Chu Mộng Nong ghé thăm “Gò ỉa ” nơi chôn gian thần Trương Phúc Loan thời Trịnh Nguyễn phân tranh

tài niệu thời ôn dịch

Chu Mộng Nong

GHÉ MỘ TRƯƠNG PHÚC LOAN

Hôm trước Tết, khi đại dịch chưa như bây giờ, tôi về quê thăm mẹ. Nghe thằng em nói dân ở đây vừa phát hiện một ngôi mộ cổ sau Gò Ỉa, sát vách núi. Số là dân phá rừng trồng bạch đàn, đã phát hiện ra nó nằm ẩn sau cái gò ỉa mà ngày xưa vốn là nghĩa trang họ Trương. Tôi vội vàng xin mẹ ghé xem cái mộ đó một chút.

Ngôi mộ đá xây bằng vôi trộn đường mật. So với những ngôi mộ cổ, nó to lù lù. Sau bao năm tháng nắng mưa, lớp vôi trầy tróc nham nhở, trông gớm ghiếc như một con cóc khổng lồ. Trước mộ có cái bia đá, nhưng những dòng chữ đã mờ toẹt. Tôi cố gắng đọc và nhận ra được chữ Trương, chữ Phúc. Còn chữ Loan thì không còn nét.

Vậy là quân Tây Sơn đã chưa đào cái mộ này ném xuống bàu, hoặc cũng có thể đã moi hàm ếch móc xương đi rồi, còn nấm mộ thì không đập nổi. Cũng may là nó chưa được phân lô cho dân ỉa. Tôi nói ra điều này thì thằng em tôi cười he he: thì bây giờ thêm lô ỉa mới cho dân!

Nhìn ngôi mộ, tôi thấy khá “tâm tư”(?). Nghĩa tử là nghĩa tận, tôi không hề có ý báng bổ như đám dân vô học ở đây. Tôi thắp ba nén nhang vái họ Trương ba vái và nói:

– Này họ Trương! Lúc còn sống thì tâm tư cho cả họ nhà mình, mong ai cũng phát vương phát tướng mới rắp tâm chiếm đất họ Chu để làm mả. Vương tướng đâu chẳng thấy, khi chết hết rồi chỉ thấy gò hoang một bãi thúi inh. Bây giờ ông có còn tâm tư không?

Ba nén nhang cháy bùng lên. Tôi vái thêm ba vái nữa và tiếp:

– Khi còn sống ở biệt phủ mênh mông, có quân canh lính gác, chết cũng chiếm đất mênh mông, cũng có quân canh lính gác. Bây giờ thì… hoang phế tiêu điều, đến một nén nhang cũng không ai thắp cho. Có tâm tư gì nữa không?

Tôi cắm nhang lên mộ họ Trương, lòng chìm đắm trong bao nhiêu suy tưởng. Hình như ngay khi tôi thắp nhang cho họ Trương, thằng em tôi thấy ghét quá mà biến đâu mất. Chỉ còn tôi một mình.Sau khi khấn vái xong, một cảm giác ớn lạnh theo cột sống chạy từ đ.ít lên đầu. Tôi nhắm mắt lại. Một tiếng nói từ trong mộ vang ra:

– Họ Trương có tội với Chu gia, đã đành. Nhưng có điều hơi oan. Thời đó, khi vua quan chết rồi thì chỉ có người tâm phúc hoặc người bị phạm tội giữ mộ mà thôi. Làm gì có chuyện quân canh lính gác như sau này? Dân đóng thuế nuôi cả đám quân giữ mộ, một đội quân đã có thể ỉa thúi mồ chứ cần gì đợi dân ỉa?

Chu Mộng Long

Sự tích Gò Ỉa

 

Khai quật lăng mộ Tần Thủy Hoàng

Quê tôi, ở phía đằng Tây làng, giáp chân núi có cái gò, tên là Gò Ỉa, rộng chừng 120 hecta.

Nó tên là Gò Ỉa, vì cả làng trên xóm dưới đều đến đó ỉa.

