ông cựu ĐVĐCS/VN Nguyễn Đình Cống phản biện bài báo của GS/TS xây dựng đảng Nguyễn Phú Trọng (Phần 2,3.4….)

Phản biện bài báo của GS Nguyễn Phú Trọng (Phần 2,3.4….)

Nguyễn Đình Cống

2-6-2021

Câu 3- Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được CNXH ở VN?

Đây là vấn đề mấu chốt. Bài báo cho rằng, để xây dựng CNXH ở VN cần thực hành kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền văn hóa XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN, phải trải qua thời kỳ quá độ và dưới sự lãnh đạo của ĐCS.

Về kinh tế thị trường định hướng XHCN

Thực chất là kinh tế thị trường có sự chỉ huy, điều tiết của nhà nước. Xin trình bày qua về nền kinh tế này.

Các nhà lý luận của Cộng sản VN khẳng định rằng, kinh tế thị trường định hướng XHCN là một sáng tạo đột phá của họ mà không nêu ra được ai là người đầu tiên phát hiện ra nó. Thật ra đó là sự nhận nhầm.

Kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước là học thuyết kinh tế của John Maynard Keynes, ngưới Anh (1883-1946), nhằm khắc phục các nhược điểm của thị trường tự do (Adam Smith) và thị trường do nhà nước điều hành theo kế hoạch (Karl Marx). Người ta cho rằng Smith, Marx và Keynes là ba nhà kinh tế lớn nhất của thế giới. Hiện nay mọi nền kinh tế đều chịu sự chỉ đạo của nhà nước, không nơi nào còn có thị trường hoàn toàn tự do. Trung Quốc đã theo học thuyết của Keynes trước VN, mở nền kinh tế thị trường với sự điều tiết của nhà nước cộng sản. Một người VN nào đó không phát hiện ra bản chất nền kinh tế mà chỉ nghĩ ra mấy chữ định hướng XHCN để gọi. Thế mà dám cho rằng đó là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, có nói quá không nhỉ?

Bây giờ xem sự chỉ huy của nhà nước cộng sản như thế nào

Kinh tế thị trường định hướng XHCN của VN, ngoài những điều thông thường như các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, sự cạnh tranh, quan hệ phân phối, hội nhập quốc tế, gắn kinh tế với xã hội v.v…thì có những điều được nhấn mạnh như: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; sự lãnh đạo của ĐCS, không vì tăng trưởng kinh tế mà “hy sinh” tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Hãy xét từng điều xem sao.

Kinh tế nhà nước giữ vai trò gì khi nhiều cơ sở làm ăn thua lỗ hàng trăm ngàn tỷ, là nơi phát sinh những vụ tham nhũng lớn, rất lớn, là nhiều công ty, nhà máy phải hóa giá để bán. Lãnh đạo Đảng biết rõ tình trạng, nhưng tại sao vẫn cứ phải ghi vào các nghị quyết rằng kinh tế nhà nước là chủ đạo. Tại vì Đảng vẫn kiên trì đường lối Mác Lê. Nếu kinh tế nhà nước không chủ đạo thì còn gì là Mác Lê nữa. Đây là một sự luồn lách về ngôn từ.

Sự lãnh đạo của Đảng về kinh tế rõ nhất là bắt nông dân vào các hợp tác xã nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp tư nhân, làm ra luật đất đai, tạo điều kiện cho nhiều vụ tham nhũng khắp các địa phương, tạo ra nhiều dân oan bị cướp đất. Một hệ quả của việc lãnh đạo của Đảng là sự kết hợp giữa các thế lực có quyền và có tiền, tạo ra các nhóm lợi ích để thao túng và phá nát nền kinh tế.

