hơi nhác chơi” nên điện thoại reo gần mười hồi chuông mới chịu bắt trước khi tôi định cúp máy, vì cho rằng Nam Giao Tiểu Lão vắng nhà. Tôi cho hay là đang soạn bài “Tôn Sư Trọng Đạo”, cần dò hỏi chính xác họ và tên của các thầy dạy ngữ học là thầy Tịnh (Văn Khoa), thầy Chính (Sư Phạm, không phải thầy Trương Văn Chình), nhưng Nam Giao Tiểu Lão có lẽ chỉ chuyên vào thiền trong đám mây năm sắc của Đà Lạt nên không có “chịu dớ”.

Tôi lan man cắc cớ hỏi Nam Giao Tiểu Lão có nhớ đủ “trăm họ” của Việt Nam không? Cụ ta ngần ngừ. Tôi lại hỏi là cụ có biết ở Huế, có một họ Trấn không? Trấn đồng âm với Trấn thủ, Trấn đóng, không phải là Trần như ở trần không mặc áo. Nam Giao Tiểu Lão nói là chưa hề nghe, chỉ nghe có họ Ma. Lại bảo có biết một chị họ Ma rất đẹp tên là Ma Thị Cẩm Vân ở mô đó trên Nam Giao. Ừ, thì cụ mi cứ giữ lấy bóng dáng chị họ Ma mô tê để tha hồ tụng câu “Như thiết như tha như trác như ma”. Riêng những người mang họ Trấn Định không nhiều, hiện tại trên trái đất này, số người mang họ này đếm chưa tới tổng số các ngón tay và ngón chân của cả hai nguời bình thường không khuyết tật, có nghĩa là chưa tới bốn mươi người! Như rứa thì Nam Giao Tiểu Lão mần răng mà biết được đã chư? Phải là thứ óc mó và gặp may như Thái Cát thì mới có thể may ra cẩm chút! Người mang tên họ Trấn Định khi điền giấy tờ khai lý lịch bằng chữ tiếng Việt Nam luôn luôn bị cho là người dân tộc thiểu số ở mô tê tuốt xuống tận xứ Truồi, Cầu Hai, Đá Bạc, … vì lẽ ngay cả cái họ của mình là Trần mà viết cũng không xong, đổi dấu huyền qua dấu sắc thành Trấn! Khóa Lương Văn Can, ban Việt Hán không có ai mang họ Trần Đình, và cũng chẳng có ai trong lớp là người thiểu số mang họ Trấn Định! Lát nữa, Thái Cát sẽ điểm danh vài người mang họ Trấn Định và thân thế trình làng trong bảng ghi chú cuối bài.

Chút tâm tình kể chuyện đời xưa.

Gia phả Nguyễn Phước Tộc tức của triều Nguyễn Gia Long ghi Quý Nhân Nguyễn Thị Hạnh, người huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên sinh cho vua Minh Mạng hai hoàng tử và một hoàng nữ. Nguyễn Phúc Miên Miêu là hoàng tử đầu lòng. Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ ghi là Miên Cầu. Theo lệ, bà phi khi sinh con trai trưởng thì sau khi sống tròn qua 12 con giáp, cần chuẩn bị học giữ nghi lễ và cách ăn nói để nhận phong hàm quận công. Khi Miên Miêu 15 tuổi, vua phong là Trấn Định quận công, lại ban cho chữ bộ Ngõa để năm sau thành thân cưới tiểu thơ người dưng khác họ vừa vào lứa tuổi 12, dùng khi có con trai sẽ dựa theo chữ Hán có bộ ngõa mà đặt tên hầu phân biệt phủ đệ thế thứ trong hoàng tộc. Tính theo danh sách thứ bậc các hoàng tử của vua Minh Mạng, Miên Miêu hay Miên Cầu là Hoàng tử thứ 56. Em trai Miên Miêu là Nguyễn Phúc Miên Ổn, hoàng tử thứ 61, theo lệ con trai thứ không được phong tước. Đến tuổi 15, vua theo chữ Hán ban cho Miên Ổn bộ Giốc để theo đó đặt tên cho con trai. Hoàng nữ là Công chúa tên Nguyễn Phúc Trang Nhân, công chúa thứ 23 của vua Minh Mạng.

