thăm viếng xứ Albania/Albanie(xứ nghèo nhất Châu Âu) thời hậu cộng sản

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6a/Albanien_karte.png
Vị trí của Albania (đỏ) ở Nam Âu.
Diện tích 
• Tổng cộng28.748 km2 (hạng 140)
11,100 mi2
• Mặt nước (%)4,7
Dân số 
• Ước lượng 20202.845.955[4] (hạng 135)
• Điều tra 20112.821.977[2]
• Mật độ100/km2 (hạng 84)
259/mi2

Albania, tên chính thức Cộng hoà Albania (tiếng Albania: Republika e Shqipërisë, IPA [ɾɛˈpubliˌka ɛ ˌʃcipəˈɾiːs] hay đơn giản là Shqipëria, phiên âm tiếng Việt: “An-ba-ni”) là một quốc gia tại Đông Nam Âu. Nước này giáp biên giới với Montenegro ở phía bắc, Serbia ở phía đông bắc, Bắc Macedonia ở phía đông, và Hy Lạp ở phía nam. Nước này có bờ Biển Adriatic ở phía tây và bờ Biển Ionia ở phía tây nam. Albania là một ứng cử viên tiềm năng trở thành thành viên trong Liên minh châu ÂuNATO.

Lá cờ đỏ với một con đại bàng hai đầu màu đen ở trung tâm.

Cái tên Albania xuất xứ từ tên một bộ tộc người Illyria được gọi là Arbër và sau này là Albanoi, sống tại Albania ngày nay. Cái tên Albania được cho là đã xuất hiện từ thời cổ đại, có lẽ từ chữ alb (đồi) thời tiền Celtic, từ đó có tên dãy Alps, hay có thể là từ albh (trắng) trong ngôn ngữ Ấn-Âu, từ đó có Albino và Albanon, có lẽ ám chỉ tới những đỉnh núi tuyết phủ tại Albania. Tên gọi nước này, Shqipërisë, nghĩa là “Vùng đất của những con chim đại bàng”, do vậy trên lá cờ nước này có một chú chim hai đầu và bởi có rất nhiều loài chim sống tại những vùng núi Albania.

Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, từ ngữ Latin Alpes có thể có nguồn gốc từ một từ tiền Ấn-Âu * alb “đồi”; “Albania” là một dẫn xuất liên quan. Albania, một cái tên không có nguồn gốc từ khu vực được gọi là đất nước Albania ngày nay, đã được sử dụng làm tên cho một số khu vực miền núi trên khắp châu Âu. Vào thời La Mã cổ đại, “Albania” là tên gọi của miền đông Kavkaz, trong khi trong tiếng Anh “Albania” (hay “Albany”) đôi khi được sử dụng làm tên của Scotland,[12] mặc dù nó có nhiều khả năng bắt nguồn từ tiếng Latin albus[13], là màu trắng

Albania, nằm ở góc đông nam châu Âu, đã từng có người sinh sống từ những thời tiền sử và là nơi định cư của những người Illyria, có lẽ là tổ tiên người Albania ngày nay.[14][15] Nằm giữa các đế chế hùng mạnh, trong suốt lịch sử của mình Albania luôn ở trong tình trạng bạo lực. Người Hy Lạp, người La Mã, người Byzantine, người Venetianngười Ottoman đều đã từng đến đây, để lại các dấu ấn văn hoá cũng như các dấu tích tàn phá. Nghiên cứu khảo cổ học cho thấy những vùng đất hiện của người Albania lần đầu có người sinh sống từ Thời kỳ đồ đá cũ (Thời đồ đá). Những vùng đầu tiên có người định cư là những vùng có điều kiện khí hậu và địa lý thích hợp. Tại Albania, những khu định cư sớm nhất đã được phát hiện tại hang Gajtan (Shkodra), tại Konispol, tại Mount Dajti, tại Saranda. Nhiều mảnh cấu trúc Cyclopean, thời Cyclopean-Pelasgian, đã được phát hiện tại Kretsunitsa, Arinishta, và các điểm khác tại quận Gjirokastra. Các bức tường, một phần thuộc Cyclopean, của một thành phố (có lẽ là Byllis) vẫn được nhìn thấy tại Gradishti trên bờ Sông Viosa. Còn sót lại ít dấu vết của Dyrrhachium (ngày nay là Durrës) từng một thời vang bóng. Việc tái khám phá thành phố Butrint có lẽ ngày nay mang nhiều ý nghĩa hơn khí nó được Julius Caesar dùng làm nơi cất giữ lương thực dự trữ cho đội quân của mình trong các chiến dịch ở thế kỷ thứ I trước Công Nguyên. Ở thời ấy, nó được coi là một tiền đồn không quan trọng, kém xa so với ApolloniaDurrës. Những dấu tích khảo cổ học phong phú của Albania đã được khảo sát trong gần hai thế kỷ. Ali Pasha, vị phó vương Ottoman từng nắm quyền cai trị vùng này, đã khuyến khích các cuộc khai quật khảo cổ học đầu tiên tại Nikopolis ở Albania từ khoảng năm 1812. Những cuộc khai quật của ông, được tiến hành sau khi một người bạn của ông là Peter Oluf Brøndsted chỉ ra một nơi được ông cho là địa điểm cũ của một ngôi đền, không hề mang tính hàn lâm. Pasha chỉ đơn giản muốn chiếm đoạt bất kỳ tài sản nào được tìm thấy trong vùng. Cuối cùng, những mảnh đã được tìm thấy sau các cuộc khai quật được chuyển tới cung điện của ông. Pasha cũng lấy một trong những đồng xu được tìm thấy. Cuộc thám hiểm chính thức và việc ghi chép các địa điểm khảo cổ của Albania chỉ bắt đầu với Francois Pouqueville, vị tổng lãnh sự của Napoleon tại phủ đường Ali Pasha, và Martin Leake, vị đại diện Anh tại đó. Một phái đoàn Pháp, dưới sự lãnh đạo của Len Rey, đã tìm kiếm trên khắp đất nước Albania từ năm 1924 tới năm 1938 và công bố kết quả làm việc của mình trong tập hồ sơ Cahiers d’Archéologie, d’art et d’Histoire en Albanie et dans les Balkans (Các ghi chép Khảo cổ học, Nghệ thuật, và Lịch sử tại Albania và tại vùng Balkans). Các nhà khảo cổ học ngày nay đang tìm kiếm các tàn tích từ mọi giai đoạn lịch sử, từ Thời kỳ đồ đá cho tới thời tiền Kitô giáo. Một dự án khác, với một số kết quả phát hiện về thời tiền sử, dù không có chủ định, đã được tiến hành tại thung lũng Kryegjata, gần thành phố Fier ngày nay và tại vùng Apollonia. Cuộc khai quật này, một sự hợp tác giữa trường Đại học Cincinnati và các nhà khảo cổ học thuộc Viện Khảo cổ tại Albania, ban đầu chỉ có mục tiêu nghiên cứu về thời thuộc địa Apollonia. Nhưng thay vào đó, họ lại tìm thấy bằng chứng về một khu định cư còn cổ hơn.[16] Năm 2000, chính phủ Albania đã thành lập Vườn quốc gia Butrint, thu hút khoảng 70.000 du khách mỗi năm và hiện là Địa điểm di sản thế giới thứ hai của Albania. Năm 2003, một giáo đường Do Thái từ thế kỷ thứ V hay thứ VI Công nguyên đã được phát hiện tại Saranda, một thị trấn ven biển đối diện Corfu. Đây là lần đầu tiên tàn tích của một giáo đường Do Thái thời kỳ đầu được tìm thấy trong vùng này, và lịch sử cuộc khai quật cũng là điều đáng ghi nhớ. Đội khảo cổ tìm thấy những bức tranh khảm đặc biệt thể hiện các đồ vật liên quan tới những ngày lễ Do Thái, gồm cả một đàn nhiều nhánh (menorah), sừng cừu, và cây thanh yên (citron tree). Những bức tranh khảm trong nhà thờ thể hiện mặt ngoài của một công trình giống như một Torah, súc vật, cây cối và các biểu tượng kinh thánh khác. Công trình này có kích thước 20x24m và có lẽ đã từng được sử dụng như một nhà thờ hồi thế kỷ thứ VI.

