Tiếng Sáo Uất Hận Bên Bờ Hồ Léman:Võ Thanh Minh(bị giết năm Mậu Thân 1968 tại Huế)

Tiếng Sáo Uất Hận Bên Bờ Hồ Léman

03/08/2019

Chuyện Bên Lề Hội Nghị Genève:

Tiếng Sáo Uất Hận Bên Bờ Hồ Léman


Nguyễn Thị Cỏ May

Trong “Những chuyện bên lề Hội nghị Genève”, tác giả kể lại một chi tiết hết sức thú vị “Từ khi hội nghị Genève khai mạc (8-5/54) cho đến khi hội nghị chấm dứt (21-7/54), cứ vào đầu mỗi phiên họp, các phái đoàn Cộng sản sắp hàng một, đi vào hội trường.  Đi đầu là phái đoàn Liên Xô do Molotov dẫn đầu; sau đến phái đoàn Trung Cộng do Châu Ân Lai dẫn đầu và cuối cùng là phái đoàn Việt Minh do Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Sau mỗi phiên họp, các phái đoàn Cộng sản cũng sắp hàng đúng thứ tự trên, ra khỏi hội trường. Và dầu trễ, các phái đoàn Cộng sản đều vào họp riêng rồi mới giải tán (Trần Gia Phụng, trích dẫn Hồi ký của Trần văn Tuyên, Hội nghị Genève, hồi ký, Sài-gòn, Nxb. Chim Đàn, 1964, tr. 24, ĐCV Online). Trần văn Tuyên kể vì ông là thành viên của Phái đoàn Quốc gia Việt nam tham dự Hội nghị  

Chỉ vào và ra Hội trường hằng ngày, suốt thời gian hội nghị, thế mà người cộng sản cũng vẫn giữ kỷ luật nghiêm chỉnh, rặp theo tôn ti kẻ bề trên, người phía dưới. Vậy mới hiểu Hồ Chí Minh và cộng sản Hà nội thật sự ngoan ngoãn và cúc cung tận tụy với bác Mao và bác Xịt (Staline) như thế nào!

Nay Cỏ May tôi tom góp một số thông tin có được về một nhơn vật, không phải là thành viên của phái đoàn bên nào hết cả, có mặt tại Genève và đúng trong lúc Hội nghị diễn ra, thời gian ông ở đó dài hơn Hội nghị, và dĩ nhiên cũng được báo chí nói tới. Nhờ đó Bà con ở Việt nam biết ông, theo dõi với lòng tràn ngập ngưỡng mộ ông vào lúc đó.

Đây là chuyện thật sự bên lề Hội nghị vì nó diễn ra bên bờ hồ Léman trước Hội trường. Nhơn vật này, không chức vụ, không đảng phái, nhiều người Việt nam khi biết về ông đều thương, đều kính trọng ông.

Ông Võ Thanh Minh tới Genève trước Hội nghị khai mạc và rời khỏi Genève sau khi Hội nghị bế mạc. Ông tới Genève, cấm lều bên bờ hồ, ngồi thổi sáo, thu hút sự chú ý của những người có mặt qua lại tại đó để đưa ra cái thông điệp «Dân Việt nam đau khổ, uất hận, phản đối đất nước bị chiến tranh suốt 9 năm dài, rồi nay bị chia cắt, tất cả đều do các cường quốc ngoại bang gây ra và áp đặt». Tiếng sáo là tiếng khóc tận đáy lòng của ông. Đến ngày Hội nghị sắp kết thức, tiếng sáo của ông càng thêm dìu dặc não lòng, như hòa theo với những tiếng nấc của người hấp hối:

“Đây sông Gianh, đây biên cương thống khổ                           
Đây sa trường, đây nấm mộ người Nam”!  (Hận Sông Gianh)

Một Huynh trưởng tuyệt vời 
Hồng Sơn Dã Mã Võ Thanh Minh (Tên đúng là Võ Thanh Minh, chớ không phải Thành Minh) là Trưởng. Nhờ hấp thụ tinh thần ái quốc của Cụ Phan Bội Châu mà Trưởng Võ Thanh Minh rất can trường, đầy dũng khí, rất mực yêu quê hương đất nước, có công đầu trong việc “khai sinh” ra phong trào Hướng Đạo Việt Nam, và riêng, Hướng Đạo Miền Trung. Trưởng còn là Tổng Bí thư đầu tiên của Hội Hướng Đạo Đông Dương.