Viết ngang đây, xin nhắc rõ là bắt đầu đi vào ngôn ký, tức là những lời kể lại của bà Công Tằng Tôn Nữ Thị Quế, gọi Quận Công Miên Miêu là ông Cố nội, cùng thêm chút ít sử ký các thứ. Bà Quế là người sinh ra Thân Trọng Thị Túy Diễm, học Văn Khoa, ban Anh Văn, đậu cử nhân hạng danh dự Thủ Khoa Liên Trường của Viện Đại Học Huế năm 1973. Bà Quế lại là bà chị dâu trưởng của Thái Cát, người mà Thái Cát vừa tôn kính là chị dâu trưởng, vừa như người mẹ thay cô Kim sau khi cô qua đời. Thái Cát vẫn đến hầu thăm chị sau khi chị sang Mỹ do Túy Diễm bảo lãnh, sống ở Orange County, California. Hai chị em quyến luyến, thường cùng nhau kể chuyện gia đình. Rất nhiều lần chị Cả Quế nói “Tuy là chị, nhưng chị coi em cũng như thằng Dũng, con của chị. Hai đứa cũng đồng tuổi như nhau!” Tính tôi thích nghe người ta kể chuyện, do đó tôi cứ gợi ý ra để nghe chị kể. Chị kể từ thuở mới vào làm dâu họ Thân trọng, đến chuyện được vào cung Diên Thọ, mỗi lần ở lại vài mươi ngày theo lời của ông em họ bên ngoại đang giữ chức quan Ngự Y và ông cậu đang giữ chức Tổng Quản Thái Giám biệt danh Mệ Thái, để chị trả lời những câu hỏi về chuyện ngoài đời bên tê cánh cửa của cung Diên Thọ cho ba bà Chánh Phi, Thứ Phi và Giai Phi nghe. Rồi lại kể chuyện xảy ra của Trấn Định phòng trong Trấn Định phủ. Từ đây, tôi biết thêm sự tích Chè Thịt Heo Quay.

Ngày xưa! Những hoàng tử của vua Minh Mạng sau khi được phong tước Quận Công, bộ Hộ liền kiếm đất để các quận công lập dinh, dựng phủ. Phần đất phía tây sông An Cựu giáp phía nam sông Hương, ngó qua cồn Dã Viên, đến dốc Bến Ngự là nơi neo thuyền rồng khi tế Nam Giao vẫn còn là đất trống, liền lấy ban cho Trấn Định Quận Công xây phủ. Kế tiếp, từ dốc Bến ngự đi dọc theo bờ sông đến xóm Phú Cam cũng thuộc xứ Tứ Tây, đã ban cho hoàng tử thứ 51 là Trấn Biên Quận Công Miên Thanh. Vào đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) một khoảnh đất lài lài dốc ngược ở xứ Tứ Tây đã bán cho nhà truyền đạo Thiên Chúa lập xóm Phú Cam, làm nơi trú ngụ. Về sau xóm Phú Cam lại là nơi đày những người theo đạo Thiên Chúa, lập phủ Trấn Biên, dựng nhà thờ Phú Cam, cất nhà cho hiệu trưởng trường Quốc Học là cụ Ngô Đình Khả, v.v.

Quận Công Miên Miêu nhận đất phong, cho thuyền đậu bến dưới dốc Bến Ngự, xong đi dọc theo sông An Cựu về phía ngã ba sông Hương, chọn khoảnh đất trước chùa Báo Quốc lập dinh. Miên Miêu có cả thảy sáu người con, đều vui sống trong trang viện này. Người con gái đầu là Nguyễn Phước Trang Quảng kết bạn trăm năm với vị Tổng Quản Thái Giám và cũng là vị thái giám cuối cùng của triều Nguyễn Gia Long, danh xưng Mệ Thái thọ trên trăm tuổi, cũng giống như Lê Văn Duyệt cưới vợ rình rang, nhưng chỉ có mỗi một bà gốc hoàng phái, vẫn được gọi là bà Quản! Quận Công Miên Miêu sinh hoàng thân Hồng Chuyên và hoàng thân Hồng Linh. Cả hai đều bỏ ngành văn theo ngành võ, tài nghệ siêu quần, có tài điều binh khiển tướng, lại có thuật cỡi nón sang sông, dùng roi cây dâu tằm trị quỷ ma các thứ.