Bà Ba Sương là người con ưu tú của dân tộc, ông Trịnh Vĩnh Bình là kiều bào yêu nước, thế mà bà Sương, ông Bình bị lãnh đạo Đảng địa phương lừa đảo, cướp đoạt tài sản, phải chịu tù tội. Riêng chuyện ông Bình, chính phủ còn phải bỏ ra nhiều trăm triệu đô la nộp phạt để bao che việc cướp đoạt của quan chức đảng. Sân bay Tân Sơn Nhất rộng trên ba ngàn hecta, thế mà bị các lãnh đạo đảng ở Bộ Quốc phòng chiếm phần lớn để làm sân golf và chia lô đem cấp cho tướng tá làm nhà và bán, để rồi nhà nước phải đi vay nợ làm sân bay Long Thành. Phải chăng mấy việc vừa kể, trong hàng ngàn, hàng vạn việc tương tự có xuất xứ từ sự lãnh đạo của Đảng.

Về việc chạy theo tăng trưởng kinh tế. Trong khoảng trên chục năm sau 1986 mà đặt mục tiêu hàng đầu là tăng trưởng kinh tế để thoát khỏi cảnh kiệt quệ, đói kém là cần, là đúng. Nhưng rồi đến bây giờ, khi việc tăng trưởng nóng nền kinh tế gây ra rất nhiều tai họa về xuống cấp đạo đức, lãng phí tài nguyên, hủy hoại môi trường mà vẫn say sưa, đặt tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu lại là chệch hướng. Người ta nói nhiều về tăng trưởng bền vững, rằng không hy sinh môi trường, nhưng nói được mà không làm được. Tại sao vậy? Chỉ vì tham và ngu của nhiều người trong các nhóm lợi ích. Mà còn lâu mới thoát được sự thống trị của tham và ngu này.

Nhìn kỹ vào thực chất nền kinh tế của VN trong thời gian qua với sự thao túng của các nhóm lợi ích, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội chỉ ra rằng nó rất giống sự phát triển hoang dã vào thời kỳ đầu của chế độ tư bản. Không biết GS Trọng đã bao giờ biết đến ý này chưa.

Về văn hóa XHCN

Bài báo viết: “Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, …., dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Tạm chỉ xét vai trò của chủ nghĩa Mác – Lê trong phát triển văn hóa, nó có nhiều điều phản lại các giá trị tiến bộ, nhân văn.

Văn hóa, trước hết là về phẩm chất và hoạt động của con người trong tự nhiên và xã hội, mà sự thương yêu, lòng tôn trọng lẫn nhau, đức khiêm tốn, lòng bao dung và biết ơn được đặt lên hàng đầu.

Con người có phần vật chất và phần tâm linh. Hai phần đó được hình thành từ Tiên thiên (có trước khi sinh ra do di truyền) và từ Hậu thiên (do nuôi dưỡng, học tập, hoạt động). Thế mà Mác cho rằng “Con người là tổng hòa các mối quan hệ của xã hội”. Nhận thức đó đã bỏ qua phần rất quan trọng là Tiên thiên và thời gian đầu đời của con người đã tạo ra những tính cách cơ bản.

Vì cái nhìn lệch lạc đó về con người mà Mác và Lênin đi đến một số kết luận sai về kẻ thù giai cấp, đấu tranh và tiêu diệt giai cấp, chuyên chính vô sản, nhà nước của giai cấp, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân v.v… Những sai lầm đó tạo nên những nét văn hóa cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê, kích thích, đề cao lòng thù hận, khuyến khích đấu tranh bạo lực, tạo ra sự kiêu ngạo cộng sản.

Những nghiên cứu đáng tin cậy về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ ra rằng, văn hóa Mác – Lê góp phần không nhỏ trong sự sụp đổ đó, mà điều mấu chốt là người dân đã chán ngấy sự tuyên truyền đầy dối trá của hệ thống tuyên giáo.

Chủ nghĩa Mác-Lê dựa vào học thuyết duy vật, đề cao vai trò của vật chất. Những người theo Mác-Lê quá chạy theo quyền lợi vật chất. Họ quá tôn sùng đồng tiền, vơ vét tiền bạc bằng mọi thủ đoạn đê hèn, đến khi bị quả báo lại vội vàng chạy theo mê tín dị đoan. Những việc như vậy phá nát truyền thống văn hóa dân tộc.

Về Nhà nước pháp quyền XHCN

Đó là nhà nước pháp quyền do ĐCS lãnh đạo theo chủ nghĩa Mác-Lê.

Bài báo viết: “Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất … vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ….Pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân.

Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị”.

Viết ra như thế nhưng hãy đối chiếu vào thực tế xem có đúng như vậy không. Cái mô hình ba tầng Đảng, Chính quyền, Mặt trận chồng chéo, giẫm đạp lên nhau, kém hiệu quả, lãng phí lớn. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là một quan điểm tưởng rằng rất rõ ràng, nhưng thực tế chứa đựng sự mập mờ. Người ta nói nhiều về quyền làm chủ của dân, thực chất chính quyền là của Đảng, do Đảng đoạt được từ chính quyền cũ và không chịu trả lại cho dân. Nói nhiều về mục tiêu lợi ích, hạnh phúc của dân, thực tế mục tiêu chính của Đảng là thiết lập, duy trì, củng cố, mở rộng sự thống trị. Trong những mâu thuẫn giữa lời tuyên bố và việc làm của ĐCS thì những vấn đề về nhà nước, về dân chủ là rõ nhất.

Về thời kỳ quá độ

Ông Trọng viết “Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng.

Theo Bài báo thì: “Trong thời kỳ quá độ cần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hoá cho nhân dân, học tập và làm theo Hồ Chí Minh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại. chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Tác giả Bài báo quên mất hoặc cố tình che giấu điều kiện tiên quyết là giữ chắc được sự toàn trị của Đảng dựa trên hai lực lượng là Công an và Tuyên giáo. Dùng Công an để theo dõi, trấn áp, làm cho dân sợ. Dùng Tuyên giáo để tuyên truyền, nhồi sọ, tẩy não, làm cho dân, đặc biệt là tầng lớp được ưu đãi và tầng lớp bình dân chỉ biết nghe theo tuyên truyền một chiều, hạ thấp dân trí. Không có hai lực lượng này thì Đảng khó lòng kéo dài sự thống trị.

Về lý tưởng xây dựng CNXH, GS Trọng viết ra giấy như mọi người đã biết. Liệu trong sâu thẳm của tâm thức, ông có nghĩ như vậy không, hay là ông biết CNCS chỉ là ảo tưởng mà vì một lý do nào đó ông không dám nói thật lòng mình. Điều này chỉ có ông biết và các Bậc Bề Trên về tâm linh biết, còn người ngoài chỉ có thể đoán.

Bài báo đã nói đúng về tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nói thế nhưng làm có phần ngược lại là Nhà nước VN chủ yếu tham khảo và hội nhấp với Trung Cộng, với kẻ có nhiều dã tâm bành trướng. Hội nhập quốc tế kiểu gì khi các nước dân chủ tôn trọng Tam quyền phân lập còn ông Trọng kiên quyết chống lại.

Câu 4- Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên CNXH ở VN trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?

Đây chủ yếu là phần kể công, khoe khoang. Phải chăng ý nghĩa là sự tự hào về tài năng, sáng suốt của Đảng nói chung, của lãnh tụ và các cá nhân lãnh đạo. Sự khoe khoang là không nên. Phải chăng vấn đề đặt ra là tiếp tục công cuộc xây dựng CNXH.

Nhìn kỹ vào thực chất nền kinh tế của VN trong thời gian qua với sự thao túng của các nhóm lợi ích, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội chỉ ra rằng nó rất giống sự phát triển hoang dã vào thời kỳ đầu của chế độ tư bản. Không biết GS Trọng đã bao giờ biết đến ý này chưa.

Về văn hóa XHCN

Bài báo viết: “Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, …., dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Tạm chỉ xét vai trò của chủ nghĩa Mác – Lê trong phát triển văn hóa, nó có nhiều điều phản lại các giá trị tiến bộ, nhân văn.

Văn hóa, trước hết là về phẩm chất và hoạt động của con người trong tự nhiên và xã hội, mà sự thương yêu, lòng tôn trọng lẫn nhau, đức khiêm tốn, lòng bao dung và biết ơn được đặt lên hàng đầu.