Vương quốc Illyria

Đa số các nhà sử học tin rằng đa phần người Albania là hậu duệ của người Illyria cổ, sắc tộc, như các sắc tộc Balkan khác, tiếp tục phân chia thành các bộ tộc và sắc tộc.[17] Cái tên Albania xuất xứ từ một bộ lạc người Illyria được gọi là Arbër, hay Arbëresh, và sau này là Albanoi, đã từng sống gần Durrës. Vương quốc Illyria phát triển từ vùng Albania ngày nay và cuối cùng kiểm soát hầu hết vùng bờ biển phía đông Adriatic. Scodra là thủ đô của nó, chính là thành phố trung tâm đô thị quan trong nhất phía bắc Albania ngày nay. Vị vua được biết tới đầu tiên của người Illyria là Hyllus (Tiếng Albania: Ylli, dịch sang tiếng Việt: “Ngôi sao”) được ghi chép lại là đã mất năm 1225 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, vương quốc này đã đạt tới thời cực thịnh về lãnh thổ và sự phát triển ở thế kỷ thứ IV trước Công Nguyện, khi Vua Bardhyllus (tiếng Albania: Bardhyli; tiếng Việt: “Ngôi sao Trắng”), một trong những vị vua tài ba nhất của người Illyria, thống nhất các vương quốc Illyria, Molossia và một phần lớn Macedonia dưới quyền quản lý của mình. Vương quốc này bắt đầu suy tàn cũng ở thời cai trị của vị vua này vì những cuộc tấn công của Philip II của Macedonia, cha của Alexander Đại Đế.

Illyria

Người Illyria đã tạo lập và phát triển văn hoá và ngôn ngữ của họ tại vùng phía tây vùng Balkans, nơi đã được các học giả thời cổ đề cập tới trong các tác phẩm của họ. Các vùng sinh sống của người Illyria dần mở rộng, bao gồm cả vùng phía tây bán đảo Balkan, bắc tới Trung Âu, và đông xung quanh Hồ Lyhind (Hồ Ohrid). Các bộ tộc Illyria khác cũng di cư tới và phát triển tại Italia. Trong số họ có bộ tộc MessapiiIapyges. Cái tên Illyria đã được đề cập tới trong các tác phẩm từ thế kỷ thứ V trước Công Nguyên trong khi một số bộ tộc còn được đề cập tới từ thế kỷ XII trước Công Nguyên trong tác phẩm của Homer.

Sự khởi đầu của dòng giống Illyria bắt đầu từ thế kỷ thứ XV trước Công Nguyên, giữa Thời kỳ đồ đồng, khi các đặc điểm riêng biệt của sắc tộc Illyria bắt đầu hình thành. Tới Thời đồ sắt, người Illyria đã trở nên riêng biệt và thừa kế những đặc điểm nhân dạng và ngôn ngữ của cha ông họ từ Thời đồ đá mới và Thời đồ đồng. Lý thuyết cổ xưa cho rằng người Illyria tới từ Trung Âu hồi thế kỷ thứ VII tới thế kỷ thứ IX đã bị các cuộc nghiên cứu sau Thế Chiến II bác bỏ. Sự thực là những hang động với các bình đựng hài cốt, đặc điểm vùng Trung Âu, không được tìm thấy tại các khu định cư của người Illyria là bằng chứng bác bỏ giả thuyết này. Ảnh hưởng Trung Âu trên người Illyria là kết quả của những trao đổi văn hoá và sự di chuyển của những thợ thủ công.[18]

Các thuộc địa Hy Lạp

Từ thế kỷ thứ VIII tới thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã thành lập một chuỗi các thuộc địa trên lãnh thổ Illyria, hai trong số các thuộc địa nổi bật nhất là Epidamnus (Durrës ngày nay) và Apollonia (gần Fier ngày nay).