See the source image

Vua Tự Đức mất, ba phụ chánh đại thần tạm thời chấp chưởng là Đệ Nhất Đại Thần Trần Tiễn Thành, Đệ Nhị Đại Thần Nguyễn Văn Tường và Đệ Tam Đại Thần Tôn Thất Thuyết. Cả hai Hồng Chuyên, Hồng Linh đều phục vụ dưới trướng Tôn Thất Thuyết. Thuyết là con thứ 2 của đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim ghi “…ông Thuyết là quan văn làm tướng võ, nhưng hình dáng thì không được thanh tú: đầu thì trọc, người thì béo mà đen, cách đi đứng thì không được chững chạc, sự giao thiệp và đối đáp thì không sành. Xưa nay thì chỉ lấy quyền thế mà đè nén người ta, hơi một tí thì lấy sự chém giết làm oai. Đến khi phải ra theo lễ bang giao mà đối với một người tướng ngoại quốc như ông De Courcy thì trong bụng khiếp sợ không biết ra thế nào. Ông Tường thì là một tay giao thiệp giỏi, lại có nhiều mưu cơ và tài nghề ứng biến…” Trong thời gian này, ngay cả tên lính canh và đàn ông trong làng cũng giữ gìn để có mái tóc dài óng mượt, búi tóc đàng hoàng trông còn đẹp hơn cả mấy mụ bên hàng xóm, thì Tôn Thất Thuyết trên đầu lại không có lấy một sợi tóc. Nói chuyện tóc búi, tôi nhớ khi xuống sống trong nhà Bác Cả Hy, ra chợ Bến Ngự, đến sạp hàng anh Cả thợ may để may “áo quần học sinh”, thấy anh Cả thợ may thưa Mệ với một người búi tóc như cô Kim nhưng lại có chòm râu. Thắc mắc, tôi hỏi anh Cả thợ may người đó là đàn bà búi tóc sao lại có râu? Anh trả lời người đó là đàn ông nên có râu. Tôi hỏi “Đàn ông có râu sao lại búi tóc và anh lại kêu bằng Mệ?” Anh cười: “Thì đến nhà người ta mà hỏi!”. Đến nay tôi vẫn chưa biết người đó là Mệ nào, chỉ nghi là cụ Ưng Trạo, người đưa Trưởng Trần Điền trở lại đạo. Tường và Thuyết chuyên quyền bắt vua Dục Đức mới lên ngôi được 3 ngày, giam vào Dục Đức Đường, bỏ đói cho đến chết. Quan Ngự Sử Phan Đình Phùng bắt lỗi sự việc, Tường và Thuyết làm nhục bằng cách cho lột áo mão và cách chức Phan Đình Phùng giữa sân triều. Cách xử này còn đau đớn nhục nhã hơn là bị xử lăng trì, mỗi tiếng trống, xẻo một miếng thịt cho đến khi còn trơ bộ xương!

Phế vua Dục Đức xong, Tường và Thuyết tự quyền lập vua Hiệp Hòa. Tôn Thất Thuyết là quan võ, tự quyền bị vua Hiệp Hòa chuyển sang quan văn giữ chức Thượng thư bộ Lại, cùng với Nguyễn Văn Tường là quan văn bị vua chuyển sang quan võ làm Thượng thư bộ Binh. Sáu tháng sau cả hai Tường và Thuyết cùng nhau giết vua Hiệp Hòa. Quan đệ nhất Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành không bằng lòng, cũng bị Tường và Thuyết cho quân chém chết ở chân cầu thang cùng chặt đứt một cánh tay của người thiếp tại tư gia vùng chợ Dinh. Cái chết của vua Đồng Khánh nghi là do tay Nguyễn Văn Tường gây ra.

Một hôm quan đại thần Tôn Thất Thuyết, dựa theo luật cấm đạo Thiên Chúa, sai Hồng Chuyên và Hồng Linh mang một cánh quân về xã Phù Lương gần Phù Bài thuộc huyện Hương Thủy bắt giết những người theo “Tả đạo”. Hai người y lệnh. Kết quả như ý, thong thả ban sư. Tôn Thất Thuyết ghi công. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim ghi tiếp “…thống tướng (De Courcy) cho đòi hai quan phụ chính sang bên Khâm sứ để định việc vào yết kiến vua Hàm Nghi… ông Thuyết thì cáo bệnh không sang. Thống tướng thấy vậy, bảo đau cũng phải khiêng sang…

Thống tướng De Courcy hỏi chuyện bắt giết giáo dân Thiên Chúa ở Phù Lương độ nọ. Thuyết và Tường báo là sẽ tra rõ sự việc và trình lại sau. Tường và Thuyết cho bắt giam Hồng Chuyên và Hồng Linh vào tử lao ở An Hòa trong khi chờ làm án tử hai người. Có truyền rằng Thuyết thẳng tay chém đầu cháu khi lộ chuyện, bấn bíu lo lắng đến độ lú lẫn mất hồn sai giết nhầm con trai của y, xử trảm 40 quan, viên, tử, đệ của hoàng phái vì họ tỏ ý bất mãn về thái độ của Thuyết trước vận nước. Hồng Chuyên và Hồng Linh cũng bị Thuyết đưa ra pháp trường trong đường lối vắt chanh bỏ vỏ để thỏa mãn tính hiếu sát và làm vừa lòng thống tướng De Courcy một cách hèn nhát!