Con người có phần vật chất và phần tâm linh. Hai phần đó được hình thành từ Tiên thiên (có trước khi sinh ra do di truyền) và từ Hậu thiên (do nuôi dưỡng, học tập, hoạt động). Thế mà Mác cho rằng “Con người là tổng hòa các mối quan hệ của xã hội”. Nhận thức đó đã bỏ qua phần rất quan trọng là Tiên thiên và thời gian đầu đời của con người đã tạo ra những tính cách cơ bản.

Vì cái nhìn lệch lạc đó về con người mà Mác và Lênin đi đến một số kết luận sai về kẻ thù giai cấp, đấu tranh và tiêu diệt giai cấp, chuyên chính vô sản, nhà nước của giai cấp, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân v.v… Những sai lầm đó tạo nên những nét văn hóa cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê, kích thích, đề cao lòng thù hận, khuyến khích đấu tranh bạo lực, tạo ra sự kiêu ngạo cộng sản.

Những nghiên cứu đáng tin cậy về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ ra rằng, văn hóa Mác – Lê góp phần không nhỏ trong sự sụp đổ đó, mà điều mấu chốt là người dân đã chán ngấy sự tuyên truyền đầy dối trá của hệ thống tuyên giáo.

Chủ nghĩa Mác-Lê dựa vào học thuyết duy vật, đề cao vai trò của vật chất. Những người theo Mác-Lê quá chạy theo quyền lợi vật chất. Họ quá tôn sùng đồng tiền, vơ vét tiền bạc bằng mọi thủ đoạn đê hèn, đến khi bị quả báo lại vội vàng chạy theo mê tín dị đoan. Những việc như vậy phá nát truyền thống văn hóa dân tộc.

Về Nhà nước pháp quyền XHCN

Đó là nhà nước pháp quyền do ĐCS lãnh đạo theo chủ nghĩa Mác-Lê.

Bài báo viết: “Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất … vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ….Pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân.

Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị”.

Viết ra như thế nhưng hãy đối chiếu vào thực tế xem có đúng như vậy không. Cái mô hình ba tầng Đảng, Chính quyền, Mặt trận chồng chéo, giẫm đạp lên nhau, kém hiệu quả, lãng phí lớn. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là một quan điểm tưởng rằng rất rõ ràng, nhưng thực tế chứa đựng sự mập mờ. Người ta nói nhiều về quyền làm chủ của dân, thực chất chính quyền là của Đảng, do Đảng đoạt được từ chính quyền cũ và không chịu trả lại cho dân. Nói nhiều về mục tiêu lợi ích, hạnh phúc của dân, thực tế mục tiêu chính của Đảng là thiết lập, duy trì, củng cố, mở rộng sự thống trị. Trong những mâu thuẫn giữa lời tuyên bố và việc làm của ĐCS thì những vấn đề về nhà nước, về dân chủ là rõ nhất.

Về thời kỳ quá độ

Ông Trọng viết “Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng.

Theo Bài báo thì: “Trong thời kỳ quá độ cần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hoá cho nhân dân, học tập và làm theo Hồ Chí Minh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại. chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Tác giả Bài báo quên mất hoặc cố tình che giấu điều kiện tiên quyết là giữ chắc được sự toàn trị của Đảng dựa trên hai lực lượng là Công an và Tuyên giáo. Dùng Công an để theo dõi, trấn áp, làm cho dân sợ. Dùng Tuyên giáo để tuyên truyền, nhồi sọ, tẩy não, làm cho dân, đặc biệt là tầng lớp được ưu đãi và tầng lớp bình dân chỉ biết nghe theo tuyên truyền một chiều, hạ thấp dân trí. Không có hai lực lượng này thì Đảng khó lòng kéo dài sự thống trị.

Về lý tưởng xây dựng CNXH, GS Trọng viết ra giấy như mọi người đã biết. Liệu trong sâu thẳm của tâm thức, ông có nghĩ như vậy không, hay là ông biết CNCS chỉ là ảo tưởng mà vì một lý do nào đó ông không dám nói thật lòng mình. Điều này chỉ có ông biết và các Bậc Bề Trên về tâm linh biết, còn người ngoài chỉ có thể đoán.