Epidamnus có lẽ là thuộc địa quan trọng nhất của người Hy Lạp tại Albania được thành lập tại Epidamnus năm 627 trước Công Nguyên bởi những người Hy Lạp từ Corcyra (Corfu ngày nay) và Corinth. Các tác gia người Hy Lạp và La Mã gọi nó là “Thành phố Tuyệt vời” vì các đền đài, tượng và các công trình tại đó. Đất đai màu mỡ và một cảng biển lớn mang lại sự giàu mạnh và thành công thương mại cho thuộc địa này. Sự phát triển khiến các tầng lớp thấp cũng có tài sản và bắt đầu có ảnh hưởng lớn hơn trong chính phủ, dẫn tới một cuộc nội chiến giữa tầng lớp cai trị thiểu số (đầu sỏ chính trị) và đa số dân cư. Người dân yêu cầu sự trợ giúp từ Corinth, trong khi giới đầu sỏ chính trị tìm kiếm sự giúp đỡ từ Corcyra. Corinth là đồng minh với Sparta và Corcyra, trước yêu cầu này, họ quay sang đề nghị sự hỗ trợ của Athens. Vì thế, sự can thiệp của Corinth bên cạnh nhân dân và Corcyra phía tầng lớp cai trị dẫn tới sự xung đột sâu sắc hơn giữa Athens, Sparta, và các đồng minh của họ được gọi là cuộc Chiến tranh Peloponnesian.

Thắng lợi ban đầu của Epidamnus khiến nhiều thuộc địa Hy Lạp khác được thành lập trong vùng. Butrint, nằm trên một quả đồi phía nam Albania, được những kẻ thực dân từ Corfu thành lập ở thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên. Tên gốc của nó, Buthrotum, dịch nghĩa “nơi có nhiều gia súc và đồng cỏ chăn thả.” Tới thế kỷ thứ IV trước Công Nguyên, Butrint đã mở rộng nhiều và có cả một nhà hát 5.000 chỗ ngồi. Tại Aeneid, Vergil tuyên bố rằng thành phố do chính Aeneas thành lập. Một thuộc địa quan trọng khác, Apollonia, được đặt theo tên thần Apollo. Nó được thành lập năm 588 trước Công Nguyên, và phát triển thịnh vượng nhờ vị trí là đường nối kết giữa Brundisium (hiện là Brindisi) tại Italia và phía nam Albania. Nhiều khu định cư nhỏ khác của người Hy Lạp đã được thành lập quanh Albania ở thời kỳ này, nhưng Epidamnus, Butrint, và Apollonia là các thuộc địa quan trọng nhất. Các thuộc địa phát triển mạnh trong thời kỳ La Mã, quả thực trong Thời kỳ Hy Lạp hóa họ đã đạt tới đỉnh điểm phát triển. Từ thế kỷ thứ IV tới thế kỷ thứ II trước Công Nguyên, các thuộc địa (gồm cả các thuộc địa của người Hy Lạp và người Illyria) đã trở thành trung tâm nghệ thuật, phát triển học thuật, âm nhạc và nhà hát. Apollonia đặc biệt đáng chú ý về trường phái triết học tại đây.

Gần như song hành với sự trỗi dậy của các thuộc địa Hy Lạp, các bộ tộc Illyria bắt đầu phát triển từ các thực thể nhỏ và ít địa vị chính trị trở thành các nhà nước phức tạp và thống nhất. Ban đầu họ hình thành các liên minh tạm thời với nhau để tự vệ và xâm chiếm, sau đó các liên bang, và sau này là các vương quốc xuất hiện. Năm 355 trước Công nguyên, chiến tranh với Alexander của Macedonia nổ ra để giải phóng các vùng lãnh thổ phía đông và cùng lúc ấy Apollonia cũng thoát khỏi quyền cai trị của Macedonia. Sau cái chết của Alexander năm 323 trước Công nguyên, các vương quốc Illyria độc lập một lần nữa xuất hiện. Năm 312 trước Công Nguyên, Vua Glauka hay Glaucius trục xuất người Hy Lạp khỏi Durrës. Tới cuối thế kỷ thứ III, một vương quốc Illyria với thủ phủ gần thành phố Shkodër của Albania ngày nay đã kiểm soát các vùng phía bắc Albania, Montenegro, và Herzegovina. Dưới sự cai trị của Vua Glaukia, quốc gia Illyria lớn mạnh nhanh chóng.

Những người kế vị của Glaukia (Monun và Mytyl) tiếp tục phát triển quốc gia Illyria về kinh tế và đã cho phát hành các đồng tiền xu bạc và đồng. Một thời gian ngắn sau nửa cuối thế kỷ thứ III trước Công Nguyên, dưới thời cai trị của PleuratAgron, quốc gia Illyria một lần nữa trở lại thời kỳ thịnh vượng. Năm 231 TCN, họ gia nhập liên minh với Acarnania và trở thành một cường quốc ở vùng Balkan.

Thời kỳ La Mã và Byzantine

Người La Mã đã dùng quân sự tước đoạt quyền tự trị của Illyria năm 165 trước Công Nguyên. Albania của La Mã đã được nối với Via Egnatia, con đường của La Mã nối phía đông với phía tây và La Mã với vùng viễn đông giàu có của đế chế. Sau khi bị Đế chế La Mã chinh phục, Illyria được tái tổ chức thành một tỉnh của La Mã. Illyricum sau này được chia thành các tỉnh DalmatiaPannonia, những vùng đất hình thành nên nước Albania ngày nay. Nhiều người Illyria ở thời cai trị La Mã đã đạt được những chức vụ quan trọng trong đội Vệ sĩ Hoàng đế La Mã (Prætorian Guard). Tiếng Albania vay mượn rất nhiều từ La Tinh, chủ yếu về tôn giáo và tế lễ. Điều này bởi Albania ban đầu thuộc Tòa Thánh, dù Công giáo lần đầu được chính Sứ đồ Phaolô truyền bá cho người Albania trong lần đầu ông tới Durazzo.