See the source image

Quan viên cai ngục vốn cảm phục hai tướng Hồng Chuyên và Hồng Linh, đã lén cho Hồng Linh ra khỏi ngục một ngày, cấp cho con ngựa để Hồng Linh về lạy bàn thờ và thăm các con trước khi bị chém. Hồng Chuyên vẫn ở lại trong ngục vì không có con, tự cho là bất hiếu, không dám về Trấn Định phủ. Hồng Linh lúc này mới 23 tuổi, có hai vợ và 6 người con. Về tới ngang sông Hương, người Kẻ Vạn không dám dùng đò đưa Hồng Linh qua sông. Hồng Linh liền gởi lại ngựa, vì đây là ngựa quan có ấn dấu, nên người Kẻ Vạn nhận giữ. Hồng Linh cỡi nón qua sông Hương, tiến vào sông An cựu, lên bờ vào phủ nhà Trấn Định. Xong việc, lại dùng nón quay về Kẻ Vạn, lấy ngựa lặng lẽ trở vào đại lao. Quan cai ngục cùng lính canh gác tù đồng lòng trong nghĩa cử đối đãi Hồng Linh. Ai nấy đều thở dài rơi lệ khi hai người bị dẫn ra pháp trường An Hòa, gần cống của sông Hậu Thành gọi là Cống Chém. Lệ tử tội, phải tốn nộp tiền mới được “Chém treo ngành”, đầu vẫn còn mảnh da dính vào cổ, không đứt lìa khỏi thân, nhờ vậy gia đình tử tội được lãnh luôn nguyên xác về chôn cất. Nếu không, thân nhân chỉ được phép mang đầu tội nhân về, còn thân thể thì ngục tốt đem chôn vào một nơi gọi là Mã Thí. Lại phải đút lót để được biết chôn nơi thân thể chỗ nào trong khu vực Mã Thí, rồi lại tốn tiền lần nữa để được âm thầm trong một đêm tối tăm bí mật bốc xác về chôn chung liền với cái sọ. Tất cả các tục lễ dành cho cái chết của tử tội đều bị nghiêm cấm, ngay cả tiếng thở dài, giọt lệ của người thân.

Sau khi Hồng Chuyên và Hồng Linh bị gia hình, Phủ Trấn Định liền bị phá hủy, đất vẫn là công thổ. Quận Công Miên Miêu mất tước Quận Công, toàn gia bị cắt hết bỗng lộc. Hồng Chuyên không có con nối dõi nên khỏi đổi tên. Hồng Linh phải cải tên là Hồng Thành. Chọn tên Thành có nghĩa hoàn thành, và bởi lẽ trong tất cả các chữ Thành, không chữ nào có bộ ngõa. Con cháu về sau vẫn gọi là Hồng Thành để khỏi phạm húy. Cả nhà Quận Công Miên Miêu xuôi Nam, ngang huyện Hương Thủy, mua đất ở Truồi, dựng lại Trấn Định phòng cho đến ngày nay. Chỗ đất cũ tại ngã ba sông Hương và sông An Cựu, người Pháp chiếm lãnh. Đến khi đặt đường sắt xe lửa thì xây nhà ga, cất cầu lòn, bắt cầu sắt qua sông Hương như đã thấy hiện nay. Con đường mòn ven sông được khơi thẳng xuống lăng Vạn Vạn ở An Cựu, tráng nhựa mang tên là đường Phan Châu Trinh. Đất bên bờ sông An Cựu cho đấu giá để lấy tiền góp phụ thêm vào việc cất đường sắt. Cụ Ưng Âu mua được một lô, cất nhà, phía trước giáp đường, phía sau là đường sắt xe lửa, nhà nằm giữa hai dốc Nam Giao và dốc Bến Ngự, có số địa chỉ là 20 Phan Châu Trinh. Sau 1975, chị Cả Quế cho biết nhà phải bán cho người khác với giá còn rẻ hơn mấy cục đất cày! Xuống một khúc, số nhà 40 Phan Châu Trinh là nơi Trịnh Công Sơn đã từng ở trọ. Đến gần cầu Phú Cam, có nhà của ông Tú tài Nguyễn Văn Anh, vẫn gọi là ông Tú Anh, thân sinh của nữ sĩ Túy Hồng, chị của hoa khôi Ngọ Thu, nguồn sáng tác của Trịnh Công Sơn qua bài Nắng Thủy Tinh. Sau xóm này là nhà Diễm và Dao Ánh cũng của Trịnh Công Sơn luôn. Cái bến Trâu cạnh bên tê chân cầu Phú Cam, lên con đường vào xóm Đường Đá, ngang qua sau lưng nhà cụ Ngô Đình Khả, lầu ông Bửu, thẳng ra xóm Cồn Mồ, Giếng Khe, vòng qua ngã ba Thánh Giá, nghĩa trang họ Ngô, nhà lầu ông Tây sản xuất dầu sả Đuya-ra (Gerald), nhà thờ Phú Cam, nhà đức ông “Mông xi nhê” đại diện tòa Thánh Vatican, phủ Trấn Biên của ông Ưng Trạo có Công Tằng Tôn Nữ Tiếu Diện, vừa mới chào đời đã vội cười toe nên có tên như vậy. Con trai của chị Tiếu Diện là Tường hiền như đất, học y khoa Huế, dạy cho Thái Cát phương pháp luyện mười ngón tay bằng cách thực tập xe dây cùng môn “ngọa hổ công” cho thuần thục mà thi triển chiêu Hiển Long Tàng Hổ trong bài Phục Hổ quyền. Chị Công Tằng Tôn Nữ Ngộ Khê vì bị đẻ rơi cạnh khe nước dưới chân núi Xước Dũ, thuộc xứ Chằm, vùng mê địa gần dãy núi đá Giàng Giàng bên xã Long Hồ, trong lúc tản cư nên mới mang danh Ngộ Khê nghĩa là gặp suối. Xin nhắc lại, vai vế của Thái Cát ngang hàng với các mệ hàng chữ “Bửu” và mấy cô “Công Tằng” nên cứ oai phong thưa anh thưa chị vang lừng!

Sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn ra Tân Sở, cha của Thuyết là đô đốc Tôn Thất Đính bị đày cùng một lượt với Nguyễn Văn Tường và chết ở đảo Tahiti. Tất cả những người trong gia đình của Thuyết bị đổi thành họ Lê. Mẹ Thuyết là Văn Thị Thu cũng qua đời một thời gian ngắn sau khi cha của Thuyết là Đính bị đi đày, gia đình đột nhiên bị vướng cảnh khốn khó tán gia bại sản và lắm kẻ thù rình rập do Thuyết gây ra. Hiện nay, có kẻ không rõ sự việc, vẻ vời cho Thuyết là kẻ vô cùng nhân từ, hiếu thảo, dựng chuyện bà mẹ của Thuyết là Văn thị Thu ra Thanh Hóa khuyên Thuyết không nên giết người một cách tàn bạo. Chuyện này, cho dù đứa con nít có chút hiểu biết cũng có thể hỏi “Nếu như bà già Văn Thị Thu nhờ cách nào đó biết được nơi Thuyết trốn, lần mò đi bộ từ Vân Mộng ra Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, vượt năm bảy con sông lớn, trèo hai ba cái đèo cao hiểm trở, đoạn đường xa gần bốn năm trăm cây số, ra tận Thanh Hóa để gặp được Thuyết mà nói lời khuyên can, thì tên phản quốc Trương Quang Ngọc và các thuộc hạ của y chắc hẳn đang mang bát chứng nan y là Phong, Lao, Cổ, Lại và Đui, Què, Câm, Điếc nên không biết được chỗ của Thuyết đang lẩn trốn để đến bắt vua Hàm Nghi cho sớm và Thuyết cũng không phải mất xác bên Tàu!.

Trở lại chuyện gia đình Trấn Định Công Miên Miêu.

Người con trai thứ hai của Trấn Định Công Miên Miêu sau khi về định cư tại Truồi, lập ra nhánh mới gọi là nhánh Cụ Trợ Tuần, trưởng nhánh hiện tại là ông Nguyễn Phúc Vĩnh Ca. Nhánh thứ hai, có một người nổi tiếng, vai vế ngang hàng với Nguyễn Phước Vĩnh Ca là Nguyễn Phước Vĩnh Bạch, đã từng giữ chức Phó Thị Trưởng Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế. Năm 1975, gia đình Vĩnh Bạch tạm cư tại Mỹ. Cả nhà dùng tay nghề nấu ăn của phủ Trấn Định trước kia làm kế sinh nhai, nuôi con cháu thành đạt tại Mỹ. Món chả lụa tuyệt vời, các món bánh thiệt ngon, thiệt khéo không ai bì kịp. Trong danh sách tỵ nạn, ghi rõ ràng họ Nguyễn Phúc và tên là Vĩnh Bạch, giống như hồi còn ngồi ghế Phó Tỉnh Thị Trưởng. Thế nhưng, họ của 10 người con lại ghi là Trấn Định, như các ông Trấn Định Bảo Tiên (ở California), Trấn Định Bảo Nhơn, Trấn Định … Thủy, cùng các Bé chị, Bé em, Tý, Sửu (ở Texas). Giấy tờ cá nhân của những cô (nữ), những mệ (nam) không còn ghi hai chữ Nguyễn Phúc nữa. Mấy người này là đời thứ nhất của họ Trấn Định, xuất phát từ Trấn Định Phòng, thủy tổ là Định Quốc Công Nguyễn Bặc, quê quán từ Gia Miêu, Ngoại trang, Thanh Hóa, Việt Nam, vô Huế, xuống Truồi rồi đi qua tận nước Mỹ.

