“hội chứng về quê và khủng hoảng niềm tin “-tạp ghi của Đỗ Duy Ngọc mùa ôn dịch cúm Tàu tại VN

Hội chứng về quê và khủng hoảng lòng tin

Đỗ Duy Ngọc

3-10-2021

Ảnh: VNE

Sau đợt người dân lũ lượt theo nhau về quê đêm 30.9 rạng sáng 1.10.2021 gây tắc nghẽn ở cửa ngõ Long An. Dù chính quyền tìm mọi cách ngăn cản và thuyết phục, làn sóng người vẫn không đồng tình.

Cuối cùng, chính quyền phải sắp xếp cho dân về theo nguyện vọng. Tiếp theo đó, tối 2.10, bà con lao động miền Tây lại đi xe máy rầm rộ nối nhau từ Bình Dương về thành phố để hồi hương. Lãnh đạo tỉnh lại kêu gọi bà con ở lại nhưng cũng chẳng ai nghe, ai cũng chỉ có một mong muốn là trở về. Tất cả hướng ra quốc lộ 13 hướng về Sài Gòn. Hàng ngàn chiếc xe rú trong đêm quyết chí ra đi.

Từ khi dịch bùng phát ở thành phố và một số tỉnh lân cận, đã có mấy đợt di tản như thế này. Bắt đầu là những người quê ở miền Trung và miền Bắc, đường xa hàng ngàn cây số, họ vẫn liều lĩnh quay đầu đi về. Rồi đến mấy đợt người miền Tây. Tất cả đã đến giới hạn của sự chịu đựng.

Trước đây, Sài Gòn đất lành chim đậu. Họ bỏ quê, bỏ ruộng vườn vào đây, lên đây kiếm kế sinh nhai. Đất Sài Gòn bao dung và rộng mở. Họ cũng đã trở thành dân Sài Gòn. Họ làm đủ nghề để sống và gởi tiền về nuôi con đi học, cho cha mẹ già viên thuốc lúc ốm đau. Thợ hồ cũng kiếm được một, hai trăm ngàn một ngày. Bán vé số được trăm tờ cũng có được trăm ngàn. Làm thúng xôi đầu hẻm, xe bánh mì đầu đường, gánh bún riêu trong ngõ cũng sống được qua ngày. Cùng chiếc xe đạp rong ruổi mua phế liệu, lượm ve chai cũng nuôi được gia đình. Làm công nhân trong hãng xưởng, bát cơm có thêm miếng thịt cá, con sinh ra có được hộp sữa để lớn. Họ an tâm sống và lao động trên đất này với chút hi vọng thế hệ tiếp nối sẽ có cuộc sống tốt hơn, tương lai sẽ hạnh phúc hơn.

Nhưng rồi đất không còn lành khi cơn đại dịch thổi tới. Những chỉ thị, văn bản, nghị quyết, biện pháp lần lượt ra đời. Đường phố không người đi, xóm làng giăng dây, căng kẽm. Nhà máy đóng cửa. Mọi hoạt động đông cứng lại và họ trở thành người thất nghiệp. Số tiền nhỏ nhoi để dành cạn dần. Viễn cảnh chết đói đến gần đe doạ cuộc sống của vợ con.

Họ nghe và tin những lời hứa của chính quyền, của nhà nước là không để một ai phải đói, không để ai bị bỏ lại phía sau. Họ tin và họ chờ. Nhưng rồi khi trong nhà không còn hạt gạo, khi sữa cũng chẳng có tiền mua cho con nhỏ, đến bữa không còn có bát cơm vẫn thấy mình bị bỏ quên, vẫn biết mình đang bị bỏ lại. Bốn tháng trông đợi, 120 ngày cầm cự bữa đói bữa no sống nhờ cơm từ thiện, họ bắt đầu tuyệt vọng.

Gói hỗ trợ lần 1, rồi lần 2, thủ tục rườm rà, khai báo đủ kiểu nhưng người có kẻ không. Ở trên thì bảo trợ cấp cho từng người, ở dưới lại cho là cấp cho từng hộ. Số tiền hỗ trợ có nơi nhận, có chỗ chờ hoài không thấy. Có khi được cho bó rau, mấy củ lại cấp cho cả chục người trong nhà trọ, biết chia làm sao để ăn cho đủ. Bốn tháng tiền nhà, không tiền đóng, chủ đuổi. Bốn tháng tiền điện nước, cũng không đủ tiền trả, điện cắt, nước cắt, sống làm sao? Cuối cùng là bị đuổi ra khỏi phòng trọ, ra ở vỉa hè mà sống sao?

Hàng ngày lại phải chứng kiến biết bao người lần lượt vào bệnh viện và chết trong lặng lẽ, biết bao hủ cốt lần lượt xuất hiện trên bàn thờ tạm bợ trong phòng trọ, biết bao tin người nhiễm bệnh không có ai chăm sóc. Mấy trăm hũ tro cốt cũng vừa đem về miền Tây vì không có địa chỉ rõ ràng ở thành phố.

Thế nên đành phải về thôi. Chỉ còn một con đường sống là quay lưng lại nơi chốn đã từng nuôi sống mình, gạt nước mắt mà ra đi. Ngày xưa đến đây vì tương lai và giờ đây cũng vì mốt mai mà đành phải lìa bỏ. Trách nhiệm thuộc về ai? Chính quyền không lo được cho dân thì không có gì để níu giữ họ lại.