Trong những thập kỷ đầu tiên dưới sự cai trị của Byzantine (cho tới năm 461), Illyria phải chịu nhiều cuộc tấn công phá phách của người Visigoths, Huns, và Ostrogoths. Không lâu sau khi những kẻ xâm lược này tràn qua vùng Balkans, người Slavs xuất hiện. Giữa thế kỷ thứ VI và thế kỷ thứ VIII họ đã định cư tại các lãnh thổ Illyria và dần đồng hoá các bộ tộc Illyria tại những nơi hiện là Slovenia, Croatia, Bosnia và Herzegovina, và Serbia. Tuy nhiên, các bộ tộc phía nam Illyria, gồm cả Albania ngày nay, tránh sự đồng hoá và bảo tồn ngôn ngữ của họ. Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, Albania được gộp vào trong Đế chế Byzantine, nằm dưới sự quản lý từ Constantinopolis. Albania thuộc quyền quản lý của Byzantine cho tới thế kỷ XIV Công Nguyên khi những người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman tung ra các cuộc tấn công vào Đế chế. Người Ottoman chiếm Constantinopolis năm 1453, và tới năm 1460 hầu như toàn bộ lãnh thổ Byzantine cũ đều đã rơi vào tay người Thổ.

Thời Ottoman

Những người Thổ Ottoman đã mở rộng đế chế của họ từ Anatolia tới vùng Balkan ở thế kỷ XIV. Tới thế kỷ XV, người Thổ hầu như đã chiếm được toàn bộ vùng bán đảo Balkan từ một dải bờ biển nhỏ hiện thuộc Albania. Cuộc kháng chiến của Albanian trước người Thổ hồi giữa thế kỷ XV khiến họ được cả châu Âu ca ngợi. Albania đã trở thành một biểu tượng của cuộc kháng chiến trước người Thổ Ottoman nhưng hầu như liên tục phải trải qua các cuộc chiến.[19] Một trong những cuộc kháng chiến thành công nhất trước những đạo quân Ottoman xâm lược do Gjergj Kastrioti Skanderbeg lãnh đạo từ năm 1443 tới năm 1468. Sau cái chết của Skanderbeg, cuộc kháng chiến kéo dài tới năm 1478, dù chỉ với những thắng lợi nhỏ. Các vùng đất và liên minh do Skanderbeg lập lên thay đổi và tan rã và những người Ottoman đã chinh phục vùng đất Albania chỉ một thời gian ngắn sau khi lâu đài Kruje thất thủ. Albania sau đó trở thành một phần của Đế chế Ottoman. Họ tiếp tục là một phần của đế chế này với tư cách là các tỉnh İşkodra, ManastırYanya cho tới năm 1912.

Những hiệu ứng từ Các cuộc chiến tranh Balkan

Sau cuộc Chiến tranh Balkan lần hai, người Ottoman bị hất cẳng khỏi Albania và có khả năng một số vùng đất sẽ bị Serbia sáp nhập cũng như mũi đất phía nam sẽ bị Hy Lạp tước đoạt. Quyết định này đã khiến người Italia, những người không muốn Serbia có dải bờ biển lớn hơn, tức giận, và cũng khiến liên minh Áo Hung, những người không muốn có sự xuất hiện của một nhà nước Serbia hùng mạnh bên cạnh biên giới của mình, tức giận. Dù có sự hiện diện của các lực lượng chiếm đóng của Serbia, Montenegrin, và Hy Lạp cũng như áp lực to lớn từ phía liên minh Áo-Hung, quyết định được đưa ra rằng nước này sẽ không bị phân chia mà thay vào đó được củng cố thành Xứ Albania. Tuy nhiên, dự án Áo-Italia đã không thành công.

Chế độ Quân chủ

Từ năm 1925, đất nước nằm dưới quyền quản lý của Tổng thống Ahmet Zogu. Vào năm 1928, Zogu đã xưng vương (Zog I, Skanderbeg III), lập ra chế độ quân chủ Albania đầu tiên kể từ thời Gjergvj Kastriot Skenderbej. Bắt chước các vị vua châu Âu khác, ông cưới một phụ nữ quý tộc Hungary Geraldine Apponyi de Nagy-Apponyi. Triều đại Zogu kết thúc khi những kẻ phát xít Italia xâm lược Albania ngày 7 tháng 4 năm 1939. Những người Cộng sản lên nắm quyền sau Thế Chiến II. Sau sự sụp đổ của chính phủ Cộng sản, con trai của cựu hoàng Zog là Leka, Thái tử Albania và Hoàng gia quay trở lại Albania ngày 28 tháng 6 năm 2002.

Thế Chiến II

Cờ của Vương quốc Albania, thực thể bù nhìn của người Ý giai đoạn 1939-1943.

Albania từng là một trong những quốc gia đầu tiên bị Phe Trục xâm lược trong Thế Chiến II. Mussolini xâm lược và chiếm Albania, trong khi thế giới còn đang chú ý tới những hành động quân sự của Đức tại Tiệp KhắcBa Lan. Khi Hitler bắt đầu gây hấn, nhà độc tài người Italia quan tâm tới đất nước Albania cách Italia biển Adriatic. Dù có một số cuộc kháng cự, đặc biệt tại Durrës, Italia đã chiếm Albania ngày 7 tháng 4 năm 1939 và kiểm soát nước này. Ngày 12 tháng 4, nghị viện Albania bỏ phiếu thông qua việc thống nhất nước này với Italia. Victor Emmanuel III lên ngôi vua Albania, và những người Italia đã lập ra một chính phủ phát xít dưới sự lãnh đạo của Shefqet Verlaci và nhanh chóng nắm quyền quản lý quân đội cũng như các định chế ngoại giao của Albania. Tháng 10 năm 1940 Mussolini dùng Albania làm căn cứ tung ra cuộc tấn công vào Hy Lạp. Trong Thế Chiến II, các nhóm quốc gia Albania, gồm cả các du kích Cộng sản, đã chiến đấu chống lại người Italia và sau này là cả người Đức. Tới tháng 10 năm 1944 họ đã đẩy lùi được quân Đức, nước Đông Âu duy nhất làm được như vậy mà không có sự hỗ trợ của Hồng quân. Enver Hoxha, nhân vật được giáo dục tại Pháp, trở thành lãnh đạo đất nước nhờ vị trí tổng bí thư Đảng Lao động (Đảng Cộng sản Albania). Đảng Cộng sản được thành lập ngày 8 tháng 11 năm 1941 với sự giúp đỡ của các Đảng Cộng sản Bolshevik khác.

