chuyện “ba que xỏ lá bi hài” mùa đại dịch cúm Tàu : BS Khoa (Lê Văn Chín)rút ống thở của mẹ sang cho sản phụ song sinh nhiễm covid-19 !!??-Thu Hà(Tiengdan.com)

thời đại 4.0 không phải thời xa xưa

“Bác sĩ Khoa”, Tuyên giáo và truyền thông đại bịp!

Thu Hà

11-8-2021

Tuần qua, mạng xã hội “dậy sóng” bởi một số tờ báo đảng như VietNamNet, VnExpress, VTV… đem hình ảnh trẻ em Mỹ chích ngừa, nguỵ tạo, gán ép cho trẻ em các nước như UAE, Ấn Độ đang chích vaccine Vero Cell của Trung Quốc, rồi một số “quan báo” có Cao cấp Chính trị của Đảng, lại tung hô, tuyên truyền câu chuyện “Bác sĩ Khoa” rút ống thở giết mẹ để cứu sản phụ sinh đôi…

Bình thường mà, có gì mà xôn xao, các “trò chơi chính trị” này, tuyên giáo và các sử gia của Đảng đã xài từ lâu lắm.

Chế Lan Viên (1920-1989) thi nhân của Đảng lúc sống, sáng tác một bài thơ có tựa “Cành đào Nguyễn Huệ”, được vào tuyển tập, sách văn học tham khảo, có nội dung như sau:

“Hẳn nhớ Thăng Long hẳn nhớ đào?

Mai vàng xứ Huế có khuây đâu!

Đào phi theo ngựa về cung nhé!

Nở cạnh đài gương sắc chiến bào”

Hoạ theo Chế Lan Viên, các nhà tuyên giáo “trứ danh” của Đảng thì nhào nặn câu chuyện còn lâm ly hơn, đưa vào tư liệu giáo khoa nghiên cứu, giáo trình giảng dạy.

Chuyện kể rằng, thấy hoa đào Thăng Long năm ấy nở tuyệt đẹp, Nguyễn Huệ chọn một cành đào Nhật Tân hé nụ, sai người mang vào Phú Xuân (Huế) tặng Ngọc Hân. Cành đào được buộc chéo bằng lạt giang mềm, ngoài phủ gấm vàng. Dịch trạm thay nhau hỏa tốc đưa cành đào vào Nam. Hai ngày sau, tối mùng 7 tháng Giêng, đào đã đến tay người nhận. Nhìn cành đào lung linh hoa nở, Ngọc Hân hoàng hậu sung sướng rơi lệ, ngỡ mình đang đứng trên mảnh đất Thăng Long…

Một cảnh “Quang Trung tặng cành đào cho Ngọc Hân” do Đảng dàn dựng. Ảnh: Internet

Sau này, giáo sư Phạm Duy Khuê mới tiết lộ sự thật: Trong một kịch bản sân khấu chèo có tên Quang Trung, sáng tác năm 1964, soạn giả Trúc Đường (1911-1983) tên thật là Nguyễn Mạnh Phác, anh ruột nhà thơ Nguyễn Bính đã hư cấu, bịa ra cho thêm phần lâm ly thôi.

Khôi hài như thế, vậy mà khối “khoa học gia” lẫn “chính trị gia” của Đảng tin như sấm. Một số sử gia “bưng bô” cho Đảng, cũng gật gù tấm tắc cho rằng, “anh hùng áo vải” lãng mạn và tâm lý quá.

Sau Cách mạng Tháng 8/1945, ông Trần Huy Liệu đã tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè. Một số thông tin ghi nhận, ông Liệu từng nói với giáo sư sử học Phan Huy Lê rằng: “Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa”.

Trần Huy Liệu từng nắm chức Bộ trưởng Bộ tuyên truyền chính phủ Hồ Chí Minh. Những năm sau năm 1945, ông Liệu giữ chức Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam.

Giáo sư Lê cũng đề cập đến chi tiết phi lý trong chuyện này là: “Cậu bé Lê Văn Tám, sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy”.

Vậy mà Đảng cộng sản đưa vào sách “Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945 – 1975)”. Bộ sách “Mùa thu rồi, ngày hăm ba” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 1996, cũng chép chuyện này.

Để tuyên truyền như thật, Đảng cho đặt công viên, trường học, tượng đài, đường phố mang tên Lê Văn Tám. Kinh hơn, họ cho khắc tên “liệt sĩ” Lê Văn Tám vào Đền tưởng niệm liệt sĩ ở Bến Dược, Củ Chi.

Hình tượng Lê Văn Tám trong sách giáo khoa

Không chỉ Lê Văn Tám, ở Việt Nam còn có nhân vật Võ Thị Sáu. Dù Võ Thị Sáu không bị hư cấu như Lê Văn Tám, nhưng nhân vật này đã bị thêm vào nhiều câu chuyện không có thật, bị biến thành một tấm gương sáng ngời về “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”.

Võ Thị Sáu (1933-1952), quê xã Phước Thọ, tổng Phước Hưng Thượng, tỉnh Bà Rịa, nay thuộc xã Long Mỹ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cha là ông Võ Văn Hợi làm nghề đánh xe ngựa thồ. Mẹ là bà Nguyễn Thị Đậu, buôn bán bún bì chả tại chợ Đất Đỏ. Nhân chứng cùng thời cho biết, bà Sáu vốn không bình thường từ nhỏ, ngây ngây dại dại, cắm hoa trên đầu đi khắp làng…

Võ Thị Sáu có anh ruột là Võ Văn Me, đi theo Việt Minh. Lợi dụng kiểu “nửa khùng, nửa điên” của Võ Thị Sáu, Việt Minh đã bày vẽ và xúi Sáu mang lựu đạn ra giữa chợ ném vào lính Pháp. Quan Pháp lẫn quan Việt không chết, chỉ có mấy chục dân thường lãnh đạn, chết oan uổng. Võ Thị Sáu bị bắt giam, bị kết án tử hình và xử bắn tại Côn Đảo.