Ngoài ra, Trưởng Võ Thanh Minh còn là một nhà “cách mạng” chân chính, rất thiết tha đến nền Hòa bình cho dân tộc Việt nam. Lập trường kiên định của ông là «Hòa bình» và «Trung lập» mà không chủ bại. Bởi theo ông thì một nền trung lập thật sự, chơn chánh phải là là hòa bình. Mọi người luôn luôn nghĩ tranh đấu cách mạng là tranh thủ cho bằng được chánh nghĩa quốc gia.

Ông chủ trương «Hòa bình» và «Trung lập» vì ông cho rằng tư bản thì nói «nhơn đạo», cộng sản thì nói «hòa bình» nhưng cả hai, trong lúc đó, đều chuẩn bị chiến tranh diệt chủng (Lời dẫn nhập tập thơ Tiếng Thương Tâm).

Ông còn có tên VÕ SONG THIẾT, tác giả tập thơ “Tiếng Thương Tâm”, được Vitimid dịch ra tiếng pháp «La tragédie extrême-orientale – La voix du peuple vietnamien», nhà A. Fauvel in 3000 bản, khổ nhỏ, gồm 34 trang, 2é tam cá nguyệt, Paris, 1952. 

Ông sanh năm 1906 (Bính Ngọ) tại làng Tân Mỹ, xã Hòa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ, Võ Thanh Minh theo học chữ Hán với thân phụ mình. Những năm sau đó,  Nhà nuớc đã chánh thức bãi bỏ các khoa thi bằng chữ Hán (Bắc kỳ năm 1915, Trung kỳ năm 1919) nên Võ Thanh Minh quay sang Tây học và đã đậu bằng Thành Chung (DEPSI). Bên cạnh việc học chữ, Võ Thanh Minh còn học các môn nghệ thuật như đàn, sáo và võ đạo, kiếm thuật. Bài võ rất nổi tiếng của Võ Thanh Minh đuợc nhiều nguời biết đến, là bài “Dã Mã đơn kiếm”. 

Sau khi đậu bằng Thành Chung, Võ Thanh Minh đuợc nhà cầm quyền lúc bấy giờ bổ nhiệm làm giáo học tại truờng Chính Hóa ở Vinh. Năm Võ Thanh Minh đuợc 24 tuổi (1930), một biến cố hết sức đặc biệt, đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của ông. Đó chính là Phong trào Hướng Đạo. 

Tháng 10 năm 1930, tại Hà Nội, đoàn Hướng Đạo Lam Sơn của Truởng Trần Văn Khắc và đoàn Vạn Kiếp của Truởng Hoàng Đạo Thúy, đã chánh thức ra đời. Buổi lễ “Thuợng kỳ” đầu tiên của phong trào Hướng Đạo Việt nam đã đuợc hai đơn vị tổ chức trang trọng tại trụ sở Trường Thể Dục Hà Nội. Lá cờ Hướng Đạo đầu tiên này là màu xanh có hoa Bách hợp trắng (theo hoa Huệ của Pháp). Còn quốc kỳ Việt Nam lúc đó là một màu vàng, chung quanh có tua kim tuyến và trên góc quốc kỳ phải đính cái nơ (noeud) tam tài (3 màu: đỏ, trắng, xanh) tượng trưng cho quốc kỳ Pháp, vì lúc đó Việt Nam đặt dưới quyền thống trị của thực dân Pháp. Như vậy bộ đồng phục Hướng Đạo chính thức trình làng tại Hà Nội vào cuối năm 1930. 

Cũng trong năm đó, tại Vinh, thầy giáo Võ Thanh Minh cũng đọc được một cuốn sách nói về Hướng Đạo. Thích quá, thầy Minh may cho mình một bộ đồng phục Hướng Đạo và mặc đi đây đi đó. Đó là bộ đồng phục Hướng Đạo đầu tiên được xuất hiện ở miền Trung, thành phố Vinh, năm 1930. 

