chuyện xưa tích cũ mùa ôn dịch :Война во Вьетнаме. Журнал “Коммерсантъ Власть”. /Báo Nga viết về 14 năm Liên Xô giúp Việt Nam đánh Mỹ-Nguyễn Hải Hoành(Nghiên cứu quốc tế)

“Tuổi trẻ chúng tôi “
See the source image

Báo Nga viết về 14 năm Liên Xô giúp Việt Nam đánh Mỹ

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Sau năm 1945, trên lãnh thổ Bán đảo Đông Dương hình thành hai nhà nước – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (trong vùng lãnh thổ do quân đội Trung Quốc chiếm đóng) và Việt Nam Cộng hòa (trong vùng do Anh và sau đó là Pháp kiểm soát).[i] Ngày 19 tháng 12 năm 1946, xung đột giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp leo thang, trở thành hành động chiến tranh.

Từ đầu những năm 1950, Trung Quốc đã tích cực giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ năm 1953, Liên Xô cũng đã cung cấp cho Việt Nam trang thiết bị quân sự và vũ khí, đồng thời đào tạo sĩ quan. Về phía Mỹ, do bị phân tâm bởi hành động quân sự ở Triều Tiên nên hồi đó Mỹ không can thiệp vào tình hình Việt Nam.

Bất chấp hiệp định đình chiến Geneva ký kết năm 1954 và sự rút lui của quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam, cuộc nội chiến tại Việt Nam vẫn tiếp tục. Vào tháng 4 năm 1961, những quân nhân Liên Xô đầu tiên đến Việt Nam. Tổng cộng, trong toàn bộ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, đã có 24 nghìn chuyên gia quân sự và 15 nghìn công dân Liên Xô tới nước này công tác.  Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà các hệ thống tên lửa phòng không SA-75, máy bay MiG-15, MiG-17 và MiG-21, xe tăng T-34-84, T-54, T-55 và PT-76, các trạm radar, các thiết bị khác, vũ khí cỡ nhỏ, v.v. Tổng cộng, từ năm 1965 đến năm 1972, đã có 95 hệ thống phòng không và 7.658 tên lửa được chuyển giao cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa .

Từ năm 1961, Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Sau sự cố ở Vịnh Bắc Bộ vào ngày 2 tháng 8 năm 1964, khi các tàu phóng lôi của Bắc Việt tấn công các tàu khu trục của Hải quân Mỹ, người Mỹ bắt đầu can thiệp vào cuộc chiến ở Việt Nam bằng cách ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ vài ngày sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Lực lượng Không quân Mỹ trong khu vực gồm khoảng 330 máy bay chiến thuật, hơn 200 máy bay hải quân. Lực lượng Phòng không-Không quân của Quân đội Việt Nam được trang bị 60 máy bay chiến đấu và 1.000 hệ thống pháo phòng không.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965, bộ đội phòng không Việt Nam lần đầu tiên sử dụng hệ thống phòng không SA-75 tấn công máy bay Mỹ. Hôm ấy hai tiểu đoàn quân đội Việt Nam đã tiêu diệt 3 máy bay cường kích F-4.[ii] Hai tiểu đoàn ấy do các sĩ quan Việt Nam chỉ huy, tuy rằng trên thực tế, người chỉ huy cuộc chiến đấu là các Trung tá Liên Xô Boris Mozhaev và Fedor Ilinykh.

Thậm chí người Việt Nam còn thử di chuyển hệ thống phòng không SA-75 của Liên Xô đến bờ biển và bắn thẳng vào các tàu của Hạm đội 6, với ý định đánh chìm tàu ​​sân bay Mỹ. Tuy nhiên, đơn vị bộ đội Việt Nam ấy hầu như bị tiêu diệt ngay lập tức bởi hỏa lực pháo trên boong tàu chiến Mỹ.

Sự xuất hiện hệ thống tên lửa phòng không đã buộc không quân Mỹ phải thay đổi chiến thuật tấn công, máy bay Mỹ phải chuyển sang bay ở độ cao thấp và cực thấp. Để phá hủy hệ thống phòng không, người Mỹ đã thành lập một phi đội đặc biệt. Tuy nhiên, tổn thất của Không quân Mỹ tiếp tục tăng lên – trong đó có nguyên nhân vì Liên Xô cung cấp máy bay MiG-21 cho Việt Nam.