See the source image

Chuyện Mệ Thái tức cụ rể “yêm hoạn kết bạn đời” với công nữ Nguyễn Phước Trang Quảng của Trấn Định phòng, đã đem một người cháu gái là Nguyễn Thị Điệt gả cho nội tử út của Trấn Định Công Miên Miêu là Nguyễn Phước Ưng Âu, con trai út của Hồng Linh. Chữ Âu có nghĩa là cái chậu, viết có bộ ngõa. Cụ bà Ưng Âu dáng người quý phái, nhỏ nhẹ, hiền lành. Năm 1968, Thái Cát có dịp hầu chuyện với bà mầy lần, rất khâm phục những lời văn chương hoa mỹ có vần có lối tràn đầy điển tích trong lúc kể chuyện của bà. Thái Cát không dám hỏi nhiều vì sợ phạm lỗi vô lễ với người trên, bây giờ nghĩ lại quá hối tiếc, cho rằng chẳng thà bị mắng, nhưng biết đâu lại được nghe những chuyện vô cùng quý giá không biết kiếm mô ra. Cụ Ưng Âu có được hai trai là Nguyễn Phước Bửu Sắc và Nguyễn Phước Bửu Hoản và hai gái là Công Tằng Tôn Nữ Thị Cơ và Công Tằng Tôn Nữ Thị Quế. Trong một kỳ hội chợ do Bảo Đại tổ chức tại Hà Nội mà Thái Cát không nhớ năm nào, bà Công Tằng Tôn Nữ Thị Cơ đã đạt giải thưởng toàn quốc về môn nấu ăn, đặc biệt là món bánh làm bằng bột măng tre, gói bánh chưng không dây, vuông vắn, cắt ra thấy nếp và nhụy đều đặn thẳng hàng xinh xắn, thơm ngon, để qua ba tuần sau vẫn như vừa mới nấu xong ngày hôm qua, và món Chè Thịt Heo Quay bí truyền. Cụ Ưng Âu có hai con trai. Cụ đặt tên trai tưởng nam là Sắc không có bộ ngõa, với ý nghĩa ra lệnh, tươi sáng. Có lẽ vì vậy mà lâu lâu, ông Bửu Sắc chặt một bó roi cây dâu tằm, nửa khuya ôm lên nghĩa trang trên Nam Giao (gần nhà Nam Giao Tiểu Lão) đánh nhau với ma. Có bữa ông bị ma đánh cho bầm tím cả người, cháu con sau này vẫn còn kể lại. Con cháu gọi nhánh Bửu Sắc là Ông Phòng Anh. Tên con trai thứ của cụ Ưng Âu là Bửu Hoản, có nghĩa tốt đẹp, không có bộ ngõa. Con cháu gọi nhánh Bửu Hoản là Ông Phòng Em.

Viết lung tung lang tang, thiên thung mang nai. Thôi, quay trở lại với Chè Thịt Heo Quay.

Triều Thành Thái, Trấn Định Phòng mới được vua cho giải các tội oan, phục lại các chức tước bỗng lộc như xưa. Mấy lâu bị cấm, nay làm lễ tế hai ông Hường Chuyên và Hường Linh (Thành) thật lớn. Cụ Ưng Âu chủ tế. Ngoài những món thường, cụ lại cho lấy thịt bụng con heo quay, xắc hạt lựu, bọc bột lọc nấu chè. Trong dân gian, việc tế tự thường theo điều kiện sẵn có, đại đa số người dân là nghèo khó túng quẫn, nên lễ vật có gì cúng nấy. Thịt heo quay thuộc món thượng phẩm, thường thấy trong các vương phủ, đủ điều kiện để nấu chè. Quê ngoại của Thái Cát có món chè nấu với con cá dét trơn tuột có màu xanh sọc vàng trên lưng, kể rõ trong bài Ngược Xuôi Điền Hải.

Cụ Ưng Âu chủ ý cao thâm, thiết tưởng người ngoài cuộc phải mất công mày mò suy gẫm mới hy vọng hiểu thấu tâm sự của cụ qua chén Chè Thịt Heo Quay. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tạo ra vụ án oan khuất cho Trấn Định Phòng. Tuy là con của võ tướng, nhưng cụ Ưng Âu cũng am hiểu văn chương chữ nghĩa, có được cái tinh thần đáng quý trang nhã của một nhà nho. Sách truyện vẫn ghi chuyện người con lấy tim gan kẻ giết cha mình làm lễ vật để tế lễ vong linh cho tròn chữ hiếu. Sau một lần tế lễ, thường cho là đã báo thù xong. Nhưng đối với những kẻ đại gian đại ác giết người hàng loạt từ vua quan xuống thứ dân, phá nát vương triều, tan hoang xã tắc thì mối thù này không phải chỉ một vài lần là xong. Việc trừng phạt bắt can phạm cải tên đổi họ, cấm thi ba đời, lưu đày biệt xứ, chết nơi xứ người, tịch thu tài sản, v.v. có thể cụ Ưng Âu cho vẫn còn quá nhẹ trước mối thù gia đình và mối thù dân tộc. Buổi tế giải oan từ thời Thành Thái, đến nay đã hơn một trăm năm. Tính theo dương lịch là một thế kỷ, nhưng tính theo âm lịch, kể thời vua Hàm Nghi đến nay đã hơn hai lục thập hoa giáp, tức hơn hai thế kỷ. Việc làm của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết còn ghi trong sử sách. Miệng tiếng thế gian có người khen kẻ chê tùy quan niệm.

