mùa ôn dịch nghe “rùa nói chuyện”(qui tộc tâm sự)-Phạm Đình Lân F.A.B.I

Phạm Đình Lân

QUI TỘC TÂM SỰ


          Ban nhạc Mexican Turtles chọn bài “Thỏ Với Rùa Ai Thắng Ai Thua?” do trưởng lão Quốc Gia Âm Nhạc Viện Thiền Tộc sáng tác. Bản nhạc gây mâu thuẩn giữa Thố tộc và Qui tộc không ít. Những đại biểu các tộc động vật hiện diện rất thích thú. Tất cả đều tán đồng rằng bản nhạc nào do Thiền tộc sáng tác đều có giá trị đặc biệt của nó.

Thấy hội trường vui nhộn, một nhạc sĩ Qui tộc điều khiển ban nhạc trình diễn bản “Chậm Như Rùa”. Bản nhạc đã dài, âm điệu lại chậm khiến cho người nghe buồn ngủ. Các đại biểu ngủ rất say đến đỗi tiếng ngáy ngủ của họ lấn át âm điệu của bài “Chậm Như Rùa”. Không một ai hay biết khi bản nhạc chấm dứt. Cả hội trường đắm chìm trong giấc ngủ ngày chỉ vì một bản nhạc. Ɖể đánh thức các đại biểu động vật tỉnh dậy, ban nhạc Mexican Turtles đánh bản “Rùa Thần Thịnh Nộ”. Cùng lúc ấy đại biểu của Qui tộc từ đảo Galapagos cũng vừa đến. Ɖó là một lão rùa dài 1,87m, cân nặng 400kg. Lão hiên ngang tiến vào hội trường không buồn chào hỏi Chủ Tịch Ɖoàn gồm Sư Tử, Cọp, Beo, Gấu và Chó Sói. Bản “Rùa Thần Thịnh Nộ” vừa dứt thì ban tổ chức giới thiệu đại diện Qui tộc vừa từ đảo Galapagos đến. Cả hội trường vỗ tay hoan nghinh vị đại diện Qui Tộc có đầy đủ phong thái của Rùa Thần từ vóc dáng đến tuổi tác.

***

         Trân trọng kính chào toàn thể đại biểu các động vật trên mặt đất, dưới lòng đất, trên không trung và dưới nước.

Tôi là đại diện cho các tộc Rùa trên thế giới. Quê tôi là quần đảo Las Islas Galapagos. Ɖó là quần đảo núi lửa ngoài khơi Thái Bình Dương thuộc xứ Ecuador. Người Tây Ban Nha khám phá ra quần đảo này và thấy có nhiều Rùa nên đặt tên là Galapagos, có nghĩa là quần đảo Rùa. Galapagos cũng có nghĩa là yên ngựa.

Qui tộc chúng tôi là loài bò sát sống trên mặt đất lẫn dưới nước, nghĩa là bò trên mặt đất và bơi lội dưới nước như xe tăng và tàu lặn vậy. Nước gồm nước ngọt, nước lợ và nước mặn tức nước biển. Qui tộc thuộc gia đình Testudinidae. Tên gọi dòng tộc chúng tôi thay đổi tùy theo dân tộc.

Quốc giaTên gọi
Việt NamRùa, Qui (Hán-Việt)
AnhTortoise, Turtle, Terrapin
PhápTortue
Tây Ban NhaTortuga
Trung HoaGui (âm thanh “Qui” của Việt Nam)
Nhật BảnKame


Người Anh phân biệt Tortoise, Turtle và Terrapin như sau:

– Tortoise là Rùa Ɖất, tức sống trên mặt đất từ vùng khô hạn như sa mạc đến vùng sông, hồ, đầm lầy ẩm ướt.

– Turtle là Rùa Biển (nước mặn). Rùa sống dưới nước mặn. Chỉ có các chị Rùa khi mang thai mới vào đất liền đào ổ để đẻ trứng trên bãi cát.

– Terrapin là các anh chị Rùa có mai (lưng Rùa) hình thoi, sống nửa đất, nửa nước ở vùng nước lợ.

TortoiseTurtleTerrapin

Qui tộc chúng tôi có mặt khắp thế giới từ Bắc Bán Cầu đến Nam Bán Cầu, từ vùng sa mạc đến vùng đầm lầy và biển cả. Chúng tôi bị liệt vào loại bò sát, có lưng cứng (mai) với nhiều lằn gạch ngang dọc. Căn cứ vào các vòng tròn đồng tâm trên lưng Qui tộc mà người ta đoán được tuổi của chúng tôi cũng như cách đoán tuổi của một cây lớn qua các lớp mộc đồng tâm. Ɖại cương, Qui tộc chúng tôi có các đặc điểm dưới đây:

1- Chúng tôi có mai rất cứng bọc thân. Bốn chân có vảy và móng vuốt bén nhọn. Hai chân trước nhỏ. Hai chân sau to và mạnh. Mai là lưng, yếm là bụng của chúng tôi. Cả hai là áo giáp của chúng tôi. Màu của mai Rùa là màu áo vậy. Màu áo ấy gồm màu đen, hung đỏ, hung đỏ-vàng, màu xám tro, màu xanh dương v.v.

2- Chúng tôi sống nửa đất, nửa nước.

3- Chúng tôi bò chậm chạp nên có câu: “Chậm như Rùa”. Nhưng Rùa Biển lội dưới nước rất nhanh.