Năm 1931, tình hình “nhân tình thế thái” ở Vinh rối ren, nên thầy Võ Thanh Minh với bộ đồng phục Hướng Đạo, lội bộ từ Vinh vào Huế, rồi dùng xe đạp (course) đi một vòng các nước Đông Dương (Việt – Miên – Lèo), cùng với bộ đồng phục Hướng Đạo ấy. Đến năm 1932, khi biết Trưởng Trần Văn Khắc đã vào Sài Gòn, thầy Minh liền vào Sài Gòn để liên lạc với Trưởng sáng lập Hướng Đạo Việt nam tại Hà Nội, Trưởng Trần Văn Khắc, để tìm hiểu, học hỏi thêm về tổ chức Hướng Đạo. Khi trở về Huế, thầy Võ Thanh Minh đã thành lập đơn vị Hướng Đạo đầu tiên tại đất thần kinh, đó là “Thiếu đoàn Bình Dân”. Các em thiếu sinh hầu hết là học sinh trường Tiểu học tư thục nhỏ do chính thầy làm Hiệu trưởng, đó là trường Tiểu học Lạc Hồng, mà người ta quen gọi là trường Bình Dân, vì phần lớn học sinh là con em gia đình bình dân, nghèo khó trong khu phố. 

Từ đó, Hướng Đạo tại Huế bắt đầu phát triển mạnh và thầy Võ Thanh Minh đã trở thành Huynh trưởng Hướng Đạo đầu tiên ở miền Trung.  Qua năm 1935, sinh hoạt Hướng Đạo ở Việt Nam nói chung, tại Huế nói riêng, đã thực sự sôi nổi và có những bước tiến mạnh mẽ. Trước hết, phong trào Hướng Đạo Việt nam được gia nhập phong trào Hướng Đạo Thế giới qua Tổng Hội Hướng Đạo Pháp (Éclaireurs de France). 

Tại Huế, Trưởng Võ Thanh Minh đã thành lập Tráng đoàn đầu tiên – Tráng đoàn Bạch Mã, và Trưởng Võ Thanh Minh cũng được “mang cái vinh dự quá sức mình”…, “mở đường cho ngành Tráng”, đó là vinh dự được “Lên Đường”, được làm “Tráng sinh lên đường” (RS) đầu tiên. 

Ngay dưới chân núi Ngự Bình, do Trưởng Nga Nam Tào (Cygne de la Croix du Sud) DCC Raymond Schlemmer chủ lễ, Trưởng Võ Thanh Minh được chính thức lên đường. Khi siết tay trái để tiễn Trưởng Võ Thanh Minh “lên đường”, chủ lễ Raymond Schlemmer đã nói với Trưởng Võ Thanh Minh : 

“Sois un grand exemple” -Hãy nêu gương sáng (Theo Sóc Trầm Tỉnh, nhơn lễ 100 năm ngày sanh của Trưởng Võ Thanh Minh – internet).

Võ Thanh Minh kiên cường

Sau Hội nghị Genève, ông còn ở lại Genève, liên tục viết thư gởi lãnh đạo các nước tham dự Hội nghị và cả các nước lớn trong Liên Hiệp Quốc yêu cầu họ trả lại hòa nình và thống nhứt cho Việt nam. Địa chỉ của ông là Văn phòng Liện Hiệp Quốc Genève. Thực tế là ông ngủ trong lều bên bờ hồ Léman. Ông lẻn vào Văn phòng LHQ, làm quen với Ban Văn thư, yêu cầu họ thấy thơ tên của ông thì giữ ở đó cho ông. Cứ vài hôm, ông tới lấy thơ. Được một lúc, LHQ yêu cầu cảnh sát can thiệp và chánh quyền Thụy sĩ trục xuất ông khởi  Thụy sĩ.

Ông hỏi trục xuất, ông đi đâu bây giờ?

Về nhà của ông – Ông bảo không có nhà.

Sau cùng ông phải rời Thụy sĩ, qua Pháp.

Tại Paris, ông cấm lều cạnh Tòa Thị xã Paris, thổi sáo, viết thư gởi chánh phủ Pháp, Anh, Bỉ, Đức, Huê kỳ, …yêu cầu trả lại hòa bình và thống nhứt cho Việt nam của ông.