Chân dung Võ Thị Sáu. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Để thổi phồng, xây dựng thần tượng, tạo tâm lý khát máu trong tầng lớp thanh thiếu niên, Đảng đã công nhận Võ Thị Sáu là liệt sĩ, truy phong Anh hùng lực lượng vũ trang. Họ còn thêu dệt chuyện trước khi chết, Sáu “cài hoa Lekima lên tóc và hát vang bài ca Lên đàng”. Chưa hết, Đảng còn cho thêu dệt những câu chuyện hoang đường, về “hồn ma linh thiêng” Võ Thị Sáu tại nghĩa trang Hàng Dương… để hù doạ những ai không thuận theo tiếng gọi và con đường của Đảng.

Thật lạ kỳ, một trẻ em khuyết tật não bộ, bị lợi dụng để làm kẻ khủng bố, giết người máu lạnh, làm chết oan nhiều người dân vô tội… là hành vi cần lên án, ngược lại, còn được Đảng tôn vinh, ngợi ca “chiến công” trong thơ ca, nhạc hoạ, đưa vào tài liệu lịch sử, sách giáo khoa dạy cả bậc tiểu học.

Nực cười, khi mà Hoàng Phủ Ngọc Phan, kẻ cùng anh trai là Hoàng Phủ Ngọc Tường, là hai trong số những tên đao phủ khát máu, từ chiến khu trở lại Huế để chỉ huy lực lượng Việt Cộng bắn giết tàn bạo dân Huế trong cuộc thảm sát kinh hoàng có một không hai tại kinh thành Huế vào Tết Mậu Thân 1968, lại đăng đàn với một bài khá dài, kiểu “hăm doạ”, trên tuần báo Văn nghệ thành phố HCM với tựa đề “Không được xúc phạm Liệt nữ Võ Thị Sáu“. Cho đến tuổi gần đất xa trời, anh em nhà họ Hoàng Phủ vẫn quyết tâm “bưng bô” cho Đảng đến hơi thở cuối cùng.

“Đao phủ” Hoàng Phủ Ngọc Phan

Ngoài các nhân vật kể trên, còn có “anh hùng Nguyễn Văn Bé”. Bé (1941- 2012) quê ở Châu Thành, Sông Bé; cha là ông Nguyễn Văn Hụi và mẹ là bà Lê Thị Ba, sống ở xã Kim Sơn, huyện Long Định, tỉnh Định Tường. Nguyễn Văn Bé theo Việt Cộng năm 1961, thuộc đơn vị 860 V, đơn vị vận tải miền Trung Nam Bộ, bị bắt ngày 30/5/1966 tại kinh Cả Bèo, xã Mỹ Quý, thuộc tỉnh Kiến Phong.

Thông tin cho biết, Bé bị thương nặng, được lính Mỹ chữa trị và nhanh chóng quy hàng, phục vụ chính thể VNCH. Sau này Bé định cư ở Hoa Kỳ và mất ở quê nhà Việt Nam năm 2002.

Ngày Nguyễn Văn Bé mất tích, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam suy diễn Bé ôm mìn tấn công quân địch và anh dũng hy sinh, họ cấp tốc truy tặng anh danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang” và Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba cho Nguyễn Văn Bé.

Báo chí miền Nam Việt Nam lẫn báo chí Mỹ (báo Time số ra ngày 17/3/1967) đều trưng dẫn hàng loạt bằng chứng cho thấy “anh hùng” Nguyễn Văn Bé đang sống và đã hồi chánh (trở về với chính nghĩa quốc gia). Thậm chí có cả hình ảnh Nguyễn Văn Bé đang đọc báo Tiền Phong

Báo chí từ Cộng sản Bắc Việt và Trung ương Cục miền Nam đều phản bác kịch liệt, cho đó là thủ đoạn tuyên truyền của VNCH. Vì vậy mới có chuyện cười ra nước mắt, Nguyễn Văn Bé đọc bài báo viết về Nguyễn Văn Bé anh dũng hy sinh, đăng trên báo Tiền Phong, số ra ngày 17/12/1966.

Nguyễn Văn Bé xem báo đăng mình “anh dũng hy sinh”

Giống như Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, tấm gương của “anh hùng” Nguyễn Văn Bé được đưa vào sách giáo khoa, vào lịch sử, tên Nguyễn Văn Bé được đặt tên đường, tên trường học và các liên chi đội trên khắp Việt Nam.

Mãi đến năm 1996, một số cựu chiến binh là đồng đội của Nguyễn Văn Bé năm xưa theo Việt Cộng, đã nhìn thấy Việt kiều Nguyễn Văn Bé “bằng xương bằng thịt” trở về quê nhà, nên đã mạnh dạn gửi thư cho Bộ Tư lệnh Quân khu 7, chỉ ra “Đảng ta” đã sai lầm ngớ ngẩn, không nên làm ngơ, tiếp tục tôn vinh một người đã “chiêu hồi quốc gia” năm ấy nữa.

Đảng xấu hổ, chỉ đạo chính quyền âm thầm tháo biển, thay đổi tên đường, loại cái tên Nguyễn Văn Bé ra khỏi sử sách. Tuy nhiên, đến nay một số nơi vẫn chưa biết, vẫn duy trì tên trường học, chi đội Nguyễn Văn Bé.

Tiểu sử Nguyễn Văn Bé khắc trên bia đá tại Trường THCS Nguyễn Văn Bé ở Krongpak, Dak Lak

Còn nhiều lắm những câu chuyện hoang đường nhưng “hiện thực” như thế được Đảng cộng sản dựng lên theo từng thời điểm, phục vụ cho nục đích, mưu mô chính trị.

Dối trá và lừa bịp, tráo trở và mê hoặc là ngón nghề của tuyên giáo Cộng sản. Họ muốn tẩy não, nhồi sọ cả trẻ em, học sinh và thế hệ trẻ. Dân chúng Việt Nam cứ phải lầm lũi cúi đầu đi theo Đảng, cấm cãi nếu không muốn nếm dùi cui, súng đạn và ngục tù. Đảng luôn đúng, không sai và không bao giờ nhận lỗi.