4- Rùa nổi tiếng về tuổi thọ. Tuổi thọ trung bình của Qui tộc kéo dài từ 80 – 150 tuổi. Cụ Rùa Adwaita trong sở thú Alipore ở Ấn Ɖộ sinh năm 1750 và mất năm 2006, thọ 256 năm. Có lẽ đó là cụ Rùa thọ nhất trong gia phả Qui tộc.

5- Qui tộc chúng tôi có máu lạnh, đẻ trứng ấp trong cát. Trứng Rùa tròn tựa trái banh bóng bàn. Trứng lớn hay nhỏ tùy vào vóc dáng của các bà mẹ Rùa. Mẹ Rùa to lớn sinh trứng to nhưng không nhiều.

6- Rùa Ɖất ăn thảo mộc như rong, lá cây, hoa, trái cây. Rùa Biển ăn thảo mộc và các động vật nhỏ dưới biển. Các anh chị Rùa Biển được xem là đông vật ăn tạp.

7- Về giống, người ta phân biệt các anh Rùa với các chị Rùa qua:

     a. Hình vóc: các anh Rùa có mai và cổ dài hơn các chị Rùa.

     b. Ɖuôi các chị Rùa ngắn và quặp xuống. Ɖuôi các anh Rùa dài và dỉnh lên.

8- Rùa Ɖất hay Rùa Biển đều không có răng.

9- Óc của Rùa rất nhỏ. Rùa bị chặt đầu có thể sống thêm một hay hai ngày!

10- Kẻ thù của Rùa là Chó Sói đồng cỏ, con lửng, chồn, kên kên v.v.. Bọn này ăn bào thai Qui tộc khi lấp dưới cát. Mấy thằng Chuột thường nhai sống các Qui tử vì mềm mại và giòn.

11- Rùa thường sống xa lánh các loài động vật khác.

12- Qui tộc có thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác tốt. Ɖiều đặc biệt là Rùa không có lỗ mũi (nostrils) nhưng khứu giác bén nhạy nhờ dưới cằm có râu với dây thần kinh giúp cho Rùa biết được mùi hương. Thính giác của Qui tộc rất kém.

13- Cuộc đời tình ái của Qui tộc tương đối đến chậm hơn các động vật khác. Rùa bắt cặp khi lên 10 tuổi hay 20 tuổi. Xã hội Qui tộc là xã hội đa thê. Một anh Rùa có thể ái ân với nhiều chị Rùa khác nhau. Sau khi ái ân, các chị sinh trứng và tồn giữ tinh trùng của anh Rùa cha để có thể sinh trứng, nở con mà không cần sự hiện diện và sự ái ân của anh Rùa. Thời gian tồn trữ tinh trùng có thể kéo dài đến 4 năm. Mỗi chị Rùa sinh từ 6 đến 10 trứng (tùy chi tộc). Trước khi sinh, các chị dùng chân đào lỗ khá rộng dưới đất để sinh trứng. Sinh xong, các chị dùng đất hay cát phủ lấp trứng. Nhờ nhiệt của mặt trời, trứng nở sau 100 – 120 ngày. Tình phụ tử hay mẫu tử của Qui tộc khá lạnh nhạt. Rùa con mới chào đời bò thẳng ra biển hay ra một dòng nước nào gần đó. Cha mẹ chúng không hề chăm sóc chúng.

Demochelys coriaceaChelonoidis nigraTestudo gigantea

Có 350 chi tộc Rùa khác nhau sống rải rác khắp nơi trên thế giới, kể cả vùng Bắc cực nhưng Qui tộc vắng bóng ở Nam Băng Châu.

Rùa Biển to lớn và cân nặng là Rùa Luth (Việt Nam âm thành Rùa ‘Luýt’) (Luth là cây đàn – tiếng Pháp). Người Anh gọi Leatherback turtle (vì lưng như có tấm da thuộc). Người Pháp gọi là Tortue en cuir hay Tortue luth (Luth: Lute -tiếng Anh – là một loại đàn giống như đàn mandoline. Cổ cây đàn Luth như bị gãy cong). Tên khoa học của Rùa Luth hay Rùa Lưng Da Thuộc là Demochelys coriacea thuộc gia đình Demochelyidae. Ɖặc điểm của các anh chị Rùa Luth là có điểm hồng trên đầu. Rùa Luth nặng nhất thế giới là anh Rùa vướng lưới trên bãi biển Harlech, tây bắc Wales, Anh Quốc, năm 1988. Anh Rùa này đã chết. Xác được trưng bày trong Bảo Tàng Viện Quốc Gia ở Cardiff. Anh Rùa này nặng 914 kg. Mai dài 3m. Các nhà động vật học lưu ý Rùa Biển vùng biển Welsh đều là nữ phái. Rùa Harlech thuộc nam phái. Do đó người ta đặt giả thuyết rằng Rùa Harlech từ biển Caribbean đến và bị mắc lưới ở đó.