Vài hôm sau, cảnh sát đuổi ông đi. Ông cũng hỏi đi đâu bây giờ? 

Nhưng ông cũng biết ông phải tôn trọng trật tự công cộng nên ông rút ra ngoại ô. Ông có chiếc xe hơi 1 bánh trước, 2 bánh sau, loại xe chở hàng nhỏ, vừa di chuyển, vừa làm chổ ở. Ở Orsay, phía Tay-Nam Paris, cách Paris lối 30 km, ông đậu xe trước nhà ông Đoàn Xướng, người Huế, vợ đầm, đảng viên cộng sản Pháp. Ông Đoàn Xướng làm chiffreur (mã hóa điện văn) trong Tòa Đại sứ Việt nam. Tại đây, ông lấy địa chỉ là địa chỉ nhà ông bà Đoàn Xướng. Cơm nước, ông nấu lấy. Ông ăn chay trường. Thỉnh thoảng, tức cả tuần hay hơn, ông vào trong nhà tấm giặt nhờ. Y phục muôn năm của ông vẫn là áo dài the, quần trắng, lâu ngày đổi qua màu cháo lòng.

Trước xe, ông đăng tấm bảng «Tại đây lãnh in Thiệp cưới, Danh thiếp, giấy tờ… ». In nhanh, giá rẻ. Ông còn in quảng cáo đi bỏ quảng cáo cho nhà in của ông. Công việc cũng đem lại cho ông chút tiền còm.

Rời Paris, ông qua Bỉ, Đức, Hòa lan, Anh, Áo cũng chỉ để xin yết kiến các vị nguyên thủ quốc gia, vận động cho vấn đề Việt nam. Không gặp được chánh giới, ông viết thư.

Ông qua Huê kỳ, tới Trụ sở LHQ nhưng bị cảnh sát Mỹ đuổi về.

Có người hỏi ông vận động tới nay có kết quả gì không? Ông lắc đầu bảo chẳng được gì hết!

Lối đầu những năm 60, ông về Huế, ở nhà thờ Cụ Phan Bội Châu.

Tết Mậu thân 68, ông vẫn giữ thái độ bình thảng, tự tại trước khói lửa và vc tràn ngập Huế. Để thấy một cách trung thực sự can trường và bất khuất của ông trước họng súng của vc, trước cái chết trước mắt, xin trích Nhã Ca trong «Giải khăn sô cho Huế»:

–  Cụ đi với chúng tôi. Xin cụ mang theo mười lăm lon gạo.
— Đem gạo mần chi rứa?
— Đem gạo để ăn. Học tập trong ba hôm rồi về.
— Cái chi mà phải học tập?
— Lấy cái bị hay cái túi mà đựng gạo. Đem theo dư ra càng tốt.
— Họp chi mới được chớ?
— Học tập, đã nói là học tập mà. Mời ông đi theo.
— Tao không đi.

Giọng chắc nịch bất ngờ của ông Minh làm tôi chưng hửng. Chắc từ hôm qua quân Giải phóng tới Huế tới giờ chưa ai dám nói một câu như thế. Tôi thầm lo cho tính mệnh ông. (…) Tôi không nhìn rõ mặt tên tổ trưởng nhưng tôi nghe được tiếng hắn cười gằn:

— Ông làm chi cho địch?
— Địch nào?
— Mỹ Ngụy.

Giọng ông Võ Thành Minh ngạo nghễ:

— Nói gì tầm bậy vậy? Tao mà theo Mỹ. Khi về nói ông Hồ Chí Minh nhà mi đã dám nói với tao giọng đó chưa? Tao không đi nghe không? Muốn mời tao họp phải có giấy Hồ chủ tịch chớ cái Mặt trận Giải phóng của tụi bây mà ăn nhằm gì. Tụi bây biết tao là ai không?