Kẻ chịu trách nhiệm sẽ là “một bộ phận đảng viên”, là “các thế lực thù địch”, là thiên tai, dịch bệnh. Nhờ vậy mà Đảng tồn tại và đang dẫn dắt trăm triệu dân Việt tiếp tục đi tìm… thiên đường XHCN như họ vẫn rêu rao suốt gần một thế kỷ qua.

Phụ Đính

Bundesarchiv Bild 146-1968-101-20A, Joseph Goebbels.jpg

Joseph Goebbels,tuyên giáo của Đức Quốc Xã

Trong bài Mấy tư liệu về Lê Văn Tám (Tạp chí Xưa & Nay, số 490 tháng 12/2017), ông Nguyễn Huy giới thiệu bức thư của cố GS Trần Huy Liệu gửi ông Trần Quang Huy – Trưởng Ban Khoa giáo TƯ lúc đó. Thư bốn trang, nội dung góp ý về bản “Dự thảo 35 năm đấu tranh của Đảng” nên vị sử gia cách mạng lão thành còn thận trọng ghi “để anh (TQH) chuyển đến anh Trường Chinh tham khảo”. Tác giả trích phần có liên quan đến nhân vật Lê Văn Tám như sau:

“Hà Nội, ngày 14/4/1967

Kính gửi anh Huy

… Chuyện em Lê Văn Tám, tôi cho đến nay vẫn không tin có việc này, vì nó vô lý quá. Ai cũng biết kho thuốc đạn của giặc bố trí cẩn mật và khoa học thế nào, vậy thì làm sao một em bé có thể xông thẳng vào đốt cháy một cách dễ dàng và đã xông thẳng vào được thì việc gì phải tự tẩm xăng vào mình thì mới đốt cháy được. Câu chuyện này đồn lên chính xác vào hồi tôi làm bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, nhưng hồi ấy là đốt kho dầu xăng ở Khánh Hội, chớ không nói là đốt kho thuốc đạn ở giữa thành phố Sài Gòn. Tôi còn nhớ một bài báo của địch lúc đó đã chế riễu chuyện này và liên hệ với đôi chân khập khiễng của tôi và cái chân thọt của anh Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt). Thế rồi chuyện đó êm đi, trên báo chí của ta cũng không hề chính thức một lần nào nói về chuyện đó và trong câu chuyện đồn thổi cũng chỉ nói có một thiếu nhi tẩm dầu xăng, chớ không hề nói tên là Lê Văn Tám. Mãi đến năm gần đây thì kịch Lê Văn Tám mới xuất hiện như một sự thật đã xảy ra. Tôi nghĩ nếu nó chỉ thuộc loại truyền thuyết hay giai thoại thì ta cũng không cần thiết phải cải chính nhưng nếu dùng làm sử liệu, viết vào lịch sử của Đảng thì rất không nên”.

Dù rằng tác giả giới thiệu bản chụp bức thư nói là của GS.THL, lưu tại Viện Sử học, hộp 29, tếp 1032, nhưng không phải là di bút của nhà sử học, mà chỉ là bản sao viết tay của người thư ký tên Lê Vũ Hiển. Đúng là thời đó chưa có máy photocopy nhưng máy đánh chữ thì đã có cả thế kỷ rồi và “gõ” một lần cũng cho ra năm ba bản. Tuy bản sao có đóng dấu mộc “Viện Sử học” nhưng lại thiếu cái cốt yếu là chữ ký xác thực của người thủ bút (là ông THL)!

Tuy nhiên, một đoạn trích chưa tới 250 từ cũng đủ làm rõ ra mấy điều chính yếu mà người viết trình bày ra đây để bạn đọc suy xét:

Trần Huy Liệu

1. GS.THL viết: “Chuyện em Lê Văn Tám, tôi cho đến nay vẫn không tin có việc này, vì nó vô lý quá… Câu chuyện này đồn lên chính xác vào hồi tôi làm bộ trưởng Bộ Tuyên truyền… Tôi còn nhớ một bài báo của địch lúc đó đã chế riễu chuyện này và liên hệ với đôi chân khập khiễng của tôi và cái chân thọt của anh Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt)”. Rõ ràng là chuyện về em Lê Văn Tám ông THL chỉ biết qua các phương tiện thông tin báo, đài và dư luận chớ không do ông tự viết ra!

So-488--Tuong-dai-Le-Van-Tam---Anh-1
Tượng đài Lê Văn Tám – Ảnh: ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Trao đổi một vấn đề rất nghiêm túc liên quan tới lịch sử của Đảng với những nhà lãnh đạo quan trọng cấp trên mà sao nhà sử học không nói thẳng ra “chuyện em Lê Văn Tám do tôi (THL) sáng tác ra để phục vụ yêu cầu cách mạng lúc đó”, trong khi ông lại dễ dãi trải lòng ra nhiều lần với những học trò vào hàng con cháu câu chuyện mà ông thấy rằng “không cần thiết phải cải chính”?!

2. Điều nhà sử học nói “nó vô lý quá” mọi người đều thấy. “Ai cũng biết kho thuốc đạn của giặc bố trí cẩn mật và khoa học thế nào, vậy thì làm sao một em bé có thể xông thẳng vào đốt cháy một cách dễ dàng và đã xông thẳng vào được thì việc gì phải tự tẩm xăng vào mình thì mới đốt cháy được”… thì làm sao nhà báo lão làng THL lại dựng lên một câu chuyện có nhiều tình tiết hoài nghi đến thế?!