Rùa Ɖất khổng lồ trên đảo Galapagos mà chúng tôi sống mang tên khoa học Chelonoidis nigra thuộc gia đình Testudinidae. Các nhà động vật học của loài người thường đề cập đến Qui tộc khổng lồ trên đảo Galapagos với Qui tộc khổng lồ trên đảo san hô Aldabra ở Seychelles trong Ấn Ɖộ Dương mang tên khoa học Aldabrachelys gigantea hay Testudo gigantea, có mai màu hung đỏ, chân có vảy cứng, dài trung bình 1,22m, cân nặng lối 250kg. Các anh Rùa Ɖất này to lớn hơn các chị. Rùa Ɖất to lớn nhất là Rùa Goliath, dài 1,35m, cao 68cm, cân nặng 417kg. Cụ Rùa này chết ở Florida năm 2002. Ɖược tin cụ Rùa Goliath qui Tiên, trên đảo Galapagos Qui tộc chúng tôi tổ chức lễ cầu hồn long trọng chúc mừng ngày cụ về gặp tổ tiên nhà họ Qui. Năm 2006 Qui tộc khổng lồ mất đi đại lão Adwaita ở Ấn Ɖộ. Ɖại lão Rùa Ɖất này sống 256 tuổi (1750 – 2006), gốc gia đình Qui tộc khổng lồ Albalbra Atoll, Seychelle, Ấn Ɖộ Dương. Cách đây hai thế kỷ số Rùa Ɖất ước lượng từ 200.000 đến 250.000. Ngày nay chỉ còn lối 10% của tổng số ghi trên. 

Rùa đốmRùa sa mạcRùa nước lợ

Rùa Ɖốm (Speckled tortoise) là Rùa Tí Hon mang tên khoa học Chersobius signata hay Testudo signata thuộc gia đình Testudinidae. Các anh chị Rùa Tí Hon này có mai màu hung đỏ-vàng. Mai trung bình xê dịch từ 6cm – 8cm. Trên mai có nhiều đốm nên mới gọi là Rùa Ɖốm. Trọng lượng của Rùa Ɖốm xê dịch từ 100gr – 170gr. Có Rùa Tí Hon có chân 5 ngón. Cũng có chi tộc chỉ có 4 ngón chân. Các anh chị Rùa Ɖốm tí hon sống đông đảo ở Cape, Nam Phi.

Rùa Sa Mạc (Desert tortoise) mang tên khoa học phong phú: Gopherus flavomarginatus, Xerobates agassizi, Testudo agassizi và nhiều tên khoa học khác nữa. Rùa Sa Mạc thuộc gia đình Testudinidae. Mai Rùa Sa Mạc xê dịch từ 25cm – 36cm. Ɖuôi của các anh Rùa Sa Mạc dài hơn đuôi của các chị thuộc chi tộc ấy. Hai chân trước của chi tộc Rùa này có vảy và móng vuốt bén nhọn. Hai chân sau ốm và dài. Rùa Sa Mạc chậm lớn. Trong 16 năm mai Rùa không dài quá 20cm! Tuổi ái ân của chi tộc Rùa này khá cao: từ 15 đến 20 tuổi. Tuổi thọ trung bình của các anh chị này kéo dài từ 50 đến 80 tuổi. Tất cả đều ăn cỏ để sống.

Rùa Nước Lợ lưng hình thoi (Diamondback terrapin) mang tên khoa học Malaclemys terrapin thuộc gia đình Emydidae. Mai của các anh chị ấy óng ánh nhiều màu xám, hung đỏ, vàng, trắng như kim cương. Rùa Nước Lợ lội rất giỏi. Các anh chị ấy có nhiều đặc điểm của Rùa Biển hơn là Rùa Ɖất: lội giỏi và ăn tạp. Thức ăn của các anh chị Rùa Nước Lợ là cá, tôm, sò, ốc dưới nước lợ hay nước biển. Về địa bàn sống của các anh chị Rùa Nước Lợ là trung gian giữa Rùa Ɖất và Rùa Biển. Mai của các chị Rùa Nước Lợ dài hơn mai các anh thuộc chi tộc ấy. Trọng lượng của các chị cũng nặng hơn.

GiốngChiều dài trung bình của maiTrọng lượng trung bình
Nam13cm300gr
Nữ19cm500gr


Tuổi ái ân của chi tộc Rùa Nước Lợ căn cứ vào tuổi và chiều dài của mai như sau:

GiốngTuổiChiều dài của mai
Nam2 – 3 tuổi11cm
Nữ5 – 7 tuổi17cm


Vùng nước lợ là vùng rừng sát, giao điểm giữa các hà khẩu với biển. Ở Hoa Kỳ Rùa Nước Lợ sống nhiều ở Florida và Cape Cod, Massachusetts.

Rùa Hồ Hoàn Kiếm mang tên khoa học Rafetus vietnamensis thuộc gia đình Trionychidae. Các nhà động vật học Việt Nam đặt tên khoa học cho Rùa Hồ Hoàn Kiếm là Rafetus leloii để tưởng nhớ đến sự tích Rùa đớp gươm thần của vua Lê Thái Tổ vào thế kỷ XV. Chuyện kể như chuyện cổ tích có địa điểm nhưng sự kiện ra sao chưa rõ vì không có ngày, tháng, năm rõ ràng. Nếu chuyện này có thật thì cây kiếm thần vẫn còn nằm dưới đáy hồ. Hồ Hoàn Kiếm rộng 12 mẫu tây (ha: 10.000m2), chu vi: 1.750m, chiều sâu trung bình: 1,2m. Như vậy việc tìm kiếm cây kiếm thần không khó khăn gì, vẫn biết rằng sau 6 thế kỷ cây kiếm bị rỉ sét rất nhiều nhưng không thể hòa tan trong nước ngọt. Các nhà động vật học quốc tế không chấp nhận chữ leloii trong tên khoa học và cho rằng Rùa Hồ Hoàn Kiếm là giống Rùa Ɖất nước ngọt ở sông Yang tze (Dương Tử). Chi tộc Rùa này mang tên khoa học Rafetus swinhoei, hiện nay rất hiếm. Chi tộc Rùa Ɖất nước ngọt này có mai dài trung bình 70cm – 100cm và cân nặng trung bình từ 70kg đến 100kg. Trong chi tộc này các anh Rùa nhỏ hơn các chị về chiều dài và trọng lượng nhưng đuôi của các anh Rùa dài hơn đuôi của các chị Rùa dòng Rafetus.