Có lẽ tên tổ trưởng nể ông già gân thật, tôi không nghe hắn nói thêm gì hết. Một giọng khác đỡ lời:

— Bác đi theo chúng cháu tới gặp cấp chỉ huy. Gần đây là bộ chỉ huy mà bác.
— Không đi, muốn nói gì thì kêu cấp chỉ huy của tụi bây lại. Tao ở đây, đây là nhà thờ cụ Phan, tụi bây lạ chi mà không biết. Tao sẽ tuyệt thực, xuống ngồi dưới cầu Bến Ngự phản đối lối giải phóng của tụi bây. Tao chống cả Mỹ, cả Cộng sản.
…..
-Tao hả ? Tao người quốc tế mà. Ông Hồ cũng phải nể tao, ông tổng thống Mỹ cũng nể tao, vì tao có chính nghĩa.
Yêu lắm cái tinh thần Võ Thành Minh, cá tính của ông là đây nè:

“Lương tâm và bổn phận con người Việt là lên tiếng. Tiếng nói còn, ngưỡng vọng còn. Ngưỡng vọng còn, người còn. Nên cứ làm, cứ phải làm”.

Người Việt nam thương ông, kính trọng ông. Nhưng cộng sản thì phải câm thù và phải thanh toán ngay những người bất khuất nhu ông.

Ông bị chúng bắt, dẫn đi cùng với những người khác không  phải là những người theo chúng nó. Và tháng 2 ta, sau Tết, được tin ông bị chúng nó giết.

Nguyễn thị Cỏ May

Saturday, December 28, 2019

Võ Thanh Minh – Con ngựa hoang dã

This image has an empty alt attribute; its file name is vocc83-thanh-minh.gif
Trưởng Võ Thành Minh – Trưởng Tôn Thất Đông và anh em Hướng Đạo Huế – 1964

Thử tìm hiểu về Võ Thanh Minh – Con ngựa hoang núi HồngLĩnh      

Thi Vũ Võ Văn Ái                                                                              

Minh Đức Hoài Trinh blog

 Gia phả nhà ông ghi: Tên ông là Võ Thanh Minh, sinh năm 1906 tại xã Tràng Thành, nay là xã Hoa Thành tỉnh Nghệ An. Năm 1937, trong một đêm lửa trại ở một cơ sở của Hội hướng đạo sinh Đông Dương, trên ngọn núi Bạch Mã ở gần kinh thành Huế, Võ Thanh Minh cùng với Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu và một số tướng lĩnh, trí thức được suy tôn là Tổng uỷ viên Hướng đạo sinh Đông Dương. Theo quy định của Hội hướng đạo, mỗi hội viên tự đặt cho mình một cái tên riêng- Võ Thanh Minh lấy tên là Hồng Sơn Dã Mã, Hoàng Đạo Thuý là Hổ Sứt, Tạ Quang Bửu là Chồn Pen- nen… Từ đó, Võ Thanh Minh thường dùng bút danh Dã Mã ( ngựa hoang) trong các bài viết của mình. Và như định mệnh, bút danh Dã Mã gắn với cuộc đời lang thang, chìm nổi của một con người lắm tài, nhiều tật, người khen thì cho rằng ông là một nhân vật huyền thoại, người chê thì cho là một người cuồng chữ, vô chính phủ, ngông nghênh, gàn…
Tôi còn nhớ, năm 1978, trong một hội nghị xác minh các tư lệu, nhân vật lịch sử ở Yên Thành, khi thảo luận về mục Cách mạng Thánh Tám ở Yên Thành, có sự kiện Võ Thanh Minh ủng hộ Việt Minh 5 tạ gạo để cứu đói cho dân, lại có việc Việt Minh Yên Thành bắt giam Võ Thanh Minh ngay sau khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện hai ngày với tội danh nói năng ngang tàng, luận điệu tuyên truyền phản động. Rồi chuyện Võ Thanh Minh trốn thoát, được một số cán bộ việt Minh bảo lãnh, chuyện ông tự ứng cử đại biểu Quốc Hội khoá I. Rồi nữa, chuyện từ vùng tự do, năm 1947 Võ Thanh Minh vào Huế rồi sang Pháp, sang Thuỵ sĩ. Năm 1954, khi Hội nghị Giơ-ne- vơ họp ở Thuỵ Sĩ, Võ Thnh Minh dựng lều ngồi thổi sáo phản đối hội nghị, phản đối chia cắt đất nước… Toàn là chuyện động trời. Cũng tại hội nghị xác minh lịch sử huyện, có vị cán bộ đọc bài văn tế sống Võ Thanh Minh.

