bài học VN và Afghanistan “khi chơi với xứ dân chủ tồ lô Mỹ-Andrew Gawthrope(Diplomat)Jachammer Nguyen(Tiengdan)

Jackhammer Nguyễn

Ý kiến ý cò

Những bài học khi chơi với người Mỹ

22-8-2021

Cái gọi là xây dựng quốc gia

In this photo released by China’s Xinhua News Agency, Taliban co-founder Mullah Abdul Ghani Baradar, left, and Chinese Foreign Minister Wang Yi pose for a photo during their meeting in Tianjin, China, Wednesday, July 28, 2021. Wang met with a delegation of high-level Taliban officials as ties between them warm ahead of the U.S. pullout from Afghanistan. (Li Ran/Xinhua via AP)

Trong số những bài viết về Afghanistan, so sánh với Việt Nam, sau sự kiện Kabul thất thủ (nói thất thủ là quá đáng vì có đánh đâu mà thất thủ), theo chủ quan của tôi, bài của Andrew Gawthorp, có tựa đề “Afghanistan và sự tương đồng thật sự với Việt Nam”, trên tạp chí Diplomat là sâu sắc hơn cả.

Theo tác giả thì sự tương đồng quan trọng nhất giữa hai trường hợp can thiệp của Mỹ, Việt Nam năm 1975 và Afghanistan năm 2021, nằm ở chỗ sự thất bại của Mỹ trong việc xây dựng quốc gia (nation building) theo mô hình dân chủ phương Tây. Nguyên nhân của thất bại này là sự kém hiểu biết của người Mỹ về quốc gia mà họ can thiệp vào. Từ đó dẫn đến việc người Mỹ chọn sai người địa phương, các chương trình “học tập dân chủ” ở Mỹ không bao giờ phù hợp, không bao giờ thực hiện được tại địa phương… dù đã thiết lập một hệ thống nhân sự rất lớn, chi rất nhiều tiền của.

Nhưng tác giả cũng nói rằng, chuyện xây dựng quốc gia (nation building) chỉ là một chiến lược để rời bỏ (exit strategy). Tức là nó chỉ là mục tiêu thứ hai, trùng với quan điểm của tôi trong bài: Kabul năm 2021 có phải là Sài Gòn năm 1975?

Người Mỹ đến Việt Nam để chống cộng sản, đến Afghanistan để diệt Al-Qaeda. Chuyện xây dựng quốc gia, dù về nguyên tắc là phù hợp với tinh thần dân chủ của nước Mỹ, nhưng chỉ là chuyện sau đó. Công bằng mà nói thì người Mỹ đâu có trách nhiệm phải xây dựng quốc gia cho một quốc gia khác!

Người Mỹ đã loại bỏ được Al-Qaeda, chống được chủ nghĩa cộng sản (sử dụng con bài Bắc Kinh), thì việc gì họ phải ở lại Việt Nam năm 1975 (thật ra là năm 1973) và Afghanistan năm 2021?

Độc quyền điều hành

Không ít những chỉ trích cho rằng, việc xây dựng quốc gia thất bại là do người Mỹ độc quyền điều hành, bỏ qua ý kiến của các viên chức địa phương, hoặc là can thiệp quá sâu vào các vấn đề nội bộ địa phương. Tổng thống Hamid Karzai của Afghanistan đã chỉ trích như thế, còn ở Việt Nam cũng không thiếu ý kiến nói rằng, Mỹ đã sai lầm lớn khi bật đèn xanh cho giới tướng lãnh lật đổ ông Ngô Đình Diệm, hay là bỏ qua ý kiến của chính quyền ông Nguyễn Văn Thiệu khi thương lượng hòa đàm Paris với phe cộng sản.

Ở đây chúng ta cần làm rõ nước Mỹ là quốc gia theo chủ nghĩa tư bản, ở cả hai mặt tốt và xấu của nó. Tương tự như trong một hội đồng quản trị ở một công ty, ai nắm nhiều cổ phần, người đó có quyền.

Trong hai cuộc chiến Việt Nam và Afghanistan, ai là người chi tiền? Người Mỹ chứ còn ai vào đây. Nếu chúng ta tán thành nguyên tắc chủ nghĩa tư bản Mỹ, thì chúng ta không thể trách cứ họ được.

Xài rồi thì thôi

Khi ta chứng kiến người Mỹ đổ tiền bạc, của cải vào một nơi mà họ đang can thiệp, thì đừng dựa vào khối lượng khổng lồ của cải và tiền bạc đó để mà suy ra rằng: Họ “đầu tư” nhiều như thế thì họ sẽ chiến đấu đến cùng. Đó không phải là chủ nghĩa tư bản.