Năm 1967 người ta phát hiện một lão Rùa cân nặng 250kg chết trong Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Nhiều người nghĩ rằng đó là lão Rùa đớp kiếm của vua Lê Thái Tổ. Trong hai thập niên qua người ta lại thấy một lão Rùa trong Hồ Hoàn Kiếm. Người ta lại liên tưởng đến lão Rùa đớp kiếm vào thế kỷ XV nên dân chúng cứ gọi là Cụ Rùa một cách kính cẩn. Năm 2011 cụ Rùa Hồ Hoàn Kiếm bị bịnh ngoài da trầm trọng do môi trường sống bị ô nhiễm và sự dinh dưỡng lại thiếu thốn. Người ta tìm cách đưa Cụ Rùa vào bịnh viện Thú Y để chữa trị, đồng thời nạo vét và hốt rác dưới hồ, nhưng Cụ Rùa chỉ sống đến năm 2016 thì mất. Cụ Rùa Hồ Hoàn Kiếm này dài 1,90m và cân nặng 200kg. Ngoài ra tôi, Rùa Ɖất Galapagos, không có đầy đủ chi tiết về tuổi tác và giới tính của vị lão Rùa qui tiên năm 2016 ở Hà Nội để xưng hô Cụ Ông Rùa hay Cụ Bà Rùa cho hợp lệ.

Ở Việt Nam người ta phân biệt:

– Rùa Hôi tức Rùa có mùi khó chịu.

– Rùa Nắp: Rùa có mai và yếm bao bọc nhau.

– Rùa Sen là Rùa có vảy ria quanh mai (tức lưng của Rùa).

– Rùa Quạ: Rùa có mai đen.

– Rùa Vàng: Rùa có mai vàng hay Rùa bảng vàng (Kim Qui)

– Rùa Linh: Rùa lấy mai làm quẻ để bói.

Bây giờ tôi xin trình bày sơ lược về các thân thuộc của Qui tộc. Ɖó là các gia tộc Ba Ba, Cua Ɖinh, Vích, Sam, Ɖồi Mồi.

Ba baCua đinhĐồi Mồi

Ba Ba mang tên khoa học Pelodiscus sinensis thuộc gia đình Trionychidae. Người Anh gọi Ba Ba là Chinese softshell turtle; Pháp gọi là tortue chinoise à carapace molle vì mai mỏng và không có vảy. Chính mai của các anh chị Ba Ba được dùng nấu cao qui bản

Theo sự khảo cứu của các nhà động vật học, Ba Ba có nhiều ở Trung Quốc từ nội địa đến biển. Ba Ba được tìm thấy khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Brazil, Tây Ban Nha, Hawaii, Nhật Bản v.v.. Ba Ba là Rùa Nước Ngọt, Nước Lợ và Nước Mặn (Biển). Các anh chị Ba Ba ăn cá, sò, ốc, rong hay thủy thảo khác như các anh chị Rùa Biển. Trong chi tộc Ba Ba các chị to lớn hơn các anh. Mai của các chị dài trung bình 33cm đối lại 27cm chiều dài mai của các anh Ba Ba. Nhưng đuôi của các anh Ba Ba dài hơn đuôi của các chị cùng tộc, cùng dòng. Mắt của các anh chị Ba Ba có đốm và có những đường đen mỏng chiếu sáng. Mai màu ô-liu, hai chân sau màu vàng-đỏ.

Cua Ɖinh mang tên khoa học Amyda cartilaginea thuộc gia đình Trionychidae. Nguời Anh gọi Cua Ɖinh là Asiatic softshell turtle vì Cua Ɖinh tập trung ở Á Châu và có mai mềm không vảy. Chữ cartilaginea trong tên khoa học gợi cho chúng ta về chất sụn. Cua Ɖinh được tìm thấy nhiều ở Á Châu, nhất là vùng Ɖông Nam Á bao bọc bởi Ấn Ɖộ Dương và Thái Bình Dương. Người Indonesia, Mã Lai, cư dân ở phía bắc đảo Borneo, vùng Sarawak xem Cua Ɖinh là thức ăn ưa thích của họ. Cua Ɖinh được xem là một thân thuộc của Qui tộc thích sống trong vùng nước ngọt. Chiều dài trung bình của Cua Ɖinh lốì 70cm – 80cm. Trọng lượng trung bình lối 15kg – 25kg. Cua Ɖinh nặng cân nhất lối 105kg. Cua Ɖinh ăn thảo mộc và côn trùng, sò, ốc, cua, trùn, xác thú chết. Mỗi chị sinh từ 10 – 30 trứng.