Bài báo đã nói đúng về tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nói thế nhưng làm có phần ngược lại là Nhà nước VN chủ yếu tham khảo và hội nhấp với Trung Cộng, với kẻ có nhiều dã tâm bành trướng. Hội nhập quốc tế kiểu gì khi các nước dân chủ tôn trọng Tam quyền phân lập còn ông Trọng kiên quyết chống lại.

Tại sao ĐCSVN gặp phải sự nghiệp vô cùng khó khăn và phức tạp? Đó là vì đã cố tình làm sai quy luật. Giả dụ, nếu bưng tai, bịt mắt mà tin tuyệt đối vào Mác thì việc bỏ qua chế độ tư bản là làm sai quy luật do ông tìm ra. Người có trí tuệ không ai chọn cách làm sai như vậy, chỉ có những người muốn vác gậy chống Trời mới làm thế. Làm theo quy luật thì gặp thuận lợi, nhanh, còn làm trái quy luật thì phải lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp. Nhưng tại sao lại làm thế, rồi còn tự hào đã làm thế. Đó là vì muốn chứng tỏ ta đây có tài năng, có dũng khí hơn người, làm thế để thỏa mãn sự nóng vội và phần nào là kiêu ngạo. Người có trí tuệ cao không bao giờ nóng vội và kiêu ngạo như thế.

Theo Mác- Lênin thì bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ yếu là bỏ qua nền kinh tế thị trường mà kiên quyết thực hành kinh tế kế hoạch hóa, là xóa bỏ ngay tư hữu về tư liệu sản xuất. Cả hai việc đó là cơ bản và đều sai lầm. Biết thế nên GS Trọng đã sửa đổi mà viết rằng: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”.

Những điều viết ra đọc lên nghe hay, nhưng làm sao bỏ qua được những sự áp bức, bất công dưới chế độ toàn trị độc đảng, làm sao lại bỏ đi thể chế chính trị dân chủ với tam quyền phân lập là giá trị của nhân loại.

Giáo sư viết: Trước đổi mới VN vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Lương thực, hàng hoá nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ…. các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp.

Trước năm 1986 VN tuy chưa có công nghiệp phát triển, tuy miền Bắc bị chiến tranh tàn phá (miền Nam cũng bị nhưng ít hơn, không đáng kể) nhưng không phải là nước nghèo. Với đồng bằng Nam bộ và đồng bằng sông Hồng, chỉ cần để cho nông dân tự do cày cuốc thì làm sao mà trên ba phần tư sống dưới mức nghèo khổ. Ai đã gây ra sự nghèo khổ ấy? Đảng lãnh đạo chứ ai vào đấy nữa. Đảng bắt nông dân vào hợp tác xã để trói buộc họ, Đảng phá nát nền kinh tế công thương của miền Nam bằng đường lối cải tạo. Tội ác ấy to lớn ngang với hoặc vượt qua tội ác cải cách ruộng đất.

Còn việc cấm vận của các nước. Lý do nào VN bị cấm vận. Có phải vì VN đã thống nhất, vì lãnh đạo muốn đi theo con đường XHCN. Không phải, hoàn toàn không phải mà vì những sai lầm trong việc không chịu rút quân khỏi Campuchia ngay sau khi đánh bại Khơme đỏ, là tạo ra tai nạn thuyền nhân, là việc trả thù người của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Các nước cấm vận để trừng phạt cho đến khi VN rút quân khỏi Campuchia và có biểu hiện tôn trọng nhân quyền. Thế mà Đảng chỉ đổ lỗi cho bên cấm vận mà không chịu nhận lỗi của mình tạo ra nguyên nhân cấm vận.

Về “các thế lực thù địch”: Một việc làm dù hay dở như thế nào thì thường vẫn có người ủng hộ và người phản đối. Nhưng phản đối chưa phải là thù địch. Trong thù địch có chứa tính chất thù hận. Vậy tại sao CSVN bị thù hận nhiều đến thế? Khi ta có vài người phản đối trong một số ý kiến hoặc công việc nào đấy thì là chuyện bình thường. Nhưng khi cho rằng bị nhiều người thù hận thì sao, phải chăng ta đã gây ra nhiều thù hận?