Đến nay còn có những chứng nhân tại chỗ xác định ở khu vực Thị Nghè lúc đó có một kho xăng tư nhân (thực ra chỉ là trạm trung chuyển không lớn lắm của hãng dầu Shell) bảo vệ sơ sài, gần chợ Thị Nghè và kho đạn Pyrotechnicque kế bên Sở thú. Hai điểm này cách nhau con rạch chừng vài trăm mét (Báo Cựu chiến binh TP.HCM, số 269) bởi về nguyên tắc kho xăng và kho đạn không được để cùng một chỗ. Trong không khí căm thù sục sôi những ngày đầu cả Nam bộ kháng chiến thì “có nhiều sự kiện đốt cháy các kho xăng dầu, thuốc đạn của địch tại Sài Gòn”. Vụ cháy kho xăng xảy ra ngày 17/10/1945 sau ngày Nam bộ nổ súng kháng chiến 23/9 chưa đầy một tháng, lại do một thiếu niên tên TÁM, người địa phương khu Đakao gần đó thực hiện. Kho xăng cháy trong đêm nhưng rất xúc động lòng người, gây tiếng vang lớn lắm (Tuần báo Văn nghệ TP.HCM, số 79, 297, 383). Vụ nổ kho đạn xảy ra sau đó chừng 6 tháng (ngày 8/4/1946). Đó là kho dự trữ cho cả chiến trường nam Đông Dương nên đạn nổ rần rần, tóe lửa rực trời suốt mấy ngày đêm, địch bị tổn thất rất lớn, bà con ta vô cùng phấn chấn. Tuy nhiên đó là một địa điểm trọng yếu, lại gần Tổng hành dinh tướng Le Clerc – chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, nên được canh phòng rất cẩn mật. Tất nhiên muốn đánh kho đạn này phải có sự điều nghiên rất kỹ và hợp đồng tác chiến chặt chẽ, vậy mà ít ra cũng có ba chiến sỹ hy sinh (Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Hữu Mai chấp bút, Hồi ký của nhà cách mạng Dương Quang Đông, Hồi ký của ký giả Nam Đình tức Nguyễn Kỳ Nam, khá trùng hợp với nhau).

3. Ông THL viết: “Trong câu chuyện đồn thổi cũng chỉ nói có một thiếu nhi tẩm dầu xăng, chớ không hề nói tên là Lê Văn Tám. Mãi đến năm gần đây thì kịch Lê Văn Tám mới xuất hiện”. Nhà sử học có nói cái tên Lê Văn Tám là do ông đặt ra đâu? Ông Trần vào Sài Gòn từ năm 1924, làm báo và làm cách mạng. Năm 1935, ở tù Côn Đảo ra, bị chính quyền thực dân trục xuất về Bắc kỳ, cho tới lúc chết ông chưa có dịp trở lại miền Nam. Trong khi cuộc kháng chiến chống Pháp mở rộng ra cả nước, tiếp sau là cuộc kháng chiến chống Mỹ, mỗi ngày, mỗi thời kỳ xảy ra bao nhiêu là sự kiện lớn nhỏ ở khắp nơi trên cả nước, tất nhiên chỉ một số việc và người điển hình tiêu biểu được nêu gương rộng rãi trên hệ thống truyền thông, chớ sao có thể nói hoài một chuyện? Thời đầu ta chống Pháp bằng tầm vông, dao quắm, phảng, giáo, mác thậm chí là tay không giết giặc. Đến thời chống Mỹ, ta đã trưởng thành, dùng đặc công gài thủy lôi, trái nổ kết hợp với tên lửa cải tiến bắn từ xa, đánh đắm tàu chở hàng vạn tấn dầu trên sông Lòng tàu, cho nổ cả trăm ngàn tấn đạn ở kho Thành Tuy Hạ và đánh cháy hàng trăm triệu lít xăng ở kho chứa Nhà Bè rộng mênh mông (Đặc công Rừng Sác – Lê Bá Ước). Châm mồi xăng làm ngọn đuốc là chuyện xưa rồi!

Năm 1954, khi bộ đội Cụ Hồ về giải phóng Thủ đô, người viết bài này học lớp đầu trường PTTH Nguyễn Trãi lúc đó ở phố Hàng Bài. Khoảng năm 1955 – 1956, trường diễn vở kịch “Lửa cháy lên rồi”, người thủ vai em Tám là bạn Trịnh Xuân Chính, lúc đó học lớp Đệ thất (lớp 6 ngày nay), lớn lên là diễn viên Đoàn kịch nói TƯ, rồi được sang Ba Lan học kỹ thuật hóa trang, sau 1975 vào làm việc ở TP.HCM, hẳn giới nghệ sỹ sân khấu nhiều người quen biết. Cùng thời gian ấy, vở kịch được diễn ở Hải Phòng, sau lên Hà Nội, người xem náo nức. Soạn giả, nhà thơ Phan Vũ kể: “Tôi người Hải Phòng, Vệ quốc quân Nam tiến. Những năm ở chiến trường tây Nam bộ tôi có nghe chuyện một thiếu niên Sài Gòn tên Tám, dũng cảm xông vào đốt cháy một kho xăng. Chuyện chỉ có thế nhưng cái chết của em cứ lởn vởn trong tâm não tôi. Năm 1954, tập kết ra Bắc, niềm thương nỗi nhớ miền Nam và hình ảnh em bé đốt kho xăng sống dậy, tôi dồn tâm sức viết vở kịch “Lửa cháy lên rồi”. Không ngờ vở kịch thành công lớn quá, tôi cảm động lắm. Không nhớ tại sao tôi lấy họ Lê đặt cho em. Thật ra cái tên không quan trọng mà sự kiện mới là nguồn cảm hứng cho người viết”. Cũng từ đó chuyện em bé LÊ VĂN TÁM đốt kho xăng lan truyền khắp nước.