See the source image

hồ Léman/Genève Thuỵ Sĩ

nơi hội nghị 1954 chia cắt VN

Bài văn tế có đoạn:
“ Miệng Tô Tần tán ngọt, trăm kẻ đều ghê. Mắt Tào Tháo liếc ngang trăm thành phải đổ. Nhà thanh khiết không cần lao cũng chán, miệng thừa gia đã đến phút lòn xu. Chân bạch đinh không sắc phẩm mà ngoan, phường kế thế lại chuyên nghề lèn ó.
Dở đời, dở đạo, niêu mang gói cuốn chạy khắp Bắc Nam.
Pha ông, pha thằng ngựa xuống xe lên tung loè làng họ.
Lắm kẻ tối mắt toan lăm le cắp tráp theo thầy.
Nhiều đứa to đầu toan hăm hở nô đùa cùng chú.
Huyệt Long Đàm, dao tráng sí đội lốt Phù tangHang Thiên tạo, chùa Tỳ lu mịt màu trăng gió.
Đường nghìn dặm mô tê bay phần phật,
Khi kề vế chung xe, bà phán cùng nhuần ơn vũ lộ…”
Cuối cùng, ý kiến kết luận của hội nghị là về nhân vật Võ Thanh Minh, vừa có công, vừa có tội, còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa đủ tài liệu để xác minh, chưa xem là nhân vật lịch sử, chưa đưa vào quyển thông sử của huyện. Lúc ấy, với tư cách là chủ biên cuốn lịch sử Yên Thành tập 1, tôi không nêu tên Võ Thanh Minh vào cuốn lịch sử Yên Thành, chỉ ghi là sắp đến ngày khởi nghĩa, có người ủng hộ Việt Minh 5 tạ gạo. Thế nhưng con người này cứ ám ảnh tôi mãi. Sau hơn 20 năm đổi mới, các tư liệu về Võ Thanh Minh được tập hợp đầy đủ hơn, cách nhìn về các sự kiện cởi mở hơn, nên thử tìm hiểu về Võ Thanh Minh trên góc độ một tác giả văn học quê Yên Thành Nghệ An, để hiểu thêm một hiện tượng một con người “độc hành kì đạo”, thoắt ẩn, thoắt hiện, “làm xiếc trước lịch sử”…
Điều dễ thống nhất về Võ Thanh Minh được nhiều người thừa nhận- ông là người có tài, cả văn cả võ. Về văn, ông là tác giả tập thơ “Những tiếng thương tâm”, xuất bản tại Huế đầu năm 1948. Tập thơ in với số lượng không nhiều nhưng là tiếng kêu thương của một tâm hồn nhạy cảm trước nỗi khổ của đồng bào và có tiếng vang nhất định ở vùng tạm chiếm thời đó. Riêng tiền bán sách đủ để tác giả mua vé máy bay sang Pháp. Ông là con nhà nghèo, là con trai đầu của một gia đình có 4 người, ông chỉ học chữ Hán, chữ quốc ngữ ở quê rồi vào Huế vừa làm, vừa tự học, trở thành giáo viên dạy Văn học triết học Phương Đông ở trường Nguyễn Công Trứ, Vinh. Trường Quốc học Huế và một số trường ở Châu Âu…Về võ , Võ Thanh Minh là người ham thích thể dục, thể thao, tự học võ dân tộc, võ tàu, võ Ấn, lúc cần ông dạy võ để kiếm sống. Ông đã từng là vận động viên tham dự 2 cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương năm 1937, năm 1943 và đạt giải cao.
Ông còn là nhà giáo ngoại ngữ: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc… ông đều sử dụng thành thạo; viết báo, làm thơ bằng nhiều thứ tiếng. Bạn bầu ông ở trong và ngoài nước còn giữ lại nhiều tác phẩm báo chí, văn học của ông. Trong tủ sách của con cháu ở Hoa Thành, ở Hà Nội, ở Đà Nẵng còn giữ lại một số tác phẩm bằng tiếng Pháp, Anh, Hoa.