Phải chăng vì đề cao thuyết tranh đấu bằng bạo lực, đề cao việc đấu tranh giai cấp mà CS phải luôn cần có thế lực thù địch nhằm hướng sự chú ý của đảng viên và nhân dân vào đó để tạm quên đi những điều bất công và oan trái? Đây là một mưu mô không phải do CSVN nghĩ ra mà đã có từ thời Đông Chu bên Tàu, Việt Cộng được Trung Cộng dạy bảo, huấn luyện.

Thế lực thù địch được nói đến không phải Tây, Tàu nào cả, mà chính là đồng bào, ở trong nước hoặc nước ngoài. Tuyên bố có nhiều thù địch, nhưng bảo chỉ ra con người cụ thể là những ai thì ngoài vài thành viên của Việt Tân, may ra họ kể tên được vài chục người bất đồng chính kiến, mà thật ra đó là những người chính trực, yêu nước, thương dân. Trong tình trạng hòa bình, không nước nào mà chính quyền cho rằng họ có nhiều thế lực thù địch như CSVN.

Ông Trọng viết: “Công cuộc đổi mới thực sự đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp”, rồi ông liệt kê ra các thành tích về kinh tế, giáo dục, y tế, xóa nghèo, xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống nhân dân…, chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm cao của thế giới. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay… Những thành tựu đó đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng XHCN là đúng đắn, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những điều được trình bày, tuy khá dài nhưng không có gì mới, chỉ lặp lại các nhận định, các số liệu của văn kiện đại hội 13, trong đó có một số phần sự thật và một số phần không đúng.

Ông Trọng, trong lúc ra sức kể công cho Đảng đã phạm phải một số ngụy biện và nhầm lẫn về suy luận.

Ngụy biện thứ nhất là cố ý dùng sai khái niệm “Đổi mới”. Thực chất những việc làm của Đảng từ ĐH VI là sửa sai, là làm ngược hoặc xóa bỏ một phần lý thuyết Mác Lê về kinh tế, nhưng nếu công nhận như thế thì té ra Đảng đã sai à, Mác Lê có chỗ sai à. Có ai đó đã nghĩ ra và dùng từ “đổi mới” để che đậy sai lầm, lại còn bịa ra là vận dụng sáng tạo Mác Lê. Đó là sự đánh tráo khái niệm. Điều này nhiều người biết nhưng không dám nói vì sợ vạ miệng.

Những người nói nhiều đến “đổi mới” thì đa số nói theo mà không hiểu gì, một số thì biết nói sai nhưng sợ mà không dám nói khác, một số nữa biết sai nhưng cố tình nói để lừa những người nhẹ dạ cả tin. Cũng làm một việc mang lại kết quả tốt, nói là “đổi mới” thì thành tích lớn lao, cần được ca ngợi, còn nói là sửa sai thì thành tích cũng có, nhưng bé thôi và giữ được sự trung thực, giữ được đạo lý. Vì không cần giữ trung thực và đạo lý mà cần tuyên truyền về sự sáng suốt nên đành vi phạm lỗi ngụy biện về đánh tráo khái niệm. Trong tuyên truyền sự đánh tráo như vậy có thể được cho qua, còn khi làm khoa học thì không thể chấp nhận.

Ngụy biện thứ hai là đánh lận, thể hiện ở hai điều sau:

Điều đánh lận thứ nhất: Đó là nhập nhằng giữa Đảng và Chính phủ. Rất nhiều việc Chính phủ làm, lại được quy công cho Đảng với một lập luận rằng, nhờ có lãnh đạo của Đảng thì Chính phủ mới biết làm và làm được việc đó. Có thật thế không?

Trong những việc Đảng đã chủ trương, đã lãnh đạo, cần phân biệt thật rõ hai loại: Loại đương nhiên và loại riêng của Đảng.

Loại đương nhiên như động viên dân phát triển kinh tế, giáo dục, làm công trình giao thông, thủy lợi, chữa bệnh v.v… thì phần đông các Chính phủ làm giống nhau, có Đảng lãnh đạo hay không người ta vẫn làm như thế. Tuy rằng Đảng có nói đến, nhưng dù Đảng không nói đến thì người ta vẫn làm như vậy, thế thì công của Đảng ở chỗ nào? Một số việc Đảng phạm sai lầm rồi sửa sai thì không được kể là công.