Như vậy, cụm từ “NGỌN ĐUỐC SỐNG LÊ VĂN TÁM” gồm có hai phần: “LÊ VĂN TÁM” là danh từ riêng, trong đó TÁM là tên thật (Chứng nhân cụ thể là các ông Trần Thắng Minh, Hồ Thanh Điền, Võ Thanh Khiết – báo đã dẫn), gắn vào họ LÊ VĂN chỉ là sự ngẫu nhiên của người nghệ sỹ; và cụm từ biểu tượng “NGỌN ĐUỐC SỐNG” từ đâu ra? Muốn xác minh điều này không khó nếu để công sưu tra thời điểm cụm từ này xuất hiện trên các văn bản truyền thông chính thống của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ năm 1954 trở lại.

4. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống xâm lược phương Tây của dân tộc ta được cả nhân loại coi như một cuộc “chiến tranh thần thánh”. Truyền thống yêu nước quật cường là gốc rễ nuôi dưỡng sức mạnh thần thánh ấy. Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, bền bỉ đứng mũi chịu sào suốt cuộc đấu tranh, tổ chức đoàn kết toàn dân, nhân lên và phát huy tinh thần xả thân vì nghĩa lớn. Lịch sử Đảng ghi nhận những sự kiện và những con người liên quan đến sự khai sinh và phát triển của Đảng. Còn biết bao con người trong giây phút làm nên lịch sử và cái chết của họ hóa thành bất tử như: Lý Tự Trọng, Kym Đồng, Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Thái Bình… dù là danh thật hay không thật, kể cả những người nằm xuống âm thầm lặng lẽ chỉ để lại truyền thuyết đẹp thì tên tuổi, chiến tích anh hùng của họ đều đáng được tôn vinh tại nơi họ ghi dấu ấn.

Là nhà cách mạng từng trải, trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, ông THL đặt vấn đề với tổ chức: “không cần thiết phải cải chính nhưng nếu dùng làm sử liệu, viết vào lịch sử của Đảng thì rất không nên”, là rất tế nhị, chí lý, chí tình và rất có trách nhiệm trên cương vị một nhà sử học chân chính.

Cuối bài, ông Nguyễn Huy viết: “Vụ đốt kho đạn là có thật. Thiếu niên đốt kho đạn là có thật. Nhưng người mang tên Lê Văn Tám là không có thật, đó là tên do GS.THL đặt ra (?)… Chỉ có biểu tượng Lê Văn Tám, không có anh hùng mang tên Lê Văn Tám (!)”. Lời nhận xét đã gần sự thật, đủ để phủ định lời khẳng định trước đây: “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám là hoàn toàn không có thật!” của ông Viện trưởng Viện Khoa học lịch sử Việt Nam từng gây xôn xao dư luận.

Nhà thơ Phan Vũ, soạn giả vở kịch “Lửa cháy lên rồi” đưa tên tuổi LÊ VĂN TÁM khắc dấu son vào lòng bao thế hệ, kể: “Năm 1982, Xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu TP.HCM dựng bộ phim “Ngọn lửa thành đồng” dựa trên kịch bản của tôi do anh Lê Mộng Hoàng đạo diễn. Tổ chức Đoàn Thanh niên có bàn với tôi lập hồ sơ truy phong anh hùng cho Lê Văn Tám nhưng tôi không biết gì hơn những điều tôi đã viết về con người ấy”. Đồng đội của dũng sỹ đã hết lòng tìm tung tích nhưng bản “báo công” của anh vẫn còn là tờ giấy trắng và đã có ai dám nhận vơ đâu?! Cho đến nay trong danh sách anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến 1945 – 1975 không có tên LÊ VĂN TÁM, dù là hành động ấy rất anh hùng. GS. Trần Văn Giàu – nhà cách mạng, sử gia, người anh hùng chính danh và cũng là chứng nhân nhiều sự kiện quan trọng ở Nam bộ trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, nhưng vào thời điểm xảy ra sự kiện thì ông được triệu ra Hà Nội. Thực tế thì đánh một trạm xăng, một đồn bót… là nhiệm vụ của đơn vị trực tiếp cụ thể, thậm chí có thể là tự phát, đúng như lời ông nói: “… Không có, tôi không có chỉ huy… Nhưng mà theo tôi thì trận đánh đó là có thực, phải không?… Tôi nghĩ rằng ta đánh giá không hết lòng yêu nước nồng nàn, dám làm việc lớn của thanh niên và cán bộ lúc bấy giờ. Cái chuyện đó không thể nói là không có. Nhưng nó có ở đâu, có như thế nào mới là cái khó cắt nghĩa. Khó cắt nghĩa lắm. Người viết sử phải ghi nhận lòng yêu nước nồng nàn ở trong lòng người Việt Nam, mà có khi không biết là ai làm. Khi gặp được cơ hội, làm được việc gì, gặp cơ hội đánh được bọn thực dân xâm lăng thì không bao giờ từ chối, không việc gì không dám làm… Không có Lê Văn Tám làm chuyện đó thì có người khác làm chuyện đó”. Đòi hỏi phải “tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học” (PHL), thì cũng cần hiểu rằng cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc ta là một cuộc chiến tranh toàn dân, đâu cũng là chiến trường, mỗi người dân là một chiến sỹ, tay không cũng thành vũ khí. Vô vàn chuyện như thần như thánh xảy ra không ít ở khắp nơi trên đất nước này mà giới chức đương quyền bó tay đã đành và “phía bên kia” cũng không biết ai làm chuyện đó, tin tức trên các phương tiện truyền thông đều phỏng đoán khoa trương, khiến quân giặc ăn không ngon, ngủ không yên, phát điên lên và nhận ra Việt Nam không là chốn dung thân của quân xâm lược. Những chuyện như thế, nhà sử học ghi chép thế nào?

Dẫn chứng sử học cần được xem xét cẩn trọng và giải trình trung thực. Giấy trắng mực đen rành rành mà người ta vẫn làm xiên xẹo đi huống chi lịch sử vốn không thiếu điều mơ hồ rối rắm. Dù sao thì ngọn lửa của anh hùng mang biểu danh LÊ VĂN TÁM đã thành bất tử, là “biểu tượng thiêng liêng” của tuổi trẻ yêu nước Việt Nam. Sự thật lịch sử được bảo vệ. Nhà sử học chân chính được minh oan. Chuyện không còn gì để nói.