Từ tháng 3 năm 1965, Mỹ bắt đầu chuyển lực lượng mặt đất đến Nam Việt Nam, nhằm thực hiện nhiệm vụ chính là hoạt động trên bộ, tích cực chống lại quân du kích miền Nam Việt Nam và quân chính quy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, do cuộc giao tranh trong rừng rậm rất phức tạp, do phía Việt Nam hiểu biết tốt về các đặc điểm của hệ thống hoạt động quân sự, và do Việt Cộng được dân chúng hỗ trợ, cho nên cuộc chiến chống du kích của người Mỹ trở nên kém hiệu quả.

Tháng 5 năm 1968, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu các cuộc đàm phán hòa bình tại Paris. Ngày 13 tháng 10 năm 1968, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam. Ước tính thiệt hại kinh tế do Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam gây ra [cho phía Việt Nam] là vào khoảng 320 triệu USD, nhưng giá thành 938 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong các cuộc không kích là 911 triệu USD.

Từ năm 1968 đến năm 1972, Mỹ giảm dần sự hiện diện quân sự ở miền Nam Việt Nam, ngày càng hạn chế cung cấp vũ khí và hạn chế yểm trợ cho các hành động quân sự  của quân đội Nam Việt Nam. Ngày 18 tháng 12 năm 1972, người Mỹ thực hiện trận đánh bom cuối cùng và lớn nhất trong chiến tranh để buộc lãnh đạo Việt Nam phải ký các thỏa thuận với Mỹ [B52 ném bom Hà Nội]. Tuy nhiên, trong 12 ngày, lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiêu diệt 81 máy bay Mỹ, trong đó có 31 chiếc B-52 (Mỹ đã công nhận có 15 chiếc B-52 bị bắn rơi), sau đó Mỹ đã dừng các cuộc xuất kích máy bay.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Những người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam vào ngày 29/3/1973. Sau đó, quân đội Nam Việt Nam trong một thời gian đã đẩy lùi thành công các cuộc tấn công của quân du kích. Tuy nhiên, vào ngày 9 tháng 3 năm 1975, quân đội chính quy Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các lực lượng du kích bắt đầu cuộc hành quân tấn công chiến lược “Bông sen”, kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 với việc đánh chiếm Sài Gòn.

Tổn thất của Liên Xô tại Việt Nam từ tháng 7 năm 1965 đến tháng 12 năm 1974 lên tới 16 người, trong đó có 12 sĩ quan.

Tổn thất của Mỹ trong chiến tranh lên tới 47.355 người thuộc lực lượng chiến đấu và 10.796 người không chiến đấu. Đã có 3.720 máy bay cánh cố định và 4.892 máy bay trực thăng bị tiêu diệt. Chỉ tính trên miền Bắc Việt Nam (nơi có hệ thống tên lửa phòng không của Liên Xô hoạt động) đã có 1.095 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 17 chiếc B-52.

Về phía Liên Xô, ngoài việc củng cố được chế độ thân thiện ở Đông Nam Á [tức Việt Nam Dân chủ Cộng hoà], còn được tiếp nhận căn cứ hải quân Cam Ranh theo ý muốn của mình. Ngoài ra, nhiều mẫu thiết bị quân sự của Mỹ đã rơi vào tay Liên Xô, một số trong đó đã được Liên Xô phục chế.

Suốt 14 năm liền Moskva giúp Hà Nội đánh đuổi người Mỹ. Cuối cùng, sự giúp đỡ ấy đã thu được kết quả.

Nguyễn Hải Hoành biên dịch từ nguồn tiếng Nga: Война во Вьетнаме. Журнал “Коммерсантъ Власть”. №17 от 04.05.2001, стр. 53.