Chén chè thịt heo quay đến nay vẫn còn bày bán và được ca tụng thể vị, nhưng ý nghĩa hầu như đã lãng quên, cần phải khơi lại chút chi, mong sẽ trả lời cho ai đó cắc cớ thắc mắc sau này. Thời còn ông vua trong đại nội, kẻ đi học chữ, ngoài tên họ thường có thêm một hay hai ba tên hiệu. Chẳng hạn như “Nguyễn Công Trứ, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn”, thì số người xuất thân võ biền ít đọc sách cũng có một tên là “Tôn Thất Thuyết, tự Đàm Phu” đặt bày có tên tự như ai, cho dù không có bài thơ giá trị nào trình ra kể ấn ký. Có lẽ cụ Ưng Âu biết rõ tên tự Đàm Phu của Tôn Thất Thuyết, nên mới gởi gắm tâm sự qua chén Chè Thịt Heo Quay trong lễ tế hai người thân là cha và bác ruột chết oan. Với tâm trạng tự cho mình cũng giống như cụ Ưng Âu khi mất cha một cách đớn đau, Thái Cát tự cho là đã tìm được ý nghĩa của chén chè một cách rõ ràng hơn những lời của chị Cả Quế “Ba của chị dâng cúng chén chè thịt heo quay là ý chưởi rủa hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường một cách sâu xa, khôn khéo.” Chưởi theo cái kiểu như ri thiệt là hay hơn hát không thể nào tưởng tượng. Chè Thịt Heo Quay muôn năm! Người Huế có những kẻ thù dai chi lạ. Chuyện xảy ra đã quá trăm năm mà cứ tưởng như vừa mới dứt hôm qua. Tôi thoáng thấy hình như tôi cũng hơi hơi lây tính thù dai khi nghe kể chuyện, cho nên đã cố tìm tòi cho ra manh mối, lần ra từ hai chữ Đàm Phu (Xem bảng ghi chú chữ Hán-Việt) tên tự của Tôn Thất Thuyết.

See the source image

Hán văn có 43 chữ Phu. Phu là thịt heo: Heo luộc, heo phay, heo quay, heo nướng, heo hầm, heo kho, chả lụa heo, chả thủ heo, v.v. Phu là thịt thái nhỏ: Thịt nạc, thịt mỡ, thịt mông, thịt heo, thịt bò, thịt trâu, thịt gà, thịt vịt, thịt dê, thịt ngựa, v.v. Phu là thành ngoài là tường ngăn là bức tường thấp, tường cao, tường gạch, tường đất, v.v. là Nguyễn Văn Tường. Phu là vỏ mỏng, là da, là áo. Là bàn tay sắt bọc nhung, là manh áo rách bọc tấm thân gầy, là vỏ bột lọc bọc nhụy tôm, là vỏ bột lọc bọc miếng thịt heo quay, v.v. Phu nghĩa bệnh hoạn, là nay đau mai mạnh, là Tôn Thất Thuyết cáo bệnh, Thống tướng De Courcy bắt phải cáng sang Tòa Khâm nghe lệnh., v.v. Phải thêm chữ Phu thứ 44 trong bảng chữ Hán ghi rõ Phu là Tôn Thất Thuyết rành rành tên tự của Thuyết là Đàm Phu rõ ràng một cách chắc nụi. Tất cả các loại thịt nào dùng trong buổi tế lễ sau khi đã được thái mỏng, lại phải cắt nhỏ như hột lựu, xong bọc bột vò viên, cho vào nồi, đổ nước nấu sôi cho đến khi viên bột bọc thịt nổi lên, bột trở nên trong thấy được cái nhân thì vớt ra để nguội. Ăn thử các thứ theo cách chè bột lọc bọc đậu phụng, bọc hột sen, chỉ thấy chè bột lọc bọc thịt heo quay là ngon nhất. Múc chè ra chén, cho lên bàn thờ để đúng chỗ, sắp lại ngay ngắn thẳng hàng, xong người con chí hiếu Ưng Âu thắp nhang, quỳ lạy, dâng lễ tế bác ruột và người cha oan khuất bằng những chén chè Tường Thuyết! Bài văn tế của hiếu tử Ưng Âu sau khi bắt đầu bằng hai tiếng Than Ôi!, chắc có lẽ tiếp sẽ là chữ Phù! Phù cũng là Phu đồng âm có trong bảng số 43 chữ! Chén chè thịt heo quay có biểu hiệu âm dương, ngũ hành, bát quái mang đầy đủ bản án kết tội Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường về việc giết oan hai tướng dưới quyền là Nguyễn Phúc Hồng Chuyên (viên gạch nung) và Nguyễn Phúc Hồng Linh (Viên ngói âm dương) tức Hồng Thành lưu truyền từ xưa đến hiện đại và sẽ tiếp tục trong tương lai. Chè Thịt Heo Quay vạn tuế!