Chí sỹ Lương Văn Can để lại lời nhắn nhủ cho đời: “Bảo quốc túy – Tuyết quốc sỷ”. Rửa sạch nỗi nhục mất nước, thế hệ hôm nay đang được hưởng. Giữ gìn cái tinh túy là bản sắc dân tộc, là hồn của giống nòi, điều tiên quyết là đất nước phải thanh bình, lòng người ổn định, nhân dân bốn cõi đồng tâm hiệp lực thì mới mong có được một đất nước phát triển, văn minh, tiến bộ bằng người.

Thành phố Hồ Chí Minh,
ngày 25/1/2018.

Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 488

GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám


03/05/2016


GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám

“Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám” – GS Phan Huy Lê. AddThis Sharing ButtonsShare to FacebookShare to TwitterShare to LinkedInShare to DiggShare to TumblrShare to MIX


“Theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực” – GS Phan Huy Lê nhấn mạnh sau khi giải thích về hình tượng nhân vật Lê Văn Tám.

GS Trần Huy Liệu căn dặn chúng tôi phải nói lại

Bấy giờ là vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tôi có nhiều dịp làm việc với GS Trần Huy Liệu trong công trình khoa học do GS chủ trì và tôi được mời tham gia. Lúc đó, GS Trần Huy Liệu là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội, kiêm Viện trưởng Viện sử học. Ngoài những buổi họp ban biên soạn ở cơ quan, tôi có một số buổi làm việc với GS tại nhà riêng.

Ngoài công việc biên soạn công trình, GS thường trao đổi một cách thân tình  những vấn đề thời sự sử học trong và ngoài nước, kể lại một số chuyện trong đời hoạt động cách mạng của mình. Trong những năm 1954 – 1956, khi tôi đang học ở trường Đại học Sư phạm/văn khoa Hà Nội, GS Trần Huy Liệu có đến giảng một số bài về cách mạng Việt Nam.

Về câu chuyện Lê Văn Tám, tôi xin được tóm lược một cách đầy đủ lời kể và lời dặn của GS Trần Huy Liệu mà tôi đã lĩnh hội như sau: Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10 – 1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã “dựng” lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.

GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận: Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS đã tự trách là vì thiếu cân nhắc về khoa học nên có chỗ chưa hợp lý. Đây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ để xác nhận thêm.

Tôi nhấn mạnh là GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên”, theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch.

GS giải thích là thời Nam Bộ kháng chiến, có bao nhiêu tấm gương hy sinh vì Tổ quốc, nhưng “dựng” chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách mạng tháng Tám.

Lúc bấy giờ, GS Trần Huy Liệu đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời, nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.

Cũng xin lưu ý là GS Trần Huy Liệu giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời từ ngày 28 – 8 – 1945 đến ngày 1 – 1 – 1946, rồi Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp lâm thời từ ngày 1 – 1 – 1946 cho đến khi thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại kỳ họp Quốc hội ngày 2 – 3 – 1946, nghĩa là trong thời gian xảy ra sự kiện Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy, chứ không phải trong thời gian “1946 – 1948?” sau sự kiện trên.

Điều căn dặn của GS Trần Huy Liệu là: Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Trong câu chuyện, GS còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Đây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí mà tôi coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử.

GS Trần Huy Liệu là một con người rất trung thực, không muốn để lại một sự ngộ nhận trong lịch sử do mình tạo nên trong một bối cảnh và yêu cầu bức xúc của cuộc kháng chiến và tôi lĩnh hội lời dặn của GS như một trách nhiệm phải thực hiện một cách nghiêm túc.

Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học.

Ngày nay, từ đầu thế kỷ XXI nhìn lại, trong hoàn cảnh chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ hơn 30 năm, đất nước đã giành lại độc lập, thống nhất, tôi xin đặt ra hai vấn đề sau đây để thế hệ chúng ta cùng bàn luận.

– Xác minh rõ sự kiện Kho xăng địch bị đốt cháy trong tháng 10-1945.

– Thái độ ứng xử đối với biểu tượng Lê Văn Tám.

Vấn đề thứ nhất là cần cố gắng sưu tầm tư liệu đáng tin cậy để xác định rõ hơn sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy trong tháng 10-1945:

Tôi nói tư liệu đáng tin cậy trong trường hợp này không phải là các sách báo viết về sau này, mà là tư liệu gốc khai thác từ nhân chứng lịch sử hay những thông tin trực tiếp từ sự kiện thời bấy giờ và dĩ nhiên đều phải đối chiếu, xác minh một cách khoa học.

Nhân chứng lịch sử:

Tôi đã có dịp hỏi GS Trần Văn Giàu – lúc đó giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ, thì GS khẳng định có sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy và trong tình hình lúc đó là do ta đốt, nhưng không biết ai tổ chức và người nào thực hiện.

Nhà cách mạng lão thành Dương Quang Đông trong hồi ký viết rằng, người đốt Kho đạn Thị Nghè ngày 1-1-1946 không phải là Lê Văn Tám mà là tổ đánh mìn của công nhân nhà máy đèn Chợ Quán (tạp chí Xưa & Nay số 154).

Tư liệu báo chí:

Tư liệu báo chí lúc bấy giờ thì tại Thư viện quốc gia Hà Nội lưu giữ được rất ít, các số báo lại không đủ. Bước đầu tôi mới tìm thấy thông tin liên quan với Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy trong báo Quyết chiến là “cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân”, tòa soạn đặt ở phố Nguyễn Tri Phương, Thuận Hóa; báo Cờ giải phóng là “cơ quan tuyên truyền cổ động trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương” và báo Thời mới do Nguyễn Văn Luận làm Chủ nhiệm; nhưng các số không liên tục, không đủ.