Ɖồi Mồi mang tên khoa học Eretemochelys imbricata thuộc gia đình Cheloniidae. Ɖồi Mồi sống ở Ɖại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Ɖộ Dương. Người Anh gọi là Hawksbill Sea Turtle. Mai, đầu và chân của các anh chị Ɖồi Mồi đều có đốm rất đẹp. Các anh chị Ɖồi Mồi thường sống ở những đầm, phá nước mặn hay các rạn san hô. Ɖồi Mồi có mai trung bình 1m và cân nặng 80kg. Tuổi trưởng thành của các anh chị Ɖồi Mồi là 20 tuổi trở lên. Tuổi thọ trung bình là 50.

Ɖồi Mồi ăn tạp. Nhưng thức ăn chính yếu là bọt biển (sponge). Thông thường trong bọt biển có độc chất nên người ta tin thịt các anh chị Ɖồi Mồi rất độc! Mỗi chị Ɖồi Mồi có thể sinh trên 100 trứng cho mỗi lứa con. Mai Ɖồi Mồi dùng làm lược, hộp nữ trang, hộp đựng đồ trang sức đắt tiền.

víchsamđôi sam

Vích mang tên khoa học Lepidochelys olivacea thuộc gia đình Chelonidae. Người Việt Nam gọi Vích là Rùa Xanh vì màu xanh ô-liu (olivacea) của mai của các anh chị Vích. Vùng biển quanh đảo Côn Nôn là nơi sinh sống của anh chị Vích Việt Nam. Người Anh gọi là Olive Ridley Sea Turtle (Ridley: Rùa Biển nhỏ ở vùng biển nhiệt đới). Ɖịa bàn sống chính của anh chị Vích là vùng biển ấm Ɖại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Ɖộ Dương. Các chị Vích to lớn và nặng cân hơn các anh Vích.

Phái của VíchChiều dài trung bình của maiTrọng lượng trung bình
Nam60cm25kg
Nữ70cm30kg


Các anh chị Vích đều ăn tạp. Tuổi thọ lối 50. Các chị sinh trên 100 trứng cho mỗi kỳ hộ sản.

Sam mang tên khoa học Tachypleus tridentatus thuộc gia đình Limulidae. Không biết vì sao người Anh xem họ giống Cua và gọi là Chinese Horseshoe Crab. Chi tộc này sống nhiều dọc theo duyên hải Trung Hoa, Taiwan, Nhật Bản, Triều Tiên, Phi Luật Tân, Mã Lai, Việt Nam. Chi tộc Sam có vài đặc điểm sau đây:

— Có đuôi dài, cứng và có ba cạnh.

— Chi tộc Sam sống vùng nước mặn (biển) và nước lợ (rừng sát, hà khẩu các sông).

— Rìa mai phần gần dưới có 6 gai mỗi bên.

— Các chị Sam to lớn và nặng cân hơn các anh. Mai của nữ Sam dài trung bình 66,5cm, mai của nam Sam dài 54cm. Trọng lượng trung bình của nữ Sam: 1,5kg – 4kg, nam Sam: 0,5kg – 1,7kg.

— Tuổi thọ: 50 tuổi. Ɖược xem là trưởng thành khi mai của Sam dài 28cm.

— Ɖẻ trứng và ăn tạp (động vật nhỏ dưới nước và thực vật dưới nước).

— Anh chị Sam luôn luôn gắn bó với nhau theo chế độ độc thê. Khi di chuyển, cả hai chồng lên nhau và bơi dưới nước.

***

          Ngày xưa người Ɖông Phương rất trọng Qui tộc chúng tôi. Họ liệt chúng tôi là một trong Tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phượng. Họ xem Qui tộc là biểu tượng của sự trường thọ. Mồ mã vua chúa nhà Lê ở Thanh Hóa đều có hình Qui tộc như là ước vọng sự trường tồn, vĩnh cửu của vương triều. Những người hành Thiền tập thở nhẹ như Rùa để được trường thọ như Qui tộc chúng tôi.

Những lằn ngang dọc trên mai Rùa tạo cảm hứng để có sự ra đời của Kinh Dịch. Các thầy bói toán Trung Hoa thường đặt mai Rùa trước cửa tiệm như một sự bảo đảm khả năng bói toán của thầy bói mù nhưng thấy rõ chuyện vũ trụ mà người mắt sáng không thấy! Tứ Linh phát xuất từ Lão Giáo (Taoism). Ở Nhật cũng có Tứ Linh và Rùa là một trong Tứ Linh. Rùa Ɖen (Hắc Qui) mới thực sự là Rùa trong Tứ Linh. Người Trung Hoa gọi là Xuan Wu. Việt Nam gọi là Huyền Vũ, âm từ Hoa ngữ Xuan Wu. Người Nhật gọi là Genbu (Gen: đen, Bu: chiến binh). Genbu được xem như Thần bảo vệ Kyoto (Tây Kinh), nơi Thiên Hoàng ngự trước năm 1867. Genbu tượng trưng:

HướngMùaHành tinhMàu sắc
BắcƉôngThủy Tinh (Mercury)Ɖen


Genbu được xem như Thần Chiến Tranh.

Trong Ấn Giáo đại lão Rùa Akupara dùng mai của mình vác Trái Ɖất và nâng nước biển và Ɖịa Cầu lên. Ɖại lão Rùa Kuma là hóa thân của Thần Vishnu.