Cuộc diệt chủng người Do Thái

Albania là quốc gia duy nhất tại châu Âu từng bị Phát xít chiếm đóng ra khỏi cuộc Thế Chiến II với cộng đồng Do Thái lớn hơn thời điểm trước chiến tranh. Phản ứng của Albania trước cuộc Diệt chủng người Do Thái đặc biệt đáng chú ý vì đây là quốc gia có cộng đồng Hồi giáo lớn ở châu Âu. Dù vậy chỉ một trong sáu gia đình Do thái bị trục xuất và giết hại trong thời gian Phát xít chiếm Albania.[20] Người dân Albania không chỉ bảo vệ sắc tộc Do Thái ở nước mình, họ còn cung cấp nơi trú ẩn cho những người Do Thái từ các quốc gia láng giềng. Người Albania từ chối lập và giao nộp các danh sách người Do Thái. Thay vào đó họ cung cấp giấy tờ giả cho các gia đình Do Thái và giúp họ phân tán trong dân cư Albania.[20]

Tháng 2 năm 1944, khi quân Phát xít tràn xuống từ nơi ẩn nấp trên núi, không một người Do Thái nào rơi vào tay chúng.[21] Trong cuộc Diệt chủng người Do Thái, Albania là quốc gia duy nhất ở châu Âu bảo vệ và che chở cho toàn bộ dân cư Do Thái nước mình, cả người mang quốc tịch Albania và người đến từ nước ngoài.[22] Trong lịch sử không hề có ý thức hệ bài Do Thái tại Albania vì thế đây là đặc điểm riêng có của nước này.[23] Số lượng nhỏ người Do Thái tại Albania cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ họ. Trong thời kỳ chiếm đóng của Italia, họ đã hoà trộn lẫn trong toàn bộ dân cư. Tuy nhiên, vai trò to lớn của nhân dân Albania trong việc bảo vệ người Do Thái là không thể phủ nhận.

Cộng hoà Nhân dân

Từ năm 1944 tới năm 1991, Albania trở thành một nhà nước Cộng hoà Nhân dân Albania và là quốc gia độc Đảng theo đó Enver Hoxha nắm quyền cai trị độc đoán. Năm 1961, ông làm tan vỡ liên minh giữa Albania với đồng minh thân cận nhất, Liên bang Xô viết, vì ông tin rằng Khrushchev đã rời bỏ các học thuyết Stalin. Sau đó, đồng minh thân cận nhất của Albania là Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ năm 1978, Hoxha rời bỏ nốt cả người Trung Quốc và quyết định theo đuổi chính sách tự chủ. Kết quả không chỉ là tình trạng cô lập mà còn là sự tan rã toàn bộ hệ thống tài chính Albania. Một ví dụ về việc này có thể thấy qua dự án xây dựng từ năm 1974 tới năm 1986 với gần 700.000 boongke bê tông để tự vệ trước một cuộc tấn công xâm lược. Sau cái chết của Upon Hoxha năm 1985, Ramiz Alia lên kế vị cả trong vai trò lãnh đạo Đảng và lãnh đạo nhà nước. Alia là người được Hoxha ưu ái, nhưng ít có hành động hà khắc như vị lãnh đạo cũ và bắt đầu cho phép một số cải cách. Quá trình này được đẩy nhanh sau những tin tức về những thay đổi tại các quốc gia Cộng sản khác ở vùng Trung và Đông Âu. Có những con số thống kê cho thấy trong giai đoạn này khoảng người 6000 đã bị hành quyết vì những lý do chính trị[cần dẫn nguồn] Dù vậy, chất lượng cuộc sống của người dân đã được cải thiện khi cả tuổi thọ và tỷ lệ biết chữ đều tăng khá cao và tăng trưởng kinh tế tiếp tục diễn ra cho tới giữa thập niên 1970.[cần dẫn nguồn]

Quay trở lại Chủ nghĩa Tư bản

Những cuộc biểu tình rộng lớn chống Cộng sản lần đầu tiên diễn ra tháng 7 năm 1990. Một thời gian ngắn sau đó, chế độ Cộng sản dưới sự lãnh đạo của Ramiz Alia tiến hành một số thay đổi trong chính sách kinh tế. Tới cuối năm 1990, sau những cuộc phản kháng mạnh của sinh viên và những phong trào công đoàn độc lập, chế độ đã phải chấp nhận một hệ thống đa Đảng. Cuộc tổng tuyển cử đa Đảng đầu tiên được tổ chức ngày 31 tháng 3 năm 1991 và Đảng Cộng sản (PPSH) chiếm đa số. Các Đảng đối lập buộc tội chính phủ gian lận và kêu gọi một cuộc bầu cử mới, cuộc bầu cử này được tổ chức ngày 22 tháng 3 năm 1992 và dẫn tới một liên minh (gồm Đảng Dân chủ, Dân chủ Xã hội, và Đảng Cộng hoà) lên nắm quyền lực.