Tôi còn nhớ thời hợp tác hợp te, không khí ỉa ở Gò Ỉa vui lắm. Mỗi sáng sớm, khi ông mặt trời thức dậy là người dân làng trên xóm dưới kéo nhau lên Gò Ỉa để ỉa. Mọi người cứ tụt quần phơi đít ra gió mà ỉa, vừa ỉa vừa nói chuyện râm ran. Từ chuyện nông gia đến chuyện nhà nước, từ chuyện dân đến chuyện quan, chuyện gì cũng có.

Đi ỉa giống như đi hội vậy. Vì mỗi sáng sớm có đến cả mấy trăm người đi ỉa. Thường thì phân chia cự ly cho mỗi người ỉa khoảng vài ba mét vuông, dân ở đây gọi là lô ỉa. Nhưng giờ cao điểm thì có khi hai ba người phải ỉa chung một lô. Tất nhiên, vẫn có chính sách ưu tiên cho ông to bà lớn, mỗi cặp vợ chồng được ngồi chung trong một lô năm bảy mét vuông. Cái sự ỉa gò nó khác với ỉa ở nhà cầu. Người ỉa phải di chuyển liên tục. Cứ down đít xuống ỉa ra một cục là phải up đít lên tiến về phía trước rồi ỉa tiếp cục nữa. Người nào ăn to, ỉa đùn thì phải down, up đến năm bảy lượt từ đầu lô đến cuối lô. Ỉa xong trịn lên mấy cục đá có sẵn ở đó là xong.

Rất nhiều người cố tình ỉa lâu để được chuyện trò, để được nhìn nhau, được hưởng khoái lạc quận công.

Có lẽ cũng nhờ cái sự ỉa gò ấy mà quê tôi đẻ ra cả một di sản văn hóa dân gian độc đáo. Các ông nhà ta sau mỗi lần ỉa là khám phá ra ông này chim to, bà kia bướm lớn rồi bịa chuyện mua vui. Một kho tàng chuyện tiếu lâm ra đời xoay quanh toàn chuyện bướm với chim. Tiếc là chưa ai sưu tập thành sách.

Ngày tôi đưa vợ về quê sau khi cưới, hiển nhiên vợ tôi phải tham gia lễ hội ỉa gò. Nàng xấu hổ nên kiên quyết không đi vào buổi sáng. Chờ tối mịt nàng kêu đau ỉa và bắt tôi dẫn đi. Tôi bảo theo tục lệ là phải ra gò. Nhưng gò tối om, sợ ma lắm. Hơn nữa, trời tối mịt, ra đó có mà dẫm cứt rồi tha về nhà. Vậy là buộc nàng phải chờ đến sáng để cùng tham gia hội ỉa với mọi người.

Sáng hôm đó thấy vợ tôi người lạ từ thành thị về, nhiều quý ông quý bà xúm xít đến vây quanh và quyết ỉa chung cùng lô với vợ tôi. Vợ tôi ngượng đỏ mặt nhưng cũng phải ỉa, vừa ỉa vừa bụm hang vì sợ người ta nhìn. Nhưng đến khi nhìn thấy mọi người xung quanh trịn thì nàng… phát khóc. Cái đít nõn nà của nàng mà trịn lên đó thì còn gì là đít, dù các hòn trịn đó đã nhẵn thín từ bao đời. May mà tôi đã chuẩn bị cho nàng tờ giấy báo. Khổ thân cô vợ làm dâu xứ ỉa gò.

Sau khi ăn sáng xong, nàng hỏi mẹ chồng:

– Sao nhà mình không làm cái nhà cầu mà phải ra gò ỉa vậy mẹ?

Mẹ tôi liếc qua ba tôi:

– Hỏi ba mày! Tao cũng chỉ là con dâu xứ này.

Ba tôi bắt đầu kể chuyện sự tích Gò Ỉa…

Gò Ỉa vốn là nghĩa trang cao cấp thời Chúa Nguyễn.