————-

[i] Theo thoả thuận của Đồng Minh về việc tiếp quản sự đầu hàng của quân đội Nhật tại Việt Nam sau 15/8/1945: – Quân đội Quốc Dân Đảng Trung Quốc (QDĐTQ) phụ trách vùng phía Bắc vĩ tuyến 16; – Quân đội Anh phụ trách vùng phía Nam vĩ tuyến 16. Từ cuối  8/1945, khoảng 20 vạn quân đội QDĐTQ tiến vào miền Bắc Việt Nam. Đồng thời các tổ chức chính trị phản động chống Pháp và chống Việt Minh như Việt Quốc, Việt Cách, cũng theo chân quân QDĐTQ vào nước ta và lập chính quyền tại Lào Cai, Yên Bái. Ngày 6/3/1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp ký Hiệp định sơ bộ Pháp – Việt, cho quân Pháp thay thế quân QDĐTQ giải giáp quân Nhật. Tháng 10/1946, quân QDĐTQ rút hết khỏi Việt Nam. Tại miền Nam, quân đội Anh vũ trang cho 14.000 tù bình Pháp (bị Nhật bắt giam) chiếm Sài Gòn ngày 23/9/1945, mở đầu chiến tranh.

[ii] Máy bay cường kích vừa làm nhiệm vụ tiêm kích vừa làm nhiệm vụ ném bom.

Image result for By Sergey Radchenko. Size: 163 x 160. Source: www.ridl.io

By Sergey Radchenko

  • March 27, 2018

We know today why it took the United States so long to disengage from Vietnam: Leaving meant showing weakness in the face of the global Communist menace, prompting a backlash at home and the loss of America’s credibility among allies.

But if America’s involvement is well understood, the same cannot be said of its superpower nemesis, the Soviet Union. What did the Russians stand to gain from backing a remote jungle war, sending advisers, matériel and money to help the North Vietnamese, even when doing so not only put Soviet-American relations on ice but also risked causing a global conflagration?

Was it Vietnam’s geopolitical importance? Or, perhaps, Moscow’s preoccupation with spreading revolutionary ideology? We often attribute to the other side more foresight and purpose than we allow our own. There were in fact remarkable parallels between American and Soviet involvement in Vietnam. Like the United States, what Moscow was most concerned about was its credibility as an ally and a superpower and the domestic and international legitimacy that such credibility afforded.

Nikita Khrushchev, who pioneered the Soviet pivot to the third world in the 1950s, had limited interest in and little patience with the North Vietnamese, whom he eyed with suspicion, especially after Hanoi began to tilt visibly to China’s side in the unfolding Sino-Soviet split.

North Vietnam’s siding with China was a tactical move in the absence of better options. Khrushchev himself precipitated this shift by refusing to provide aid. But he blamed his loss of North Vietnam on the imaginary machinations of “Chinese half-breeds” in the Vietnamese party leadership. For Khrushchev, the problem of Vietnam was only an aspect of his broader struggle with China, and a rather peripheral aspect at that.

All of that changed when Khrushchev was ousted by his colleagues in a palace coup in October 1964. His successors, Leonid Brezhnev and Alexei Kosygin, wanted to prove that they were truly committed to an ally in need by providing military aid. The underlying rationale was that the new Soviet leadership faced a deficit of political legitimacy. Aiding Vietnam in a war against “imperialism” helped them in being recognized — by their people, their clients and allies and the broader world — as the legitimate heirs to the leadership of the socialist camp. For the same reason, Moscow attempted to improve relations with China.

Mao Zedong, however, was not inclined to reciprocate. This became clear during Kosygin’s February 1965 trip to Beijing. Kosygin, the Soviet premier, spoke of the need for “united action” to help Hanoi’s war effort. Mao responded to his pleas with hostile sarcasm, telling Kosygin that the Sino-Soviet struggle would last for 10,000 years. “The U.S. and the U.S.S.R. are now deciding the world’s destiny,” Mao said acidly. “Well, go ahead and decide.” He appeared unconcerned by the new round of escalation in Vietnam: “So what? What is horrible about the fact that some number of people died?” — and countered Kosygin’s worries about the deepening conflict with optimistic calls for a “revolutionary war.”

Even as Moscow’s relations with China continued to deteriorate, Hanoi moved away from a pro-Chinese stand to a semblance of neutrality. That was because the North Vietnamese needed the Soviet weapons, especially advanced antiaircraft missiles, to protect themselves against American bombing. But the Chinese Cultural Revolution also helped. The Vietnamese leaders resented Beijing’s effort to stir up radicalism among the sizable community of Chinese living in North Vietnam. “As paradoxical as it sounds,” remarked one Politburo member, Nguyen Van Vinh, in 1967, at the height of American involvement, the Vietnamese “do not fear the Americans but fear the Chinese comrades.”