Báo Quyết chiến số ngày thứ sáu, ?- 10 – 1945 đưa tin dưới tít lớn Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình đốt cháy kho dầu Simon Piétri với nội dung như sau: “Một gương hi sinh vô cùng dũng cảm. Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình tự làm mồi lửa đã đốt được kho dầu Simon Piétri, lửa cháy luôn hai đêm hai ngày.

Đài Sài Gòn trong buổi truyền thanh tối 17 – 10 công nhận rằng kho dầu này đã hoàn toàn bị thiêu ra tro, sự thiệt hại đến mấy chục triệu đồng”.

Ngày phát hành số báo, in ngày “thứ sáu”, số ngày không rõ và có người viết thêm bút mực con số 7, tiếp theo là tháng “10 – 45”. Theo lịch năm 1945, trong tháng 10 có 3 ngày thứ sáu là ngày 12, 19 và 26. Trong bản tin có nhắc đến buổi phát thanh của Đài Sài Gòn ngày 17, vậy ngày thứ sáu của tờ báo phải sau ngày đó và có thể xác định là ngày 19 – 10 – 1945.

Báo Thời mới số 6 ngày 28 – 10 – 1945, nhân lễ khai mạc Ngày Cứu quốc do Tổng hội sinh viên cứu quốc tổ chức, đăng bài Những chuyện cảm động của dân ta trong cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, có đoạn kể lại câu chuyện đốt kho xăng ở Sài Gòn theo lời kể của một người từ Nam Bộ ra Hà Nội ngày 21-10-1945 như sau: “Một người bạn tôi ở Nam Bộ vừa ra đây hôm hai mươi mốt kể cho tôi nghe nhiều điều tai nghe mắt thấy ở Nam Bộ để chứng cho cái tinh thần kháng chiến anh dũng đó. Thứ nhất là chuyện anh dân quân tẩm dầu vào người, đốt cháy kho ét-săng và cao su sống ở Sài Gòn.

Có người nói rằng nhà chiến sĩ tuẫn quốc này tự nguyện xin mặc áo bông giầy tẩm xăng rồi lấy lửa tự châm mình như một cây đinh liệu, xông vào kho cao su sống kia. Không phải thế. Làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho.

Thực ra thì nhà chiến sĩ của chúng ta phải dùng mưu nhiều lắm. Trước khi vào, anh em mọi Pleiku của chúng ta đã phải lừa lúc giặc Pháp canh phòng không cẩn thận, trèo lên những cái cây to ở xung quanh kho cao su, bắn tên độc vào những người gác ở bốn bề. Nhà chiến sĩ, nhằm chính lúc cơ hội thuận tiện đã đến, tẩm dầu vào người, đeo súng liên thanh, bò qua tường vào trong kho cao su tìm bắn những người Pháp. Chúng bâu lại như đàn ruồi.

Chiến sĩ Việt Nam biết không thể làm hơn được nữa, bắn lia lịa vào những thùng ét-săng ở hai bên, ét-săng tràn ra cả nhà. Chiến sĩ ta châm một mồi riêm vào người, nhảy lên đám thùng rỗng, chửi rủa giặc Pháp tàn tệ.

Trong lúc đó, cả mình mẩy anh bừng bừng lên. Anh vẫn chửi rủa giặc Pháp cho đến khi gục nằm xuống như một đấng thiên thần hiện ra rồi mờ đi trong giấc mơ dữ dội. Những người đứng xa ngoài ba mươi cây số còn trông thấy ngọn lửa đám cháy này và trong hai ba ngày đêm liền, giặc Pháp và phái bộ Anh không thể nào rập tắt”.

Báo Cờ giải phóng số ra ngày 25-10-1945, đưa lên trang đầu hình ảnh một người đang bốc cháy xông về phía trước kèm theo lời “Tinh thần anh dũng của đồng bào Nam Bộ muôn năm”.

Báo Cờ giải phóng ngày 5-11-1945, trong mục Mặc niệm: “trích đăng một vài tấm gương xung phong anh dũng đã được nêu lên trên mặt báo chí miền Nam”, có đoạn đưa tin: “Trước kho đạn Thị Nghè có rất đông lính Anh, Ấn, Pháp gác nghiêm ngặt, khó bề đến gần phóng hỏa.

Một em thiếu sinh 16 tuổi, nhất định không nói tên họ, làng, tình nguyện ra lấy thân mình làm mồi dẫn hỏa. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm sầm vào kho đạn. Lính Anh đứng trong bắn ra như mưa. Một lần trúng đạn, em ngã nhào xuống, nhưng rồi ngồi dậy chạy luồn vào.

Lính Anh khiếp đảm bỏ chạy ra ngoài. Một tiếng nổ. Em thiếu sinh tiêu tán cùng với kho đạn Thị Nghè của giặc”.

Dưới bản tin có ghi chú “Kèn gọi lính, ngày 8 – 10 – 1945”. Như vậy báo đưa tin theo tin của báo Kèn gọi lính ngày 8 – 10 – 1945 và theo đó, kho đạn bị đốt cháy phải trước ngày 8 – 10 – 1945, ít ra là ngày  7-10-1945.  

Trên đây là một số thông tin lấy từ báo chí ở thời điểm gần nhất với sự kiện liên quan đến chuyện Lê Văn Tám. Tôi hi vọng là những người quan tâm đến chuyện này có thể tìm kiếm và thu thập thêm thông tin báo chí mà tôi chưa được tiếp cận.

Còn sự kiện quân ta phá nổ kho đạn của địch ở Sài Gòn ngày 8-4-1946 mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến trong hồi ký “Những năm tháng không thể nào quên” thuộc giai đoạn sau, không liên quan đến chuyện Lê Văn Tám.

Trong những báo trên, thông tin sớm nhất là “Kèn gọi lính” do báo Cờ giải phóng trích đăng ngày 5-11-1945. Rất tiếc là tôi không tìm thấy báo Kèn gọi lính mà căn cứ theo đoạn trích của Cờ giải phóng. Theo thông tin này thì “một em thiếu nhi 16 tuổi” đốt kho đạn Thị Nghè trước ngày 8-10-1945, chứ không phải kho xăng Thị Nghè.