Năm 1767, quan thái phó Trương Phúc Loan lộng hành, thâu tóm quyền lực trong tay. Ông cho người thân tín nắm giữ hết các cảng ở vùng duyên hải miền Trung, khai thác vàng từ Quảng Nam đến tận Phú Yên, chỉ nộp công khố 2 phần, còn 8 phần bỏ vào túi riêng. Lại cho công khai mua quan bán chức, xua quân đến từng nhà dân bòn vét thuế như nhổ lông vịt. Đến mức Truông Mây không còn mây để xâu tiền vàng cho nhà họ Trương. Sự việc kéo dài cho đến khi chàng Lía chiếm giữ Truông Mây và khởi binh làm loạn.

Lại nói về cái Gò Ỉa vốn nằm trong lãnh địa của Châu gia. Sơ tổ nhà họ Châu là cụ Châu Doãn Thành vào Nam phò chúa Nguyễn, có công khai khẩn vùng đất này và lập ra mấy vạn chài và nông trang buôn ngựa. Thế đất thời đó khác bây giờ. Phía sau lưng là núi cao, gọi là Đại Sơn, trước mặt là một loạt các bàu lớn: Bàu Sấu, Bàu Cừ, Bàu Cạn. Chỗ nhà ta đang ở bây giờ một bên là Bàu Cừ và một bên là Bàu Cạn. Giữa hai cái bàu là Gò Nổi, sau này đổi tên là Gò Ỉa.

Lần thay vua đi kinh lý qua vùng Tuy Viễn, thái phó Trương Phúc Loan có ghé Châu gia trang ăn ở mấy ngày. Họ Trương thích và nảy sinh ý định biến mảnh đất này thành nghĩa trang của Trương gia. Biết là họ Trương có tham vọng chọn đất địa linh để mưu đồ cơ nghiệp đế vương muôn đời, cho nên cụ Châu Doãn Thành không đồng ý. Thương lượng không được, họ Trương về kinh trát lệnh thu hồi đất và chuyển quyền sử dụng cho họ Trương. Châu Doãn Thành tập hợp gia nhân chống trả quyết liệt và viết sớ tâu vua kêu oan. Tờ sớ khẳng khái vạch tội họ Trương: “Việc đuổi người sống dành chỗ cho người chết là việc làm ngược ngạo, trái với đạo lý, luân thường, xưa nay chưa từng có. Điều đó cũng trái với lẽ trời, vì sống có thể bất bình đẳng nhưng chết rồi thì quan, dân đều bình đẳng. Đất là nơi sinh ra con người và khi chết đi con người phải trả hình hài về cho đất, lẽ nào chết rồi mà vẫn lạm dụng quyền hành giành đất to đất đẹp cho mình?…”

Sự việc giằng co cả năm trời.

Cũng năm ấy, chàng Lía khởi binh ở Truông Mây. Lía vẫn thường ghé Châu gia trang xin lương thực nuôi quân. Châu gia thết đãi quân Lía như bậc trượng phu đối đãi với trượng phu. Không ngờ Trương thái phó biết được vu cho tội phản tặc và nửa đêm cho quân đánh úp. Người của Châu gia trang gần như bị giết sạch, chỉ còn sót ba anh em, một người trốn vào núi, một người chạy vào Phù Cát và một người chạy vào Phú Yên. Tàn sát xong, Trương thái phó cho người loan truyền Châu gia bị quân chàng Lía hãm hại. Đứa con út là Châu Văn Tiếp hận bọn phản tặc nên sau đó theo Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn và trở thành danh tướng khai quốc công thần của triều Nguyễn Gia Long.

Sau khi tiêu diệt phong trào khởi nghĩa của chàng Lía, nghĩa trang cao cấp của họ Trương được thực thi cấp tốc bằng mọi giá. Dự án lên đến hàng ngàn tỉ, ngốn bao nhiêu tiền thuế của dân. Toàn bộ mộ phần mấy đời của họ Trương được quy tập về cái gò này. Một cái tháp cao ngất ghi danh công lao họ Trương mà bây giờ người ta còn thấy một đống đổ nát nằm giữa gò, cỏ đã mọc phủ bao lên nhiều lớp…

Thấy chuyện hơi đi quá đà về bi kịch của Châu gia và cái nghĩa trang kệch cỡm kia, tôi ngắt lời ba và hỏi:

– Vợ con nó hỏi chuyện ỉa gò. Ba giải thích vì sao có cái tục lệ ấy?