Trong cuộc tổng tuyển cử tháng 6 năm 1996, Đảng Dân chủ chiếm đa số tuyệt đối[cần dẫn nguồn], với hơn 85% ghế trong nghị viện. Năm 1997, những cuộc bạo động xảy ra khắp đất nước sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế buộc nước này tự do hoá hoạt động ngân hàng. Nhiều công dân, chưa biết gì về hoạt động của một nền kinh tế thị trường, đặt toàn bộ tiền tiết kiệm của mình vào trong các quỹ tín dụng kiểu kim tự tháp. Trong một thời gian ngắn, 2 tỷ dollar (80% GDP đất nước) đã được chuyển vào tay của một số kẻ đứng đầu mô hình kim tự tháp, gây ra những khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng và những vụ bất ổn dân sự. Các đồn cảnh sát và các căn cứ quân sự bị cướp mất hàng triệu khẩu AK-47 và các loại vũ khí khác. Người nổi dậy chiếm ưu thế,[24] và quân du kích cùng một số công dân vũ trang ít được tổ chức đã kiểm soát nhiều thành phố. Chính phủ Aleksander Meksi từ chức và một chính phủ thống nhất quốc gia được thành lập. Trước tình trạng hỗn loạn[cần dẫn nguồn], Đảng Xã hội chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1997 và Berisha từ chức Tổng thống.

Tuy nhiên, tình trạng ổn định vẫn chưa được tái lập trong những năm sau cuộc nổi dậy 1997. Quyền lực thay đổi tay Đảng Xã hội dẫn tới một loạt các chính phủ xã hội tồn tại ngắn ngủi kế tiếp nhau. Đất nước tràn ngập người tị nạn từ tỉnh Kosovo láng giếng năm 1998 và 1999 trong cuộc Chiến tranh Kosovo. Tháng 6 năm 2002, một ứng cử viên tiềm năng, Alfred Moisiu, cựu tướng lĩnh, được bầu kế vị Tổng thống Rexhep Meidani. Các cuộc bầu cử nghị viện tháng 7 năm 2005 đưa Sali Berisha, lãnh đạo Đảng Dân chủ, quay trở lại nắm quyền, chủ yếu nhờ tình trạng đấu đá trong nội bộ những người Xã hội và một loạt những scandal tham nhũng của chính phủ Fatos Nano.[cần dẫn nguồn] Việc tham gia Liên minh châu Âu và NATO là mục tiêu hàng đầu của các chính phủ hậu Cộng sản. Đề xuất gia nhập Liên minh châu Âu của Albania đã được Hội đồng châu Âu đặt ưu tiên. Năm 2006, Albania đã ký một Thoả thuận Ổn định và Hợp tác với EU, nhờ thế hoàn thành bước quan trọng đầu tiên trong việc gia nhập khối này[cần dẫn nguồn]. Albania, cùng với Croatia và nước Cộng hoà Macedonia thuộc Nam Tư cũ, hy vọng nhận được lời mời tham gia NATO năm 2008.[25]

Nguồn nhân lực của Albania tiếp tục di cư sang Hy Lạp, Italia, Đức và các vùng khác ở châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, làn sóng di cư đang dần giảm bớt, bởi ngày càng có nhiều cơ hội tại ngay chính Albania khi nền kinh tế đang phát triển vững chắc. Người di cư Albania đã đạt được nhiều thành công quan trọng ở nước ngoài. Đặc biệt, hiện có một cộng đồng đáng kể người Albania ở Anh Quốc, tại các thành phố như BirminghamManchester. Cộng đồng người Do Thái Albania chủ yếu sống tại Liverpool, nơi ẩm thực Albania đã được ưa thích. Nhà báo đoạt giải Pulitzer Caroline Thorpe, người hiện là giáo sư danh dự tại Đại học Liverpool, gần đây đã phát biểu rằng ‘Ẩm thực Albanian đã trở nên đồng nghĩa với Liverpool cũng như Bill Shankley hay the Beatles!’.

Thảo dược từ vùng núi Albania giúp giữ gìn vẻ trẻ đẹp

  • Elizabeth Gowing
  • BBC Travel

Elizabeth Gowing

Đó là khởi đầu vội vã cho hành trình sáng của tôi, và tôi vẫn đang loay hoay với những hũ kem, tuýp kem chống nắng khi chiếc xe buýt nhỏ khởi hành.

Tôi khi đó bắt đầu rời thị trấn Kukës của Albania trong một hành trình mà tôi đã được cảnh báo là hai tiếng ngồi xe gập ghềnh lên cao nguyên.

Chiếc xe chở chúng tôi quá tải hành khách cùng những gói đồ. Các hành khách có làn da sáng rõ và cấu trúc xương chắc mà tôi thường thấy ở đàn ông và phụ nữ ở miền núi phía bắc Albania, nhưng hành lý của họ khiến tôi ngạc nhiên.

Chuyến xe đầy thảo mộc

Có một tục ngữ đáng sợ trong quy tắc truyền thống của Albania vốn chi phối cuộc sống cộng đồng rằng “phụ nữ là cái bao tải để tận dụng”.

Nhưng ở đây, những người phụ nữ cứng cỏi quấn khăn trùm đầu bẽn lẽn với bím tóc đen dài lại là người tận dụng các bao tải, đẩy chúng lên xe buýt và đặt quanh người.

Cạnh tôi, một phụ nữ đem theo một cái bao phồng lên với mùi men trong đó có nửa chục ổ bánh mì trắng đơn giản mới ra lò từ một tiệm bánh. Trước mặt bà là người phụ nữ mà trước đó tôi nghe thấy cãi cọ với tài xế về việc cất tấm ra trải giường lớn có mùi thơm buộc lại quanh một mớ cuống hoa và bông hoa chất chồng, nhiều cái trong số đó vương vãi trên sàn xe buýt.

May mắn cho tính hiếu kỳ của tôi, một phụ nữ – mà sau đó giới thiệu mình đơn giản là ‘vợ ông Naim’, chỉ dấu về quan điểm truyền thống đối với phụ nữ vốn vẫn còn dai dẳng ở đây – háo hức muốn nói với mọi người trên xe về những gì trong đống thảo mộc mềm như gối mà bà đem về từ Kukës.

“Không lấy cuống, họ nói! Năm ngoái, họ hài lòng lấy cuống! Nhưng giờ rõ ràng là họ không nhận. Vì vậy, toàn bộ số hàng phải đem về nhà lại. Có lẽ tôi sẽ đem cho cừu ăn.”

Hóa ra bà đang nói về anh thảo hoa vàng (cowslip), một trong nhiều loài thảo dược được thu hoạch trong tự nhiên ở Albania. Bó hàng của bà bị trả lại vì bà đã lấy cuống thay vì chỉ lấy bông – đó rõ ràng là quy định mới, không hề biết trước tại khu chợ mà bà đến để bán.