Ɖối với người Hy Lạp và La Mã, Qui tộc tượng trưng cho sự sinh sôi, nẩy nở, sự phì nhiêu. Theo huyền thoại Hy Lạp thì nữ thần Chelone trên núi Khelydorea (Núi Rùa) tự cao, không dự lễ cưới của Thần Zeus và Hera nên bị Thần Hermes biến thành một chị Rùa Chelone, Thần Rùa, suốt đời canh giữ căn nhà của mình (cái mai được ví như căn nhà).

Qui tộc được đề cập trong Thánh Kinh Do Thái như loài bò sát, không ăn được trong Leviticus 11:29, 30 và 42,43; 12:8; 15:29; Numbers 6:10; Song of Solomon 2:12; Jeremiah 8:7.

Chuyện Rùa, Rắn ở Việt Nam có rất phong phú. Nào là Thần Kim Qui giúp cho vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa hình trôn ốc và cho nhà vua một cái lẫy nỏ để lo việc quốc phòng. Vua An Dương Vương thiếu cảnh giác khi cho con gái là Mỵ Châu biết nơi cất giấu cái nỏ thần và chứa chấp Trọng Thủy, con của Triệu Ɖà, kẻ thù từng xâm lược Âu Lạc thất bại, trong nhà với tư cách là một chàng rể ngoại chủng. Hậu quả của sự thiếu cảnh giác chánh trị của nhà vua là nỏ thần bị Trọng Thủy lén cắp đem về cho Triệu Ɖà. Triệu Ɖà cất binh xâm chiếm nước Âu Lạc. Trên đường thoát chạy vua An Dương Vương khẩn cầu Thần Kim Qui để vấn kế bảo quốc. Thần Kim Qui xuất hiện và nói vỏn vẹn vài tiếng tóm lược tình thế bi đát như sau: “Kẻ thù ngồi sau lưng ngài.” Chuyện bi thảm dẫn đến hậu quả bi thảm là nước Việt bị Bắc thuộc từ năm 207 trước Tây Lịch đến năm 938, tổng cộng 1145 năm. Cộng đồng Qui tộc hoàn vũ rất kính trọng và nể phục Ɖại Lão Thần Kim Qui. Hèn gì mấy thằng cha Việt Nam gọi các cố vấn là Thầy Rùa và gọi thầy bói mù là thầy sờ mai Rùa.

Người Việt Nam thường nhắc đến Cụ Rùa và cho “Cụ” một lịch sử đớp kiếm từ thế kỷ XV đến khi mất vào thế kỷ XXI. Không thấy các sách động vật học nói về tuổi thọ 6 thế kỷ này.

Ở Thăng Long, sau chùa Diên Hựu tức chùa Một Cột, có một khu đất thấp có nhiều anh chị Rùa ẩn nấp dưới các đám cỏ rậm rạp và lau sậy. Năm 1105, dưới thời vua Lý Nhân Tôn (vua: 1072 – 1127), chùa Một Cột được tu sửa. Năm 1109 có lịnh dùng 7,2 tấn đồng để đúc một cái chuông vĩ đại cho Chùa Một Cột. Chuông đúc xong, đánh không kêu, phải lăn ra bỏ ngoài đám đất có nhiều Rùa. Từ đó có tên Chuông Qui Ɖiền. Tôi không biết nhiều về Ɖại Việt. Qua việc vất bỏ 7,2 tấn đồng ngoài ruộng Rùa (Qui Ɖiền) cho thấy nước Ɖại Việt giàu lắm.

Qui tộc tạo cảm hứng cho các nghệ nhân ngày xưa vẽ hay tạc tượng. Ở Ấn Ɖộ người ta lưu ý đến bức tượng bốn anh Voi to lớn đứng trên mai Rùa. Ở Việt Nam có nhiều tượng đồng hay đất sét nung hình Rùa và Hạc. Bàn ghế bằng gỗ quí được chạm trổ hình Long, Lân, Qui, Phượng.

Ngôn ngữ và ca dao Việt Nam nói về Qui tộc chúng tôi qua những câu:

Bạn vàng lại gặp bạn vàng,
Long, Lân, Qui, Phượng một đoàn Tứ Linh.

Thương thay thân phận con Rùa,
Trên dinh cỡi Hạc, dưới chùa đội bia.

Sá chi thân phận con Qui,
Ngày thì bùn lấm, đêm thì gió sương.

Chiều chiều én liệng trên Trời,
Rùa bò dưới nước, Khỉ ngồi trên cây.

Tóc quăn chải lược Ɖồi Mồi,
Chải đứng, chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn.


Qui linh, Hạc toàn: Tuổi Rùa, tóc Hạc, hai biểu tượng sự trường thọ.

Chậm như Rùa bò: Rùa bò khoảng 700m/giờ.

Cao Qui bản: cao nấu từ mai và yếm rùa (đúng ra là yếm của các anh chị Ba Ba Pelodiscus sinensis).

Qui bối: mai (mu) Rùa tức lưng của Qui tộc. Vì Rùa có tuổi thọ cao nên các thầy tướng số thấy người nào có lưng gù như mai Rùa thì cho rằng người ấy sống thọ.

Qui giáp: qui bối (vì mai rùa rất cứng chắc).