Ba đang chìm vào trong cái lịch sử xa xưa của dòng họ, bỗng như tỉnh hẳn. Ông cười:

– Là bắt đầu từ triều Tây Sơn. Sau khi nắm quyền, hoàng đế Tây Sơn nhìn thấy cái nghĩa trang họ Trương nằm lừng lững nguy nga cả một vùng mà ngứa mắt, bèn cho quân đào lên ném hết xuống bàu. Lại cho dân làng trên xóm dưới biến gò đất này thành gò ỉa. Hàng ngày dân hả hê ỉa lên mồ mả họ Trương và thành tập tục cho đến bây giờ. Những cục đá mà dân ỉa xong rồi trịn lên đó vốn là những tấm bia ghi công nhà họ Trương đấy!

Ba tôi kết thúc câu chuyện bằng triết lý:

– Đấy, các bậc vương quyền xưa khôn ngoan thì chọn chỗ hẻo lánh, thậm chí bí mật mà làm nơi an nghỉ. Đến như Tần Thủy Hoàng độc ác, Tào Tháo gian xảo còn biết sợ thế gian trả thù, đem thân xác của mình giấu kín đến vô tăm tích. Chỉ có kẻ ngu dại tham lam như Trương Phúc Loan mới ngạo nghễ phơi trần thân xác cả họ nhà mình giữa thanh thiên bạch nhật cho thiên hạ ỉa…

Trương Phúc Loan là ai ??

Bách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới điều hướngBước tới tìm kiếm

Trương Phúc Loan (chữ Hán: 張福巒; ? – 1776) là một quyền thần cuối thời các Chúa Nguyễn ở Đàng trong. Trong hơn mười năm cầm quyền bính, Trương Phúc Loan đã lạm dụng quyền hành vì quyền lợi cá nhân, khuynh đảo chính sự ở Đàng trong, và ông là nguyên nhân chính khiến chính quyền các Chúa Nguyễn sụp đổ.

Xuất thân

Gia tộc Trương Phúc, nguyên người Quý Huyện, Thanh Hóa, ban đầu mang họ Trương Công sau được ban cho chữ Phúc (hậu duệ dòng họ Trương Phúc nay vẫn còn một số sinh sống ở Huế). Trương Công Giai nguyên giữ chức Điện tiền Đô Kiểm điểm Lương quận công của triều Lê đã đem gia quyến theo Đoan quốc công Nguyễn Hoàng vào Nam. Khi làm Trấn Thủ Quảng Bình, Giai đã có công cùng Nguyễn Phúc TrungNguyễn Hữu Dật ngăn cuộc xâm lấn của quân Trịnh vào tháng 2 năm Đinh Mão (1627). Trương Phúc Phấn là con trai của Giai, là người có tài võ nghệ thao lược, theo cha lập nhiều công trạng được phong quan đến chức Cai cơ, năm 1630 (năm Canh Ngọ) được cử làm Trấn Thủ dinh Bố Chính. Năm 1640 (năm Canh Thìn), Phấn có công diệt trừ phản thần Nguyễn Khắc Liệt và năm 1648 cố thủ lũy Trường Dục ngăn chặn quân Trịnh vào Nam.

Phấn có hai người con là Đốc chiến Quận công Trương Phúc Hùng và Thống suất đạo Lưu Đồn Trương Phúc Cương đều được nhà Nguyễn xem là công thần. Trương Phúc Cương có công trấn giữ lũy Trấn Ninh ngăn quân Trịnh vào tháng 2 năm 1672, làm quan đến chức Chưởng dinh. Con thứ của Cương là Thái bảo Quốc công Trương Phúc Phan lấy con gái thứ ba của Nghĩa vương Nguyễn Phúc Thái[1](Thái) là công nữ Ngọc Nhiễm (Tống Sơn quận công Thục phu nhân).