“Vậy là các bà đi hái hoa đó hả?” Tôi hỏi.

Toàn bộ chuyến xe trả lời tôi: “Đúng vậy!”

Một khi điều tôi quan tâm đã trở nên rõ ràng, chuyến đi đã trở thành bài học có minh họa. Chẳng hạn, hoa anh thảo – vợ ông Naim rải một số bông hoa vàng phơi khô lên tay tôi – ở đây được gọi là ‘hoa ngón tay’. “Hãy nhìn những bông hoa tụ lại như bàn tay như thế nào,” bà nói.

Người đàn ông trước mặt tôi chỉ ra ngoài cửa sổ. “Hoa cơm cháy. Mỗi kí lô một euro.”

Một người khác nói thêm vào: “Và hoa táo gai – hái cái đó rất khó chịu cho da tay.”

Cơ hội thu nhập

Tôi đã học được cách mới để phân tích tỉ mỉ vùng thôn quê.

Tất cả những bông hoa mà những người này hái được cuối cùng được đưa ra khỏi vùng núi và đem xuống Kukës để bán để xuất khẩu.

Elizabeth Gowing
Chụp lại hình ảnh, Hoa anh thảo vàng được các công ty mỹ phẩm dùng trong sản phẩm dưỡng da

Nhưng tôi hỏi các hành khách đi cùng chuyến xe, họ dùng những gì họ hái được như thế nào?

Tại sao người Pháp chỉ hôn mà hiếm khi nói lời yêu?

Sherpa trên đỉnh Tatra, phu khuân vác cuối cùng ở châu Âu

Thị trấn ở Anh, cái nôi của những giáo phái bí ẩn kỳ dị

Lẽ ra tôi nên đoán câu trả lời – điểm đến của xe buýt của chúng tôi là một ngôi làng có tên là Çajë, phát âm là chai. Tôi đang đến một ngôi làng gọi là ‘Trà’.

Khu vực này điển hình cho phần lớn Albania, đất nước với 77% là núi non, và được hưởng lợi từ khí hậu và đất đai Địa Trung Hải, vốn ít bị ô nhiễm hóa chất trong những năm dưới chính quyền cộng sản khắc nghiệt, là chế độ đã chấm dứt tồn tại vào đầu thập niên 1990.

Tất cả những yếu tố này làm cho các loại thảo mộc được thu hoạch trong tự nhiên của Albania đặc biệt được săn lùng trên toàn thế giới.

Ngành này đem đến cơ hội kinh tế tuyệt vời cho những phụ nữ đi cùng xe với tôi, mặc dù thu hoạch của họ cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như không có quá nhiều thứ không dùng được – như cuống hoa.

Khi đến nhà trọ của gia đình Donika Musaj, Bujtina Musaj, tôi hy vọng mình có thể được chào đón với cái gọi là ‘trà núi’ đặc trưng của Albania, một loại trà uống dễ chịu, vàng như ánh đèn, được làm từ cây ironwot, có tên khoa học là Sideritis syriaca.

Thay vào đó, tôi được phục vụ một loại nước sắc tốt hơn làm từ quả việt quất khô. “Chúng tôi đã thu hái được 100 kí quả việt quất hồi năm ngoái,” Musaj nói khi tôi nhấm nháp thưởng thức thứ nước có nồng độ chất chống oxy hóa trái cây cao, với mùi vị xạ hương.

Gia đình này, và những người được đại diện trên chuyến xe, chỉ là một phần trong hơn 100.000 hộ gia đình Albania tham gia trồng trọt hay thu hoạch thảo dược và cây cỏ có hương thơm.

Trên khắp đất nước, con số này tương đương với khoảng một trong bảy gia đình làm việc trong ngành vốn đem lại tới 28 triệu đô la doanh thu xuất khẩu.

Từ năm 2018 đến 2019, doanh thu xuất khẩu đó được tạo nên từ 12.000 tấn anh thảo hoa vàng, việt quất và các loại cây cỏ khác mà thị trường ẩm thực và dược phẩm nước ngoài có nhu cầu.

Chất liệu làm đẹp

“Hãy đến mà xem,” Musaj nói và đưa tôi lên lầu để cho tôi xem phần thu hoạch mới nhất vừa được bổ sung vào khối lượng khổng lồ đó.

Ban công trên của bà biến thành màu vàng với thảm anh thảo đang được phơi khô trong nắng hè ấm áp, trông như thể bà đã đem một cánh đồng hết sức phong phú vào nhà mình.

Tôi lo lắng kiểm tra coi có cuống không, nhưng Musaj biết rằng bà chỉ hái bông thôi – khi khối thu hoạch này được buộc trong một tấm vải để đưa đến Kukës, sẽ không có nguy cơ chúng bị trả về.

Và từ Kukës, chúng sẽ đi tiếp, thông qua trung gian và nhà xuất khẩu, đến các công ty nước ngoài đang khát primula veris chất lượng được thu hoạch trong tự nhiên.

Các chồi khô héo như giấy trông thì không giống như thứ sẽ là thành phần khả dĩ của nước cân bằng da (toner), huyết thanh (serum) và mặt nạ đắp lên mắt với những dòng chữ đặc trưng như ‘tươi sáng’ và ‘hoàn thiện làn da’, ‘làm sáng’ hoặc ‘chống lão hóa’.

Elizabeth Gowing
Chụp lại hình ảnh, Thu hoạch thảo dược trong núi là công việc giúp nhiều phụ nữ Albania trở nên độc lập về kinh tế và có thêm nhiều cơ hội trong cuộc sống

Thế nhưng những sản phẩm mà chúng ta thấy trong các tạp chí làm đẹp phụ thuộc vào hoa anh thảo được sấy khô những trên ban công ở Albania này, được cõng lên những chiếc xe tải nhỏ và sau đó, chỉ cần một cơn gió nhẹ là bị thổi tung ra bên ngoài.