Qui Hạc: Rùa và Hạc biểu tượng của sự trường thọ.

Qui hung: tật của người có xương ức ở vùng ngực nhô lên.

Qui đầu: phần đầu của dương vật. Loài người vừa giàu tưởng tượng vừa không ngừng nhắc đến chuyện tình dục khi xem đầu Rùa là đầu dương vật và xem mai Rùa như bộ phận sinh dục của nữ phái. Thế là đầu và lưng của Qui tộc hội đủ hai bộ phận sinh dục Nam, Nữ của loài người.

Co đầu rút cổ: Chỉ sự sợ sệt của người nhút nhát, chịu thua giống như các anh Rùa nghểnh cổ khi đấu tranh. Khi thua thì rút đầu, rút cổ vào mai. Ɖó là dấu hiệu chịu thua, đầu hàng và rút lui.

Bánh qui: là một loại bánh ngọt có hình mai Rùa.

Ɖeo như Sam: ám chỉ người nào đeo đuổi một đối tượng khác phái nào đó không rời gang tấc, tựa như các anh chị Sam không bao giờ rời nhau vậy. Tên của vua Lý Huệ Tôn là Sam. Ông say mê sắc đẹp của con gái Trần Lý là Trần Thị Dung. Tên của vua gắn liền với đặc tính của các anh Sam: không bao giờ rời các chị! Sam hiếu sắc nên cơ đồ nhà Lý rơi vào tay nhà Trần theo sự sắp xếp và an bài của Trần Thủ Ɖộ.

Tóc đuôi Sam: Khi nhà Mãn Thanh đô hộ Trung Hoa, họ bắt người Trung Hoa phải cạo một phần đầu và vấn tóc đuôi Sam sau ót.

Da Ɖồi Mồi: bịnh Vitiligo – toàn thân nổi lên những điểm trắng hay trắng-hồng như da Ɖồi Mồi. Tóc, mắt, mũi, miệng, tứ chi lốm đốm đổi màu.

Người ta cho rằng những người có tóc đuôi Rùa trên ót là những người có đông anh em.

Chuyện ngụ ngôn “Con Thỏ và Con Rùa” của nhà ngụ ngôn Aesop Hy Lạp (620 tr. T.L – 564 tr. T.L.) và “Le Lièvre et la Tortue” của nhà ngụ ngôn Pháp La Fontaine (1621 – 1695) được phổ biến sâu rộng khắp thế giới. Thỏ chạy thua Rùa vì kiêu căng, ỷ lại vào tài chạy nhanh của mình. Rùa nổi tiếng chạy chậm nhưng nhẫn nại, kiên tâm trì chí nên đã đạt thắng lợi trong cuộc đua.

Ở Hà Nội có Tháp Rùa.

Giáo sư Vũ Khắc Khoan có viết quyển “Thần Tháp Rùa”.

Thành Gia Ɖịnh được xây năm 1790 gọi là Qui Thành. Thành bị triệt hủy sau khi cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi thất bại năm 1835. Thành mới lấy tên là Phượng Thành.

Thời Ɖệ Nhị Cộng Hòa (1967 – 1975) ở Sài Gòn có hồ Con Rùa (Công Viên Duy Tân) gần đại học Luật Khoa.

Trong 12 con giáp không có Qui tộc nhưng trong đề 40 con, Rùa mang số 27, sau Rồng Bay (số 26) và trước Kê tộc (số 28).

Trong thực vật có:

– Hoa đầu Rùa (Turtlehead): Tên khoa học: Chelone lyonii

– Cỏ Rùa (Turtle grass) tức Sài Ɖất Giả. Tên khoa học: Lippia nodiflora

– Qui Thục Quả (tortoiseberry – vì Rùa thích ăn trái này) Tên khoa học: Nilandtia spinosa.

Ở Trung Hoa Qui tộc được tượng trưng bằng sao Xuan Wu (Huyền Vũ) tức Hắc Qui.

Chòm sao Gamma Lyrae còn được gọi là Sulafat. Theo tiếng Á Rập Sulafat có nghĩa là Rùa. Lyr là thất huyền cầm (đàn 7 dây). Theo huyền thoại Hy Lap Thần Hermes, con của thần Zeus và Pleiad Maia, biến nữ Thần Chelone thành một chị Rùa vì kiêu ngạo không dự lễ cưới của Thần Zeus. Hermes dùng mai Rùa để làm ra cây đàn Lyr (Thất huyền cầm). Do đó có chòm sao Gamma Lyrae tức sao Sulafat (Qui Tinh).

***

Loài người có kính trọng Qui tộc chúng tôi. Ngôn từ họ về Qui tộc không đến nỗi khinh khi, mắng nhiếc chúng tôi mặc dù óc chúng tôi rất nhỏ.

Nhưng thưa quý vị, loài người luôn luôn có hai mặt. Cái được thốt ra thành lời là cái giả hay không bao giờ có. Cái không nói mới là thật! Họ nói Rùa là một trong Tứ Linh, là biểu tượng cho sự trường thọ. Nhưng họ âm thầm đi ruồng bắt Qui tộc chúng tôi. Trứng thì luộc ăn, thịt Rùa thì nấu cháo Rùa, làm gỏi Rùa, nấu cà ri. Các tỉnh trên châu thổ sông Cửu Long, nhất là Cần Thơ, nổi tiếng về Rùa và cà ri Rùa. Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, Phi Luật Tân, Indonesia, Mã Lai… đều ăn thịt Rùa. Người ta cho rằng Rùa sống dưới nước nên thịt Rùa mát hay hàn.