Tháng 10 năm 1703, khi làm Trấn Thủ dinh Trấn Biên, Phan có công tiễu trừ hải phỉ người Man An-Liệt (thực tế là thương quán của Công ty Ấn Độ thuộc Anh tự ý xây dựng tại Côn Lôn không xin phép Chúa Nguyễn Phúc Chu). Trương Phúc Loan là con thứ của Phan.

Hoán đổi ngôi Chúa

Trương Phúc Loan là con thứ của Thái bảo Phan quốc công Trương Phúc Phan cũng là cậu ruột của Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Nhờ vậy mặc dù không có công trạng, ông vẫn được cho phụ chính thân cận với Chúa. Phúc Loan đã dùng nhiều cách dẫn dụ chúa Nguyễn vào con đường tửu sắc, bỏ bê việc nước hòng âm mưu chiếm đoạt quyền lực sau này. Loan tạo điều kiện để Vũ Vương quan hệ với người em chú bác ruột của chúa là công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu[2] (con của Dận quốc công Nguyễn Phúc Điền là em ruột của Chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Chú[3](Thụ), cha của Vũ Vương) sinh được một người con trai là công tử Nguyễn Phúc Thuần. Để tránh tai tiếng, Nguyễn Phúc Thuần được nuôi kín ở hậu cung.

Tháng 7 năm 1765 (tháng 5 năm Ất Dậu), chúa Nguyễn Phúc Khoát mất, để lại di chiếu nhường ngôi cho công tử thứ hai là Nguyễn Phúc Luân[4] (Côn) năm ấy 33 tuổi. Tuy nhiên, do biết Phúc Luân là người thông minh, quyết đoán khó lấn quyền được nên Trương Phúc Loan đã âm mưu cùng Thái giám Chữ Đức (khuyết họ) và Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thông bắt giam Nguyễn Phúc Luân, giết chết hai thầy học của Phúc Luân là Nội hữu Cai cơ Trương Văn Hạnh và Thị giảng Lê Cao Kỷ, đồng thời giả chiếu chỉ đưa công tử thứ mười sáu là Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi Chúa xưng hiệu là Định Vương. Cũng trong năm đó, Nguyễn Phúc Luân buồn và uất ức nên lâm bệnh được cho về nhà và mất vào ngày 24 tháng 10 năm 1765 (10 tháng 9 năm Ất Dậu).

Tập trung quyền lực

Sau khi lên ngôi, Định Vương phong cho Loan chức Quốc Phó, quản lý bộ Hộ, quản cơ Trung tượng kiêm tàu vụ, lo việc thông thương với tàu bè ngoại quốc. Các quan chức quan trọng trong triều có Chưởng thủy cơ Nguyễn Phúc Viên; Nội hữu Chưởng dinh quản lý bộ Lại và bộ Binh Tả phủ Chưởng phủ sự dinh Quảng Nam Nguyễn Phúc Nghiễm; cả hai đều là con của Dận quốc công Nguyễn Phúc Điền, xét ra là anh em ruột của bà Ngọc Cầu, mẹ Chúa Định Vương, và đều là những tay đam mê tửu sắc, không để ý gì đến chính sự. Hai con trai của Loan là Chưởng dinh Trương Phúc Thặng lấy công nữ Ngọc Nguyện và Cai cơ Trương Phúc Nhạc lấy công nữ Ngọc Đảo đều là con của Vũ Vương. Do đó, quyền hành trong triều của Trương Phúc Loan rất lớn.