Võ Thanh Minh được nhắc đến nhiều là những hành động bênh vực người yếu, giúp đỡ người nghèo. Nhân dân vùng Yên Thành còn truyền khẩu nhiều câu chuyện trong những năm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mỗi khi ông ở nhà, lúc bọn lính Tây về quấy nhiễu ở chợ Dinh, ở Kẻ Gám… ông đến tận nơi, dùng vốn tiếng Pháp của mình bênh vực nhân dân. đối với những người nghèo gặp đói kém hoạn nạn, ông thường giúp đỡ tiền. Ông và hội hướng đạo của ông coi đây là mục đích hoạt động: Vận động những nhà phú hữu ủng hộ, làm từ thiện cho người nghèo. Nhưng cách ủng hộ có khi công khai, có khi đang đêm cho người đem gạo, tiền đến cho người nghèo, không cần người được nhận biết rằng ai đã cho mình tiền, gạo.
Điều còn nhiều ý kiến trái ngược nhau là nhân cách, đức độ của Võ Thanh Minh. Võ Thanh Minh không tôn thờ một tôn giáo, đảng phái chính trị nào. Ông chỉ sinh hoạt trong tổ chức Hướng đạo sinh, tổ chức này có nguồn gốc từ Anh, có mạng lưới ở nhiều nước trên thế giới. Bản thân ông là Tổng uỷ viên Hội hướng đạo sinh Đông Dương từ năm 1937 đến năm 1945, trực tiếp làm thủ lĩnh Hội hướng đạo sinh miền Trung từ khi thành lập đến năm 1943, sau ông là ông Tạ Quang Bửu. Cách mạng Thánh Tám thành công, tổ chức Hướng đạo sinh tan rã, phần lớn những thanh niên, trí thức Hội Hướng đạo đều đi theo cách mạng, qui tụ dưới ngọn cờ đại nghĩa của lãnh tụ Hồ Chí Minh như Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng, Trần Duy Hưng, Hoàng Đình Cầu, Phan Đăng Tài… Thì đáng tiếc là, Võ Thanh Minh không tán thành và không hợp tác với chính phủ kháng chiến, không tin vào thành công của cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta. Sau cách mạng Thánh Tám 1945, ông làm giáo viên trường Nguyễn Công Trứ ở Hoa Thành. Bấy giờ trường Nguyễn Công Trứ chuyển về đây. Ông có tự ứng cử Quốc hội khoá I năm 1946 nhưng không trúng cử. Khoá này làng Tràng Thành có 2 người ứng cử, nhưng chỉ có ông Chu Văn Biên trúng cử. Cuối năm 1947, Võ Thanh Minh rời Nghệ An vào vùng tạm chiếm ở Huế. Vào đây, ông không theo người Pháp, cũng không hợp tác với chính quyền Bảo Đại mà xin tá túc ở ngôi nhà Bến Ngự của cụ Phan Bội Châu, tập trung sáng tác thơ văn. Tập thơ “Những tiếng thương tâm” ra đời trong thời gian này.
 Ông tự nhận mình là người yêu nước, thơ văn của ông kêu gọi hoà bình, thống nhất nhưng làm thế nào để có hoà bình thống nhất thực sự thì ông không biết và cũng không theo ai. Năm 1948 ông sang Pháp rồi đi lang thang khắp Châu Âu, vừa kiếm sống vừa tuyên truyền tư tưởng “yêu nước” của riêng ông. Ông tìm đến các bãi thải xe ô tô cũ của người Pháp, lượm lặt chắp vá thành một cái ô tô “đầu ngô mình sở” vừa làm nhà vừa làm phương tiện đi lại, làm đủ mọi nghề kiếm sống và chu du khắp Châu Âu.
Năm 1954, ông dựng lều, ngồi thổi sáo bên bờ hồ Le man, Giơ- ne –vơ phản đối “chia cắt đất nước”, đòi thống nhất, hoà bình. Tại hội nghị Giơ- ne – vơ, có 3 người vốn là yếu nhân của Hội hướng đạo sinh Đông Dương nhưng đi theo 3 con đường khác nhau: Tạ Quang Bửu, Phó đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà- Thứ trưởng Bộ quốc phòng (Trưởng đoàn là Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Cung Giữ Nguyên, đại diện cho chính phủ của cựu hoàng Bảo Đại, và Võ Thanh Minh, tự xưng là con cháu Lạc Hồng, tự biểu tình,  chống “ chiến tranh” đòi thống nhất quốc gia.