Các thầy thuốc Trung Hoa còn dùng mai (carapace) và yếm (plastron) Rùa để làm thuốc, nấu cao (cao qui bản). Mai Rùa có nhiều Keratin, Ca, Zinc, collagen hơn yếm Rùa. Các thầy thuốc Ɖông Y quá tin tưởng vào hiệu năng của các động vật có sừng như Nai, Tê Giác, mai và yếm Rùa, Ba Ba, Cua Ɖinh, Ɖồi Mồi. Sừng thú, mai Rùa, yếm Rùa làm thuốc trị sốt, nhức đầu, chóng mặt, kinh phong, chân yếu, đổ mồ hôi đêm, tim hồi hộp, gan thận suy, đau thắt lưng, xuất huyết tử cung. Keratin của mai Rùa được dùng để trị chứng bất lực sinh lý. Kết quả ra sao chưa rõ. Chỉ biết Qui tộc bị ruồng bắt và bị giết hại rất nhiều đến phải báo động trên đà tuyệt chủng!

Trong hai thế kỷ qua dân số Qui tộc trên thế giới mất đi 90%. Nhiều chi tộc bị liệt vào tình trạng tuyệt chủng. Vì sao?

1- Vì sự săn đuổi, lùng bắt của loài người để lấy trứng, thịt, mai, yếm, móng vuốt và mỡ Qui tộc.

2- Ɖa số các Qui tử đều bị chim chóc, chó sói, chồn… ăn khi mới rời khỏi vỏ.

3- Nhiều bãi biển được làm đẹp để thu hút khách du lịch kiến các chị Rùa Biển không có chỗ làm ổ để đẻ và lấp trứng.

4- Nhiều rạn san hô bị phá vỡ, các anh chị Rùa Biển không có nơi an trú nghỉ ngơi.

5- Ở những nước có luật bảo vệ thủy sản, Rùa Biển được bảo vệ. Nhưng hàng năm ở vùng Vịnh Mexico có hàng ngàn anh chị Rùa Biển bị vướng lưới của các ngư phủ trong vùng. Vào cuối thập niên 1980 Hải Qui được bảo vệ bởi qui định TED (Turtle Excluder Devices) buộc ngư phủ phải trang bị lọc Rùa khi lưới cá, tôm. Rùa vào cái lọc Rùa và thoát ra ngoài.

6- Nhiều chi tộc Rùa bị bịnh chết vì sông ngòi, biển cả bị ô nhiễm bởi hóa chất phế thải từ các nhà máy kỹ nghệ hay rác rến. Vài thực vật dưới biển bị nhiễm độc.

7- Việc buôn bán Rùa lậu, kể cả Ba Ba, Cua Ɖinh, Ɖồi Mồi, Vích, Sam có lợi tức cao trên thế giới khích lệ ngư phủ lén đánh bắt Rùa để bán thịt cho các nhà hàng và bán mai, yếm, móng vuốt cho các nhà thuốc Ɖông Y.

Qui tộc kêu cứu vì hiện nay dân số Qui tộc sút giảm đáng ngại. Vài chi tộc bị xem như tuyệt chủng.

Loài người lập các trại nuôi Rùa bằng cách đào hồ nước ngọt hay nước mặn để nuôi Rùa Ɖất và Rùa Biển.

Ngay từ hậu bán thế kỷ XIX Nhật Bản đã đào hồ nuôi Rùa. Nhưng đến nay ngành này không phát triển ở Nhật.

Hoa Kỳ nuôi Rùa vào đầu thế kỷ XX ở Maryland, North Carolina, Louisiana, Oklahoma. Louisiana có trên 60 trại chăn nuôi Rùa, nuôi 10 triệu anh chị Rùa. Năm 2005 Hoa Kỳ xuất cảng 30 triệu anh chị Rùa. 47% trong số này xuất cảng sang Trung Quốc, 20% sang Taiwan (Ɖài Loan), 11% sang Mexico.

Trung Quốc là quốc gia chăn nuôi Rùa và tiêu thụ thịt Rùa, mai Rùa (làm thuốc) nhiều nhất thế giới.

Ở Âu Châu Macedonia là nơi có trại nuôi Rùa qui mô.

Việt Nam hiện nay cũng có nhiều trại nuôi Rùa ở Hải Dương và trên đồng bằng sông Cửu Long nhưng mức sản xuất chưa quan trọng.

Tôi xin chấm dứt bài tham luận ở đây với nhận xét của người Việt Nam về Ɖa thọ, đa nhục để thấy trường thọ không phải là nhân tố tuyệt đối tạo hạnh phúc. Người có lưng gù như mai Rùa để có tướng trường thọ không phải là người có tướng đẹp. Ɖó là sự tương đối của vạn vật trên hành tinh này.

Xin mời quý vị thường thức bản Kẻ Nội Thù, dựa vào lời của Thần Kim Qui nói với vua An Dương Vương: “Kẻ thù ngồi sau lưng bệ hạ đó”. Mời giàn nhạc Mexican Turtles bắt đầu.

Kính chào toàn thể quý vị.

Ɖại Diện Qui Tộc Thế Giới Chelonoidis nigra Galapagos.

.
Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.