Để trấn an dư luận, Loan tấu với Định Vương cho mời Nguyễn Cư Trinh, là vị quan có uy tín lúc bấy giờ, từ Gia Định về Phú Xuân thăng Lại bộ kiêm Tào vận sứ và phục chức Hàn lâm cho Nguyễn Quang Tiền vốn là người trung nghĩa, văn chương uyên thâm. Đối với hai người này, Loan có phần kiêng dè chút ít. Tuy nhiên, đến năm 1767, Cư Trinh mất và đến năm 1770, Quang Tiền cũng qua đời. Lúc này, Loan không còn kiêng nể ai nữa, mặc tình tự tung tự tác.

Lạm dụng quyền bính

Để củng cố thế lực, Trương Phúc Loan tiến cử thân cận là Thái Sinh giữ Hộ bộ, đồng thời cho người thân tín tổ chức thu thuế ở các cảng sông, cảng biển quan trọng và thu thuế khai thác các nguồn tài nguyên, khoáng sản ở Quảng Nam mỗi năm ước đạt bảy tám vạn quan tiền bỏ vào túi riêng, chỉ nộp công khố khoảng một hai phần. Thêm vào đó, Loan công khai bán quan, chạy ngục nên đã thâu tóm được một tài sản kếch xù. Hằng năm, Loan bắt binh lính nộp 5 gánh đầy dây mây để thay thế dây xâu tiền bị hỏng. Tương truyền, có năm nước lụt ngập dinh thự của ông ở Phần Dương, sau khi nước rút phơi vàng bạc ở sân cho khô ráo sáng rực cả một góc trời.

Về chính sách xã hội, Loan đặt ra nhiều thứ thuế, hình phạt sách nhiễu nhân dân. Loan xui Chúa lập phường chơi xuân, mỗi phường gồm 15 người, mỗi người phải nộp thuế một quan tiền để khi có lễ hội thì tổ chức làm trò mua vui. Sưu cao, thuế nặng cộng thêm trong bốn năm năm liền thiên tai động đất, núi lỡ đã biến xứ Đàng trong từ vùng trù phú thành nơi đói kém, lầm than, lòng dân oán hận nên gọi ông là Trương Tần Cối.

Thấy Nguyễn Phước Dục là người được nể trọng nên Loan gả con gái để cầu thân. Tuy nhiên, Dục vẫn giữ thái độ trung lập không theo phe Phúc Loan nên ông đâm ghét vu cáo Dục mưu phản rồi bãi chức của Dục mặc dù không tìm ra bằng cớ. Sau đó, Dục uất ức rồi chết.

Vào năm 1773 (Quý Tị), thấy Trương Phúc Loan lộng quyền, một số tông thất và đại thần trong triều tìm cách trừ ông nên mật giao cho quan Hàn lâm Ngô Đình Thứ và Tri phủ Trần Giai Đạo lén trộm ấn son làm giả thư của Loan thông đồng với quân Tây Sơn vứt ngoài đường. Tham mưu Tá (khuyết họ) bắt được thư lúc tuần tra đem trình cho Nội tả Chưởng cơ Bộ doanh là Nguyễn Phúc Văn (con thứ ba của Vũ Vương). Văn trình với Định Vương xin trị tội ông nhưng ông một mực kêu oan nên Định Vương bỏ qua. Phúc Loan cho rằng Tham mưu Tá và Phúc Văn thông đồng hãm hại mình nên ngầm bắt giam Tá rồi giết chết trong ngục. Đồng thời, cho người giả thư tố cáo Phúc Văn theo Tây Sơn yêu cầu tra xét ngay. Phúc Văn biết ông mưu hại nên bỏ trốn nhưng bị ông sai Cai đội Nguyễn Phúc Hương đuổi theo bắt được và dìm chết ở phá Tam Giang.

Suy vi

Năm 1771 (năm Tân Mão), ba anh em Nguyễn NhạcNguyễn LữNguyễn Huệ ở trại Tây Sơn tụ tập những người bất mãn chính quyền, vô gia cư, nghèo khổ vì sự chuyên quyền vơ vét của Trương Phúc Loan phát động phong trào Tây Sơn. Với danh nghĩa lấy của người giàu chia cho người nghèo hợp với lòng dân, lực lượng Tây Sơn lớn mạnh nhanh chóng. Năm 1773 (năm Quý Tị), dưới danh nghĩa phò trợ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương (con thế tử quá cố Nguyễn Phúc Hạo của Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát) trừ quyền thần Trương Phúc Loan, Nguyễn Nhạc khởi binh đánh chiếm Quy Nhơn, cướp kho lúa.