Chúng ta hẳn đã thấy số xe cộ hàng hàng lớp lớp trong căn cứ Bagram lọt vào tay Taliban ở Afghanistan, mà tự hỏi tại sao họ lại bỏ của chạy lấy người như vậy?

Nhưng hãy nhìn lại miền Nam Việt Nam, theo số liệu được BBC Việt ngữ đưa ra, vào năm 1973 khi người Mỹ rút quân, họ để lại đến 2276 phi cơ các loại, mà phần lớn rơi vào tay quân cộng sản 2 năm sau đó.

Cũng nên biết rằng, những đống chiến cụ này đã được tính toán cả rồi, cho những dự án can thiệp quân sự của họ, vì thế vào năm 2021 ở Afghanistan, hay là năm 1973 ở miền Nam Việt Nam, đống của cải đó được xem như đã xài rồi, một cái giá của quá khứ (past costs), nó không thể làm ảnh hưởng đến những quyết định cho hiện tại và tương lai.

Trừu tượng hơn là tương lai dân chủ ở Afghanistan năm 2021, và ở Việt Nam năm 1975. Đó là hai dự án xây dựng quốc gia không còn có ý nghĩa nữa, thì đành phải bỏ nó để tính chuyện sắp tới, ở một nơi khác. Sau Việt Nam là các cuộc can thiệp ở Nicaragua, Grenada, và… Afghanistan.

Sau Afghanistan có thể là Đông Nam Á, như nhà báo David Hutt rành rẽ vùng này nói đến sự phấn khích đang lên tại thủ đô một số quốc gia Đông Nam Á về cận cảnh nước Mỹ quay lại vùng này, trong một dự án khác, dự án kềm chế Trung Quốc.

Tài nguyên thiên nhiên, chuyện không quan trọng lắm

Sau cuộc triệt thoái gây tranh cãi của Biden ở Afghanistan, nhiều người quan tâm đến thời sự đề cập đến nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào của xứ này có nguy cơ rơi vào tay Bắc Kinh, từ đó đưa đến nhận định rằng, Mỹ đã thất bại.

Mỹ không phải là một đế quốc cũ kỹ kiểu Pháp, Anh, Tây Ban Nha, chiếm đất để chiếm tài nguyên thiên nhiên. Chuyện đó xưa rồi. Đế quốc thực dân kiểu mới (theo cách gọi của những nhà lý luận cộng sản) không cần kiểm soát trực tiếp nguồn tài nguyên cụ thể, mà nó cần ảnh hưởng trên toàn cầu, cần cả trái đất vận hành theo những luật lệ thị trường mà nó muốn. Đế quốc thực dân mới này quan tâm nhiều hơn đến việc làm chủ công nghệ, đầu tư, hơn là chiếm dụng những khu mỏ quặng, dễ mang tiếng xấu.

Dù cho Bắc Kinh có nỗ lực gây ảnh hưởng ở châu Phi hay Nam Mỹ, nơi có nhiều mỏ quặng, thì những chuyến hàng chở quặng đồng từ Botswana hay Chile vẫn chở tới Mỹ để chế tạo xe điện ngày một tân tiến ở đây. Taliban sẽ bán đất hiếm (rare earth) cho ai, nếu không phải là Apple ở California?

Muốn hay không đều phải chơi với người Mỹ

Xây dựng quốc gia dưới sự bảo trợ của người Mỹ là điều dễ làm cho những người hào hứng với tinh thần dân chủ Mỹ phấn khích, mà không thấy rằng, thường thì đó chỉ là phó sản, exit strategy, của họ.

Nhưng không phải tất cả các dự án xây dựng quốc gia của Mỹ đều thất bại. Họ đã thành công với đại dự án Marshall ở châu Âu, góp phần phục hưng nước Đức cựu thù. Họ đã thành công ở Nam Hàn sau khi đẩy lùi quân đội của gia tộc họ Kim về bên kia vĩ tuyến 38.

Ở Đức, những giá trị và mô hình dân chủ Mỹ không xa lạ lắm với dân tộc này, một dân tộc đã từng có thời cộng hòa Weimar vang bóng. Ở Hàn Quốc, ngoài nhu cầu chiến lược của bán đảo Triều Tiên, làm người Mỹ không dễ dàng bỏ đi, còn có một sức mạnh địa phương hùng mạnh, hơn hẳn miền Nam Việt Nam và Afghanistan.

Dự án toàn cầu của Mỹ dường như một lần nữa chuyển trọng tâm về Đông Nam Á, nơi mà giới chức Mỹ liên tục thăm viếng trong hơn 10 năm qua. Muốn hay không muốn thì các quốc gia nhỏ ở đây cũng phải chơi với người Mỹ. Chuyện xây dựng quốc gia là chuyện riêng của Hà Nội hay Bangkok, hay bất cứ quốc gia ASEAN nào khác.