The tensions between Beijing and Hanoi became much more pronounced in 1971, after Henry Kissinger’s secret trip to China and the announcement of Nixon’s impending visit. The North Vietnamese were not consulted and felt betrayed. But there was an even bigger problem: The Chinese and the Vietnamese had very different ideas about their relative importance. The Chinese leaders regarded the North Vietnamese as underlings. They helped them. They instructed them. But they expected deference in return. The Vietnamese refused to defer. After years of fighting against the United States, they felt entitled to claim revolutionary leadership, at least in Southeast Asia.

This was the message that Gen. Vo Nguyen Giap brought to Moscow in December 1971 just as the Vietnamese geared up for the Spring Offensive to deal the final blow to South Vietnam. Giap promised that the joint Soviet-Vietnamese victory in Vietnam would herald Hanoi’s rise to ranks of the leader of, and the socialist bridgehead to the third world. “We would like to carry on this mission together with the Soviet Union, because no one can do it without the Soviet Union,” he said. The Soviet leaders embraced the message, especially after Giap promised to allow the Soviet Union naval rights in then-still American-controlled Cam Ranh Bay.

There were dangers in supporting Hanoi’s militant attitude. The restart of major fighting in March 1972 threatened to derail the move toward the Soviet-American détente. After the Americans responded to Hanoi’s Spring Offensive by massive bombing raids, several in the Soviet leadership, including Kosygin, proposed to cancel the upcoming summit in Moscow. “Are you kidding?,” Brezhnev asked. “Why not!,” Kosygin countered. “This would be the right kind of a bomb.” “It’ll be a bomb all right,” Brezhnev commented, “but who will it affect more?”

Brezhnev regarded détente as a personal achievement and was not willing to sacrifice it for the sake of Vietnam. At the same time, though, he was also unwilling to pressure Vietnam for the sake of a better relationship with the United States, the idea known to Kissinger and Nixon as “linkage.” What the American duo did not quite understand was that Vietnam was an important element of Brezhnev’s bid for global leadership. Soviet support for Hanoi was what made the Soviet Union a true superpower and America’s equal.

Nixon later recalled being taken aback during the May 1972 Moscow Summit when Brezhnev, “who had just been laughing and slapping me on the back, started shouting angrily,” accusing the United States of committing terrible crimes in Vietnam. Brezhnev did it because he had to defend his credibility in front of his own colleagues and also the North Vietnamese. “I don’t remember that I or my comrades ever had to speak to anyone so sharply and so harshly as we spoke to Nixon about Vietnam,” Brezhnev later told General Secretary Le Duan and Prime Minister Pham Van Dong.

Sino-Vietnamese relations at that time had reached new lows. By the summer of 1973, as the United States was completing its disengagement, Le Duan worried about China, telling Brezhnev that he thought Mao planned “to invade all of Indochina and Southeast Asia if the circumstances were right.” Brezhnev promised to help defend Vietnam — this time against its northern neighbor.

The costs of postwar reconstruction were enormous. Le Duan and Pham Van Dong were upfront with Brezhnev about Hanoi’s expectations: There would have to be a major Soviet aid effort to help “industrialize” Vietnam in order to show Southeast Asia the practical benefits of socialist orientation. “We have nothing,” Le Duan told Brezhnev, suggesting that everything would have to come from the Soviet bloc for the next 10 to 15 years.

Brezhnev agreed to cancel all of Hanoi’s debts. Credits kept coming, though, and by 1990 Vietnam had received more than $11 billion dollars in aid, most of which was never repaid. Subsidizing Vietnam became a serious burden on the Soviet economy in 1980s, contributing to Moscow’s insolvency.

The Vietnam War ended with the Soviet-Vietnamese victory but, for Moscow at least, it was a Pyrrhic victory. Maintaining clients was good for one’s credibility as a superpower and for the leaders’ political legitimacy, but it wasn’t good for the state budget. Russia’s policy in recent years, in particular its operations in Syria, is reminiscent of the Cold War-era quest for legitimacy in Vietnam. The long-term consequences of this renewed quest will be equally dire.

Sergey Radchenko is a professor of international relations at Cardiff University, Wales.

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.