Hiểu được nỗi lòng của những người chấp nhận, liều lĩnh ra về vì đã cùng đường mới thông cảm cho họ khi họ có lúc đã điên cuồng bạo loạn. Có đồng cảm với những bí bách của họ mới thấy thương cho cảnh họ quỳ với bó nhang giữa lộ mà vái với thinh không. Họ không quỳ lạy các lực lượng công an, cảnh sát cơ động, dân phòng đang đóng nơi chốt chặn họ lại. Bởi họ biết rõ lực lượng này chỉ chấp hành lệnh. Lệnh trên bảo cấm là cấm, thả là thả.

Họ vái lạy bởi họ chỉ còn một con đường duy nhất. Họ vái lạy bởi họ chẳng còn biết tin ai. Họ vái lạy trời, lạy đất, lạy âm binh, ma quỷ, thành hoàng mở cho họ một con đường để được sống. Họ vái lạy như là một hành động cầu may để có một con đường thoát.
Họ cần một sinh lộ bởi họ không còn tin vào những lời hứa của con người nữa.

Trước tình trạng người dân rời thành phố về quê, lãnh đạo thành phố phát biểu thấy có trách nhiệm chưa chăm lo chu đáo cho bà con. Đại diện cho chính quyền thành phố còn cho rằng bất cứ người dân nào đến với thành phố vì bất cứ lý do nào, thành phố đều trân trọng đón tiếp và thực sự chăm sóc để họ có điều kiện tốt nhất khi ở đây. Đối với người lao động, thành phố lại càng trân trọng vì chính họ góp phần phát triển kinh tế thành phố. Vì vậy, thành phố luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động, luôn tìm những giải pháp tốt nhất để chăm lo cho người lao động, vì họ xứng đáng được như thế. Thành phố tạo điều kiện tốt nhất cho người dân các tỉnh ở lại.

Nói hay quá, tình cảm quá, xúc động quá. Nhưng rất tiếc, dân nghe những lời như thế nhiều lần quá rồi. Dân đã chờ, dân đã mong, dân đã đợi chính quyền thực hiện những điều đã nói bằng hành động. Nhưng làm không tròn, nhưng không đúng như lời hứa. Nên dân chẳng còn tin, dân không còn sức đâu để đợi, nên dân phải dứt áo ra về. 120 ngày chờ mong sự giúp đỡ mà không thấy. Giờ với lời hứa sẽ tạo điều kiện tốt nhất sẽ chờ đến thêm bao tháng nữa? Nằm ở vỉa hè chờ sao? Nhịn ăn để chờ sao? Tin được nữa không?

Nhiều người đi về khi trong túi chỉ còn 50.000 đồng sau khi đã tốn hết tiền xét nghiệm để có tấm giấy đi đường. Có cặp vợ chồng, vợ mang bầu 8 tháng chở nhau về trên chiếc xe đạp với con đường hàng trăm cây số với vẻn vẹn có 100.000 đồng làm lộ phí. Không biết người sản phụ ấy có đẻ rớt con giữa lộ không nếu như không gặp người thấy tình cảnh của họ mà gởi cho 5 triệu đồng.

Vợ chồng, con cái đèo nhau trên một chiếc xe với lỉnh kỉnh đồ đạc, tiền cũng đã cạn rồi, con đường về còn xa, còn qua biết bao nhiêu trạm, không biết rồi có về được quê nhà không? Những đứa trẻ đang còn ẵm ngửa vẫn phải chịu đựng với nắng mưa và gió bụi. Gia tài nhiều khi chỉ là cái quạt máy hay chỉ là đống móc áo. Gia sản chỉ gói gọn trên chiếc xe. Có người còn đạp xe đạp để làm chuyến đi về.

Họ biết bao gian nan, nguy hiểm trên đường đang chờ chực nhưng vẫn quyết đi vì không còn con đường nào khác.

Từ cuộc chiến tranh chống Pháp cho đến chiến tranh Nam Bắc kéo dài mấy chục năm. Người Việt đã bao lần tản cư, di cư, sơ tán rồi di tản. Tất cả đều tránh né để trốn chạy đạn bom, để tìm một nơi chốn yên bình trong thời chiến. Giờ đây, chiến tranh đã qua gần nửa thế kỷ rồi, thời đi ra biển để tìm bến bờ khác cũng chấm dứt lâu rồi.

Thế nhưng người ta vẫn chứng kiến những đợt di tản nối tiếp nhau trong cơn đại dịch. Những cuộc trở về để sinh tồn, để được còn được miếng ăn, được sống cùng gia đình, người thân, với ruộng đồng ao cá dù giờ đây làng xóm chẳng còn được như xưa. Về để quên đi những lời hứa vì chẳng còn hi vọng, để trốn chạy những thực tế phũ phàng. Đó cũng là hình thức phản kháng của người dân khi mất lòng tin.

Trong cơn đại dịch đã mang lại biết bao đau thương và mất mát. Cơn đại dịch cũng còn mang đến hội chứng về quê và sự khủng hoảng lòng tin. Suy sụp kinh tế rồi thời gian sẽ phục hồi. Mất lòng tin khó lòng lấy lại.

Đỗ Duy Ngọc

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.