Jachammer Nguyen

Afghanistan and the Real Vietnam Analogy

Andrew Gathornpe

The war in Vietnam showed the abject failure of nation-building – and the imperial logic behind such efforts. But the U.S. repeated its mistake in Afghanistan. By Andrew Gawthorpe August 18, 2021

Afghanistan and the Real Vietnam Analogy
In this April 29, 1975, file photo the helicopter zone at the U.S. Embassy in Saigon, Vietnam, showing last minute evacuation of authorized personnel and civilians. The scenes in Kabul this week led many to remember the desperate, hasty exodus from Vietnam. Credit: AP Photo

The fall of Kabul has, predictably, led to boom times for Vietnam analogies. Local allies clamoring to escape, chaos in the streets, a hastily evacuated embassy – all of these evoke comparisons to the end of the United States’ disastrous war in Southeast Asia. But most of these analogies are surface-level and, in political discourse, serve more as a form of withering critique than as useful tools for learning. Nobody wants to be responsible for “another Vietnam.” But how to actually avoid it?

There is, however, one way in which a comparison between the two wars is incredibly revealing, and can indicate ways in which Washington can minimize its chances of future disaster. And that is by acknowledging the failure of nation-building, and the imperial logic which underlays it.

When we think about the Vietnam War, nation-building isn’t the first thing that springs to mind. Instead, we are liable to think of the big-unit war, or perhaps of “pacification,” the effort by Americans and allied forces to provide local security and development in the villages. But as I explored in my book “To Build as well as Destroy: The American Experience of Nation-Building in South Vietnam,” both of these things only existed and made sense when considered in the context of the U.S. effort to encourage the emergence of effective and legitimate governing institutions in South Vietnam.

In wars like those in Vietnam and Afghanistan, nation-building is the exit strategy. That’s why we tend to notice it has failed when it becomes time to leave. Killing the enemy isn’t enough if the enemy can reconstitute their manpower, as both the Vietnamese Communists and Taliban proved able to do. And “pacification,” which we now call counterinsurgency, usually proved ephemeral on its own. Once foreign forces moved on – and they always did – the flimsy structures of governance they constructed tended to disintegrate under the weight of inherited political and social circumstances. Isolated local governments in villages or even provinces will usually succumb to a coordinated insurgency unless they have a strong, effective central government at their back. Recognizing this, one U.S. nation-builder in Vietnam likened pacification to throwing a rock into the ocean. There was a “[b]ig splash, then nothing.”

In Vietnam, U.S. nation-builders realized that the key to a more durable impact lay at the central level of government in Saigon. If they could develop effective and legitimate institutions of governance here, then the problem of sustainability would be solved. The goal in Afghanistan was the same – although the country has traditionally been highly decentralized, the Americans placed their bets on developing the central regime’s ability to extract resources, muster manpower, and act as a focal point of loyalty. If nurtured correctly it would eventually be able to backstop and buttress the officials, regular military, and militia out in the field – and U.S. counterinsurgents would be able to go home.

Enjoying this article? Click here to subscribe for full access. Just $5 a month.

In 1967, the Johnson administration created the Office of Civil Operations and Revolutionary Development Support, which would go on to spearhead the most sophisticated and well-resourced wartime nation-building effort in U.S. history. It established a presence at every level of the South Vietnamese government, from the Presidential Palace in Saigon down to each of the country’s districts. It was a rare example of an organization in which civilians directly commanded military personnel and vice versa, an acknowledgement of the role that civilian expertise would play in nation-building. Between 1967 and 1973, tens of thousands of Americans served as nation-builders, advising every level of the South Vietnamese government on how to become effective and legitimate in the eyes of its own population.

On paper at least, the Office of Civil Operations and Revolutionary Development Support did everything right. If wartime nation-building was going to succeed anywhere, it should have been here. The effort was tightly integrated with the Vietnamese government at every level, and Americans and Vietnamese worked together to implement annual nation-building plans. The Americans constructed a tall scaffold around the government from Saigon to the field, allowing them access to every level. The leaders of the agency – first Robert Komer and then future CIA head Bill Colby – had the ear of the South Vietnamese leadership. If joined-up, whole-of-government operations have become the mantra of modern nation-building efforts, the Americans in South Vietnam were way ahead of their time.