Nhận được tin báo, Định Vương cử binh đánh dẹp quân Tây Sơn nhưng những trận đầu đều bại. Tướng lĩnh hoặc tử trận hoặc hèn nhát bỏ chạy, quân lính tan rã nhanh chóng do huấn luyện kém trong thời bình và ý chí chiến đấu suy sụp vì Trương Phúc Loan nhận của đút lót để điều người này ra trận, cho người nọ ở nhà. Mãi đến tháng 4, năm Giáp Ngọ (1774), Điều khiển Gia Định Nguyễn Cửu Đàm, Lưu thủ dinh Long Hồ Tống Phúc Hợp và Cai bộ Nguyễn Khoa Thuyên mới tạm giữ chân được quân Tây Sơn ở Hòn Khói (Bình Khương).

Ở Đàng ngoài, tháng 5 năm Giáp Ngọ (1774), Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (lên thay cha là Trịnh Doanh vào năm 1767 – Đinh Hợi) nhận được báo cáo của Trấn thủ Nghệ An Bùi Thế Đạt về tình hình rối ren ở Đàng trong. Vốn là người quyết đoán, thông minh lại vừa dẹp yên các cuộc nổi dậy của Hoàng Công Chất ở Hưng Hóa, Lê Duy Mật ở Trấn Ninh, quân đội đang trong tư thế sẵn sàng nên Trịnh Sâm lập tức điều Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc và một số tướng lĩnh chủ chốt lấy danh nghĩa giúp chúa Nguyễn đánh dẹp Tây Sơn, khởi binh chinh phạt Đàng trong. Quân Trịnh tiến đến đâu quân Nguyễn hàng đến đó. Đến tháng 10, Ngũ Phúc đã chiếm được dinh Quảng Bình. Tháng 11, Trịnh Sâm thân chinh cầm quân vào Nghệ An hỗ trợ Hoàng Ngũ Phúc, ra thông cáo thiên hạ dấy binh vào nam để trừ quyền thần Trương Phúc Loan.

Đã có cớ trừ Trương Phúc Loan trong tay, Ngoại hữu Chưởng dinh Nguyễn Cửu Pháp và Tiết chế thủy bộ Nguyễn Phúc Cường (công tử thứ tư của Vũ Vương) tấu Định Vương bày mưu mời Loan đến bàn việc chống quân Đàng ngoài rồi bắt Loan giao nộp cho Hoàng Ngũ Phúc. Định Vương còn dâng vàng bạc kèm theo biểu, khải và thư cho Vua Lê, Chúa Trịnh và Hoàng Ngũ Phúc để làm kế hoãn binh. Đồng đảng của Loan là Hộ bộ Thái Sinh cũng bị bắt giam vào ngục (sau Sinh chết ở đấy). Của cải, nhà cửa của Loan đều bị dân, quân cướp phá không còn gì.

Thực tế, sau khi quân Trịnh ra thông cáo, Trương Phúc Loan đã tìm cách liên hệ với Hoàng Ngũ Phúc nhưng chưa nhận được câu trả lời từ phía Ngũ Phúc thì ông đã bị bắt. Ở hành dinh của quân Trịnh, ông sai con là Trương Phúc Tuấn ra sức hối lộ vàng bạc châu báu cho Hoàng Ngũ Phúc và các quan viên trong quân ngũ để cầu an và xin hoãn giải về Thăng Long. Khi được hỏi vàng bạc ở đâu mà có, Tuấn trả lời là do bán ruộng đất trong nhà để cứu mạng cha. Cuối cùng, Trương Phúc Loan cũng bị giải ra Thăng Long để chịu tội, trên đường đi, ông lâm bệnh rồi chết vào mùa đông năm Bính Thân (1776).

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.