Loại việc riêng, bắt buộc phải có sự lãnh đạo của Đảng là những công việc mà chỉ có Đảng mới bắt dân làm, còn thường ra, để tự do dân không ai làm, hoặc ở các nước không cộng sản không chính phủ nào làm. Đó là những việc như cải cách ruộng đất, thành lập các nông trường và hợp tác xã nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp tư nhân, lập các tập đoàn kinh tế nhà nước không thật cần thiết (vì tư nhân có thể làm), cải tạo và đấu tranh tư tưởng, giam cầm lâu dài những người vô tội, không xét xử, công hữu hóa toàn bộ đất đai, là tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, là đặt chỉ tiêu cho các loại công việc trong từng thời kỳ 5 năm v.v…

Hãy thử xem những việc của Đảng thành công đến đâu, có đáng kể công hay tìm mọi cách che giấu những thất bại thảm hại. Riêng về chỉ tiêu, đó là tàn dư của nền kinh tế kế hoạch hóa. Rất nhiều người thảo luận, biểu quyết thông qua chỉ tiêu này nọ mà chẳng biết dựa vào đâu, để làm gì.

Điều đánh lận thứ hai là về hoạt động của con người. Trước khi làm đảng viên con người đã trưởng thành, có tính cách, có nhận thức. Đó là phần nhân bản. Sau khi vào Đảng, người đó được bổ sung thêm lý luận Mác Lê, đường lối, lý tưởng. Đó là phần thuộc về tính đảng. Khi đảng viên hoạt động hai phần đó quyện vào nhau, nhưng khi phân tích, đánh giá mà gộp chung lại thì dễ phạm vào lỗi đánh lận.

Thí dụ về ông Trường Chinh, trước ĐH VI và khoán 10 trong nông nghiệp. Phần đảng trong nhận thức bảo ông rằng không được khoán, làm thế là sai đường lối, phần nhân bản mách rằng, khoán là hợp lòng người, là cứu dân. Phần nhân bản đã thắng. Đó không phải là thắng lợi của lý thuyết cộng sản. Vậy nên quy việc khoán 10 cho sự sáng suốt cộng sản, là nhầm lẫn hoặc cố tình đánh lận. Có sáng suốt, đó là sáng suốt do lòng nhân bản, còn cộng sản làm việc sửa sai.

Có một số nhận xét rằng, Đảng trước đây tốt hơn đảng bây giờ. Phải chăng đây cũng là sự nhận nhầm của nhiều người vì phần nhân bản của đảng viên trước đây tốt hơn, chứ phần tính đảng thì vẫn thế và người ta nhìn vào đảng viên để đánh giá về Đảng. Trong dân gian có câu nhận xét “Người ấy là đảng viên nhưng mà tốt”, nói về một vài đảng viên còn giữ được phần nhân bản. Tính cách tốt, đạo đức tốt của người ấy cơ bản không phải do Đảng tạo ra, mà là phần vốn có.

Thứ ba là tranh công. Thật ra tranh công không hẳn là ngụy biện, nhân tiện tôi ghép tạm mà thôi.

Thành công do một số nhân tố tạo nên, trong đó có cái chính, cái phụ. Ông cha đã tổng kết ba nhân tố chính là Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa. Mỗi nhân tố lại gồm một số yếu tố. Sự lãnh đạo của Đảng là một trong các yếu tố thuộc Nhân hòa khi thành công và Nhân bất hòa khi gặp thất bại.

Theo ông Trọng thì: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Câu này có một ý tranh công và một ý mập mờ.

Sự tranh công: Phát triển kinh tế của VN phần lớn nhờ vào nông nghiệp, nhờ vào đầu tư của nước ngoài, nhờ vào nỗ lực của các nhà doanh nghiêp, nhà khoa học, nhà đàm phán, nhờ vào Thiên thời, Địa lợi. Sự lãnh đạo của Đảng chủ yếu là bỏ sự cấm đoán, là có phần khuyến khích một số công việc nào đó. Nếu được ai đó công nhận sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu đã là không đúng, còn tự mình nhận như thế thì đó là sự tranh công. Thử hỏi xem sự lãnh đạo trong những việc riêng của Đảng (đã viết ở đoạn trên, ví như cải cách ruộng đất) là yếu tố hàng đầu của thắng lợi nào.