Sau hiệp định giơ- ne- vơ 1945, Võ Thanh Minh có đến một số nước Châu Âu. Có lần ông sang Mỹ với ý định tìm đến trụ sở Liên Hiệp Quốc để gửi đơn đòi hoà bình cho Việt Nam nhưng vì không có giấy tờ, bị trục xuất khỏi nước Mỹ.
Năm 1960, Võ Thanh Minh viết thư cho chính phủ 2 miền Nam Bắc xin về nước và được Bộ Ngoại Giao 2 miền chấp thuận nhưng rồi ông về miền Nam- về cố đô Huế. Ở Huế, Võ Thanh Minh viết đơn xin chính quyền Sài Gòn cho đóng một con bè ở bờ sông Bến Hải- Cửa Tùng, xin làm người đưa thư cho đồng bào 2 miền Nam Bắc, và nếu có chết thì chết giữa dòng Bến Hải. Ý tưởng và kiến nghị của Võ Thanh Minh chẳng những không được chính quyền Sài Gòn chấp nhận mà còn nghi ngờ Võ Thanh Minh thân Việt Cộng, theo Việt Cộng. Võ Thanh Minh bị bắt giam ở Tây Nguyên, ở miền Tây Quảng Trị đến 6 lần. Có lần ông làm thơ nói lên ước muốn  “ở với cây” của mình.
“ Duyên nợ chi chi với chốn này
Vừa ra khỏi đó lại vào đây
Bốn tường vôi chấn trông mòn mắt
Một tấm còng đeo chịu bó tay
Tư tưởng ông Lê đâu có biết
 Tài nghề Cụ Xích cũng không hay (1)
Phen này nếu được tha ra nữa
Ta quyết lên rừng ở với cây”(2)
 Thời gian về nước, trừ những lúc bị giam giữ, Võ Thanh Minh lại trở về ngôi nhà cụ Phan Bội Châu dọn dẹp, thắp hương, chăm sóc phần mộ cụ Phan.
Năm 1968, trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân, Võ Thanh Minh cùng một nhóm người tâm phúc của ông “xông ra giữa hai làn đạn”. Con người ngang tàng, mơ mộng ấy ra đi đêm mồng 10 tháng 2 âm lịch, để lại tập thơ “Những tiếng thương tâm”. Tại nhà thờ họ Võ ở Hoa Thành còn lưu lại tấm hình, bản trích của ông “Kính tặng gia quyến” và đôi câu đối:
 Sơn hà đổi vận, tài tuy kém
Danh lợi ngoài vòng, chí tự cao
Và lời di huấn nhắc con cháu đặt tên lót theo 16 chữ
 Thanh cao lập chí
Đại Tráng Thành Công
Nhất Gia Hướng Đạo
Vạn Tuế Đại Đồng…
Có người cho là Võ Thanh Minh học theo cách làm của vua Tự Đức, nhưng cũng có người cho là mấy câu này tóm tắt ý tưởng hồn nhiên của một “con ngựa hoang núi Hồng Lĩnh”.
Chú thích
(1)   Bài văn tế sống Võ Thanh Minh được phổ biến ở Yên Thành vào những năm 1956- 1947. Chưa rõ ai là tác giả- Rút trong tập hồi kí cách mạng nhà báo Ngô Đức Hùng.
(2)   Bài thơ “Ở với cây” của Võ Thanh Minh do ông Võ Thanh Khiết (đã mất) – em ruột Võ Thanh Minh chép lại trong tập gia phả họ Võ ở Hoa Thành.
(3)   Ông Lê, Ông Xích ở đây là ông Lê nin và cụ Stalin.
(4)   Võ Thanh Minh có một người con gái tên là Võ Thanh Tú, hiện sống tại Hà Nội.

Ngô Đức TiếnThứ tư, 18 Tháng 11 2009 05:11
http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/vo-thanh-minh-con-ngua-hoang-da

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.