Nên nghĩ lại thời vua Thành Thái, tức là khoảng thời gian 1900, phải xác nhận hồi đó chưa có giống heo Mỹ to lớn nặng hàng trăm kí lô như ngày nay. Lễ kỵ nhà quan, cúng gia tiên thường dùng heo nọi tơ tuổi chưa đầy năm, lông đen tuyền không lẫn một sợi trắng, nặng vừa một xách tay để khi quay xong, xếp vừa gọn khéo trên chiếc mâm đồng ba chân sáng loáng. Những con heo lớn hơn, chỉ dùng đãi khách và những người hầu kỵ, hay những buổi tế họ, tế làng. Do đó, miếng thịt bụng con heo quay dùng để nấu chè, cho dẫu cắt nhỏ tí như hột lựu cũng đầy đủ da, mỡ và thịt trông ra thiệt rõ ràng đúng là “ba chỉ”. Hiện nay thì cũng có thể có loại thịt mỏng như vậy, nhưng hàng quán ai hơi mô mà bày vẻ như xưa, cứ mua sẵn thứ thịt bụng heo quay bán ngoài chợ, sau khi bọc bột lọc cho dù ém cách mấy cũng cứ lớn bằng ngón tay cái hay dèn dẹt như cái bã trầu cũng xong! Lại nữa, nhớ giùm cho là vua Gia Long ăn uống giản dị, thích nhất là món tôm đất kho, khi ăn rắc tí bột quế, có ghi rõ trong Đại Nam Thực Lục. Triều Minh Mạng lại theo thực đơn của ông vua Càn Long bên Tàu sống dai nhất nước để cho được sống lâu, chỉ cần kiêng món nghêu sò, cá ngựa (hải mã ngư) có tác dụng gây thèm muốn lăn lộn bơi cạn trên giường rất ư là tổn thọ. Do đó, kể từ thời Minh Mạng, đội Ngự Thiện tuân lệnh, nên 36 món thường ngày trong mâm của vua không có các thứ của người An Nam cùng thời bày ra như bánh bột lọc, bún bò, bún ốc, tôm chua, dưa món, chè thịt heo quay, v.v. của con dâu trưởng Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế vốn nhập cung lúc 12 tuổi, mang từ Gò Công ra Huế. Chưa chắc vua Bảo Đại đã ăn đoại bún bò, nếm chút chè thịt heo quay, hay cắn miếng bánh chưng gói không dây trong các hội chợ cấp quốc gia khi còn tại vị. Thái Cát biết ngài ngự thích ăn sò, nhất là sò vùng cao, nhập từ Âu Châu, phát hiện trên vùng rừng Hoàng Triều Cương Thổ, nơi Nam Giao Tiểu Lão đang vào thiền. Bảo Đại mê ăn sò đến độ gãy chân phải chống nạng, phải nói trớ đi là đá banh bị thương! Sẽ kể rõ trong bài viết về Bảo Đại, chẳng biết có phải là “bài hay nhất của Thái Cát” hay không, theo lời yêu cầu của Nam Giao Tiểu Lão sẽ dùng đăng trong đặc san Hội Ngộ 2022 tại Đà Lạt. Nếu ai đó biết đọc và có chút thì giờ, nên làm ơn làm phước lật lại trang sách cũ in trước năm 1975, coi thuộc lòng chuyện Trạng Quỳnh với món ăn tên Đại Phong, xong suy gẫm để mở mang kiến thức một chút tí sẽ thấy sáng ra, không bàn về các món ăn cho là của cung đình đương đại quảng cáo oang oang như máy phóng thanh gọi toàn dân thức dậy tập thể dục năm nào! Giờ Nữ Công Gia Chánh bây chừ có còn dạy trong trường như ngày xưa ở trường Đồng Khánh nữa không rứa hè?

Từ Trấn Định Phòng ở tuốt dưới Truồi, xa kinh thành Huế mấy chục cây số, không rõ bằng cách chi mà Chè Thịt Heo Quay chui tọt vô cung Diên Thọ, để rồi từ cung Diên Thọ đi theo đoại bún bò, thẩu dưa món, thẩu tôm chua của bà Từ Dũ, vòng vo vào thăm bếp của phủ Thoại Thái, phủ Thọ Xuân, phủ Trấn Biên, thách đố xóm Cầu Hậu lừng danh chè gánh, lần qua chợ Cống cháo lòng ồn ào, và thủng thẳng bay vô tới tận chợ Đà Lạt ngát hương hoa đào năm xưa?!

Thái Cát Thân Trọng Tuấn

California Ngày 26 Tháng 9 năm 2021

____

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.