Tôi nghĩ về hũ kem nhỏ màu trắng mà tôi đã thoa lên vào sáng nay và tự hỏi phải mất bao nhiêu thời gian để làm ra nó.

“Vào mùa, chúng tôi ra ngoài từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều,” Musaj nói với tôi. Tôi có thể thấy những phụ nữ thấp thoáng trên sườn đồi, mang theo những chiếc liềm cong khiến họ trông như cướp biển, và đeo túi thu hoạch như tạp dề. “Chúng tôi làm việc này từ tháng 5 đến tháng 9. Từ tháng 10, tuyết rơi và hoa thì không có. Ưu tiên của chúng tôi lúc đó là vật nuôi.”

Cuộc sống vất vả

Chồng của Musaj, Xheladin, góp lời: “Chúng tôi yêu cuộc sống ở đây. Tôi yêu không khí trong lành. Tôi không muốn phải đi đến một cửa hàng ở góc đường. Tôi không thích Coca-Cola. Tôi có thứ nước uống hữu cơ riêng – thức uống sữa chua được gọi là dhallë.”

Bữa tối đưa ra các món ăn nhìn chảy nước miếng từ những gì trong nhà sẵn có: bánh nâu đỏ, phô mai tự làm, salad cà chua tự trồng, tiêu rang nhà trồng.

“Ngay cả tấm da cừu mà chị đang ngồi lên,” Musaj ra dấu chỉ đến tấm đệm thoải mái mà tôi đang ngả xuống. ” Là da từ cừu của chúng tôi đó.”

Getty Images
Chụp lại hình ảnh, Helichrysum, còn gọi là ‘hoa vĩnh cửu’, là nguyên liệu dùng để chế tạo các chất dưỡng da mặt và các sản phẩm bôi da ban đêm

Tôi cục cựa hơi khó chịu một chút ở chỗ của mình.

“Còn bánh mì. Tiệm bánh gần nhất cũng cách đó hai giờ. Vì vậy, chúng tôi tự làm bánh mì luôn,” bà cho biết. Bí ẩn của những chiếc bao căng phồng trên xe buýt đã được giải đáp. Những chiếc bánh mì đơn giản đó là món hàng mang về quý giá giúp tiết kiệm công sức mà bạn mua ở thị trấn khi có cơ hội.

Sau khi ăn xong, tôi đi ra ngoài cho đến tối với con trai của Musaj, cậu Ardian.

Hoàng hôn đang buông xuống và, giữa tranh tối tranh sáng, một khung cảnh cổ xưa hiện ra. Một hàng những con ngựa mỏi, trên mình cõng đầy những bao nylon buộc quanh, được những người đàn ông trông mệt mỏi không kém dắt đi từ đồng cỏ phía trên ngôi làng. Ardian giải thích những gì tôi đang thấy.

“Họ đi thu hái hoa suốt ngày hôm qua và hôm nay và ngủ trong lều trên núi.”

Phụ nữ không đi hái hoa xa như đàn ông. Mặc dù phạm vi địa lý của họ có thể giới hạn hơn, nhưng sự độc lập mà ngành hương thảo dược đem đến cho những người phụ nữ như Musaj – bất chấp các nhân tố buộc họ giữ vai trò truyền thống hơn – là rất rõ ràng.

Những phụ nữ đẹp

Anila Aliaj từ tổ chức phi chính phủ Kết nối Giá trị Tự nhiên với Von người (CNVP) – có một dự án phát triển ngành này với Đại sứ quán Thụy Điển đứng ra tài trợ và hiện làm việc với hơn 1.000 nông dân – giải thích thêm về công việc thu hái mà bao và kéo giúp làm được.

“Ngành này đem đến cơ hội thu nhập và độc lập kinh tế với chồng cho phụ nữ,” bà nói. “Nhưng phụ nữ không chỉ nên đi thu hái, mà còn phải là người ra quyết định trong kinh doanh.” Phần lớn nông dân làm việc trong dự án của bà là phụ nữ.

Bà Aishe Ivani, y tá làng Çajë, hòa giọng về làm thế nào thảo dược giúp nữ giới độc lập.

Bà cũng ra ngoài thu hái trong thời gian rảnh, và bà nói “với sự tiếp cận thiên nhiên mà chúng ta được ban tặng, chúng ta là thầy thuốc của chính mình”.

Ở tuổi 53, bà là một phụ nữ nữa có làn da mà tôi ngưỡng mộ, và tôi hỏi liệu bà có nghĩ hoa anh thảo giúp gì cho má bà ấy hồng hào không. Tuy nhiên, có vẻ như bà tin vào dinh dưỡng nhiều hơn chất có trong hũ kem trắng nhỏ mà tôi đang đặt vào niềm hy vọng chống nhăn. “Thực phẩm hữu cơ chính là thứ giúp tôi trẻ trung.”

Đối với những ai thấy dễ đưa vào chế độ chăm sóc sức khỏe của mình những thứ trong nhà tắm hơn là trong tủ bếp, dược thảo núi của Albania đem đến hy vọng khác.

Tinh dầu của thứ hoa được gọi là ‘hoa vĩnh cửu’ helichrysum là một thành phần khác của serum ‘phục hồi’ dùng buổi tối và các sản phẩm chăm sóc da mặt ‘tái tạo’.

Giống như anh thảo, đây là loài cây khác trồng giữa không khí núi non trong lành và được các công ty mỹ phẩm khắp thế giới sử dụng cho đặc tính giữ gìn làn da của nó.

Khi tôi đi xa hơn về phía bắc Albania, bên vệ đường, tôi thấy nhóm phụ nữ khác có làn da đẹp đang hốt lá. Họ nói rằng họ đến đây từ một làng gần đó tên là Gruemirë – dịch ra là ‘phụ nữ tốt’. Họ đang xử lý helichrysum, và tôi hỏi liệu tôi có thể chụp ảnh họ không.

“Được, nhưng chụp sao cho tôi đẹp nhé,” một người trong số họ kêu lớn với nụ cười trên môi.

người Việt tại Albania

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.