But the right bureaucratic organization could not deliver success when the underlying project was flawed. At the root of nation-building is the idea that if the United States applies pressure at the appropriate points just right, then it can transform – or at least radically redirect – the politics of another nation. What’s more, the effort has to be undertaken with large knowledge deficits about the nation in question. The United States cannot afford to maintain thousands of personnel who are intimately familiar with the politics, history, and culture of every single country in which it might become involved in a war – and by the time the war starts, it’s usually too late to train them.

There is an imperial logic underlying this enterprise, one which assumes that the politics and culture of a less-developed nation are blank slates onto which the United States can paint whatever it wishes. U.S. policymakers would consider it risible if told that Russia proposed to invade California and establish a kleptocratic oligarchy that will win the assent of the Californian people, because they know that Californians have their own institutions, customs, and history that they will defend against outside encroachment. But too often policymakers don’t think twice when the United States proposes to export its own institutions somewhere else. This can only be because they see countries like Vietnam and Afghanistan – and their people – as somehow incomplete, lacking in depth and complexity, a simple caricature in need of saving. How else can Americans propose to save somewhere they barely understand?

In Vietnam, the administration at least recognized this knowledge deficit, and set out to close it by establishing the Vietnam Training Center, which gave some 2,000 nation-builders a crash course in the country before they were deployed into the field. The scale of the effort was and remains unparalleled in the annals of U.S. nation-building. But it was also deeply flawed, and only reinforced the futility of the overall enterprise.

Most of all, the effort to educate nation-builders on an industrial scale ended up reproducing stereotypes and ignorance rather than enlightenment. Students read documents with sweeping titles such as “The Vietnamese Peasant: His Value System” which claimed that “the peasant… likes war movies, perhaps because he can identify with them.” Those heading to serve as advisers to provincial governors were told that they had to establish the answers to 64 separate questions about their Vietnamese counterpart’s sex life, religion, business connections, and education in order to influence him properly. As I wrote in my book, the ridiculousness of the enterprise can be seen by imagining that the Vietnamese government had parachuted a man into California with a few months’ training and barely any English, then told him to develop a comprehensive understanding of the interests of Governor Ronald Reagan. But when it came to saving poor, benighted Vietnam, that was essentially the American plan.

Indeed, lack of sufficient language instruction was another frequent complaint of graduates, as was the fact that they received no specific training in the dialect or politics of the province they would actually deploy to. This handicapped their effectiveness. While most would be able to talk to their counterparts in the Vietnamese government, who generally spoke either English or French, they were completely unable to speak to the people the government was supposed to be serving – severely limiting their perspective on the success of nation-building. It also meant they were subject to manipulation by the very local elites who expected to own the future, and who were trying to shape it accordingly – not always in line with U.S. wishes.

In South Vietnam, as in Afghanistan, this U.S. inability to impose its will on local political realities ultimately led to the failure of nation-building and defeat in war. The specific ways in which Afghanistan has collapsed highlight the primacy of the local.

Regional politicians, looking out for their own interests in the post-American reality, have reached deals with the Taliban to hand over power. Military commanders have showed they value their own wealth more than the survival of the U.S.-backed government by pocketing money meant for the armed forces. The men at the very top of the regime, like President Ashraf Ghani, have been revealed as creatures of ephemeral structures with little control over what happened in the provinces. Now the regime’s U.S. power source has been removed, the lights have gone out and they have been forced to flee a country in which they are no longer safe. U.S. nation-builders, meanwhile, apparently understood the institutions they had created so little that they were shocked by their sudden collapse. That they lacked a grasp on the situation in a country where the United States has spent 20 years, thousands of lives, and countless dollars is alone an indictment.

The fall of Kabul, just like the fall of Saigon, is likely to be followed by decades of recrimination. After Vietnam, counterinsurgency, firepower-addicted soldiers, and weak-willed politicians all received a share of the blame. But perhaps because the sheer scale of U.S. nation-building effort in Vietnam is not commonly understood, the failures of nation-building and the assumptions underlying it went relatively unacknowledged. If the United States is to avoid involving itself in more futile wars after Afghanistan, it is vital that these failures be acknowledged now.

Enjoying this article? Click here to subscribe for full access. Just $5 a month.

Local politics and history matter so much more than nation-building, with its assumption that a short U.S. occupation can decisively change the course of a foreign country, allows. The United States can use its military force to temporarily stem the tide, but its nation-building efforts rarely manage to change the course of the river. That’s the real Vietnam analogy, and one that we can only hope U.S. policymakers and politicians take away from their latest disaster.

Andrew Gawthorpe

Andrew Gawthorpe is a historian of the United States at Leiden University in The Netherlands. He is the author of “To Build as well as Destroy: The American Experience of Nation-Building in South Vietnam” (Cornell University Press, 2018). He hosts a podcast about American politics and foreign policy called “America Explained” and tweets at @andygawt.

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.