Báo Quyết Chiến ngày 19? – 10 – 1945 lại đưa tin “kho dầu Simon Piétri” bị “một chiến sĩ ta” đốt cháy vào trước ngày 17 – 10 – 1945. Kho đạn ở Sở thú và kho xăng ở Thị Nghè là hai địa điểm gần nhau. Như vậy theo những thông tin gần thời điểm xảy ra sự kiện thì vẫn còn phải tìm thêm cứ liệu để xác định là kho đạn hay kho xăng và thời điểm là ngày nào, chắc hẳn trước ngày 17 – 10 – 1945.

Rồi người thực hiện là “em thiếu nhi 16 tuổi” (Kèn gọi lính) hay “một chiến sĩ ta” (Quyết chiến) hay “anh dân quân tẩm dầu vào người” (Thời mới). Việc tẩm xăng vào người, lúc đó cũng đã gây ra sự bàn luận.

Thời mới đã bác bỏ chuyện người chiến sĩ tẩm dầu vào người xông vào kho xăng vì “không phải thế, làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho” và cho rằng người chiến sĩ phải “dùng mưu nhiều lắm” để lẻn vào gần kho xăng rồi mới “tẩm dầu vào người”, dùng súng bắn thủng các thùng xăng và châm diêm vào người, nhảy vào đám thùng xăng. Không biết tác giả dựa trên căn cứ nào nhưng về khách quan, cách trình bày này hợp lý hơn.

Với những thông tin đã tập hợp, tuy chưa đủ và còn một số khía cạnh chưa xác minh được (kho xăng hay kho đạn, thời điểm, người đốt) nhưng sự kiện kho xăng (hay đạn) của địch ở Thị Nghè (hay gần Thị Nghè) bị ta đốt cháy là có thật.

Ngay lúc đó, trên báo chí đã xuất hiện những thông tin khác nhau về người đốt và cách đốt kho xăng, tuy nhiên có điểm chung là gắn với hình ảnh một chiến sĩ tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch và không có tên Lê Văn Tám hay tính danh của người chiến sĩ đã hi sinh.

Điểm lại những tư liệu đã thu thập được thì càng thấy rõ, trên cơ sở sự kiện có thật và cả dư luận về hình ảnh người chiến sĩ tẩm xăng thời đó, GS Trần Huy Liệu tạo dựng nên biểu tượng “ngọn đuốc sống” gắn với tên tuổi thiếu niên Lê Văn Tám.  

Vấn đề thứ hai là cách ứng xử đối với biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám”:

Trong bàn luận, cũng có người nghĩ rằng, “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” đã đi vào lòng dân rồi, các nhà sử học không cần xác minh nhân vật đó có thật hay không, làm ảnh hưởng tới một “biểu tượng”, một “tượng đài” yêu nước. Tôi quan niệm hoàn toàn khác.

Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Dĩ nhiên, với trách nhiệm công dân, có những sự thật trong một bối cảnh cụ thể nào đó liên quan đến bí mật quốc gia hay ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của dân tộc, nhà sử học chưa được công bố.

Về nguyên lý, mọi kết quả nghiên cứu sử học càng khách quan và trung thực, càng có tác dụng tích cực xây dựng nhận thức lịch sử  đúng đắn và không có gì mâu thuẫn với các biểu tượng lịch sử, các tượng đài yêu nước có giá trị được nhân dân tôn vinh.

Ngay đối với những biểu tượng mang tính huyền thoại, truyền thuyết như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Con Rồng-Cháu Tiên, Phù Đổng Thiên Vương, nỏ thần An Dương Vương, vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm…, kết quả nghiên cứu khoa học chỉ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cốt lõi lịch sử của biểu tượng.

Ví dụ những phát hiện khảo cổ học về đồ sắt trong văn hóa Đông Sơn, kho mũi tên đồng ở Cổ Loa và gần đây, hệ thống lò đúc mũi tên đồng ngay trong thành Nội của thành Cổ Loa, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn cốt lõi lịch sử của hình ảnh ngựa sắt của Thánh Gióng, vai trò của nỏ thần của An Dương Vương. Chuyện vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm vẫn nguyên giá trị thiêng liêng, không hề bị ảnh hưởng bởi việc nghiên cứu giống rùa và tuổi thọ của rùa Hồ Gươm…

Biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” thực sự đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu vào tâm thức của nhân dân, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý chí xả thân vì nước của quân dân ta trong buổi đầu của Nam kỳ kháng chiến. Một số đường phố, trường học, công viên hiện nay đã mang tên Lê Văn Tám. Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám.

Đó không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật, nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hi sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng. Trả lại nguồn gốc thật của biểu tượng này là để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám.

Tôi nghĩ rằng tất cả các đường phố, trường học, công viên… mang tên Lê Văn Tám vẫn để nguyên, vẫn được tôn trọng như một biểu tượng với nội dung giải thích đúng sự thật và ngăn chặn mọi ý đồ dựng lên lý lịch Lê Văn Tám như một nhân vật có thật rồi có người lại nhận là hậu duệ của nhân vật này.

Đến đây, tôi đã làm tròn trách nhiệm đối với lời dặn của cố GS Trần Huy Liệu, kèm thêm một số đề xuất để xử lý câu chuyện Lê Văn Tám. Tôi hoàn toàn không coi đấy là việc làm trái với phẩm chất trung thực hay lương tâm của nhà sử học, cũng không ảnh hưởng đến uy tín của GS Trần Huy Liệu và càng không làm đổ một biểu tượng hay tượng đài yêu nước. Tôi nhấn mạnh, theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực.

 * GS Phan Huy Lê (Bài đăng trên Tạp chí Xưa&Nay số ra tháng 10 năm 2009)

(Theo KH& ĐS)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.