Ý mập mờ: Đó là cụm từ “Thắng lợi của cách mạng”. Khi chưa bị phát hiện ý đồ tranh công trong phát triển xã hội thì để ai hiểu thế nào cũng được. Khi bị phát hiện thì có thể cãi rằng, Đảng chỉ kể công trong cách mạng chứ không phải trong phát triển kinh tế.

Để trả lời câu hỏi “Thực tiễn đặt ra vấn đề gì?” thì phải biết được đúng những sự thật tích cực và tiêu cực xảy ra trong thực tiễn cùng những nguyên nhân cơ bản. Từ Đại hội VI đã có khẩu hiệu “Nhìn thẳng vào sự thật”. Đại hội XIII vẫn nhắc lại, nhưng nhìn mà có thấy hay không, ai thấy và ai không thấy, hay thấy mà cố tình bỏ qua. Hình như GS Trọng quá thiên vị về mặt tích cực, tô hồng nó, đã được phân tích ở trên và không thấy hết hoặc coi nhẹ mặt tiêu cực.

Về mặt tiêu cực. Bài viết đưa ra nhận định: “Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, … Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế; văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên…”

Hình như chỉ kể ra vài điều cho đủ chuyện mà chưa đề cập đến những tai họa gay cấn và nguyên nhân cơ bản. Phải chăng đất nước đang phát triển trong bình an vô sự? Chống chọi với tai họa covid-19 và biến đổi khí hậu thì ta cùng làm với thế giới. Còn những tai họa của riêng dân Việt thì sao?

Nạn tham nhũng, mặc dù vài vụ án lớn đã được xét xử, nhưng nó vẫn phát triển sâu rộng và không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, không chỉ ra được nguyên nhân cơ bản từ trong thể chế độc tài toàn trị. Nạn chà đạp lên công lý của hệ thống tư pháp và vi phạm nhân quyền, nạn làm hủy hoại các loại môi trường. Đặc biệt là tai họa từ phía Trung Cộng, trên Biển Đông và trên đất liền.

Hỏi rằng trong lúc say sưa với ảo tưởng xây dựng CNXH ông Trọng có biết rõ những tai họa mà dân tộc nói chung và những dân oan nói riêng đang gánh chịu? Hình như ông không biết và không muốn biết. Vì sao vậy? Điều này ông tự biết và mọi người cũng biết, chỉ là biết rồi để đó.

IV- Vấn đề xây dựng Đảng

So với văn kiện ĐH 13 thì vấn đề xây dựng Đảng của bài viết khá ngắn gọn, tuy vậy đầy chất giáo điều, không còn phù hợp với thực tế.

Tổ chức được gọi là đảng bắt đầu xuất hiện ở nước Anh vào thế kỷ 16 để vận động bầu cử, rồi phát triển ra khắp thế giới. Đó là các đảng chính trị, kể cả các đảng cộng sản thời Mác. Đảng chính trị nhằm mục đích cao nhất là cầm quyền nhà nước, thông qua bầu cử.

Đầu thế kỷ 20 Lênin đưa ra lý thuyết và thành lập đảng cách mạng, gọi là đảng kiểu mới và gắn cho nó vai trò đội tiên phong của giai cấp công nhân với nhiệm vụ lãnh đạo giai cấp làm cách mạng vô sản để giành chính quyền bằng bạo lực.

Cách mạng thể chế chính trị thỉnh thoảng xảy ra ở nước này nước nọ trong khoảng thời gian ngắn, khoảng vài ba tháng đến vài ba năm. Nó có khởi đầu và kết thúc chứ không kéo dài triền miên. Kết thúc thắng lợi của cách mạng thể chế là khi mà đảng cách mạng nắm trọn được chính quyền. Lúc này đảng hoàn thành nhiệm vụ cách mạng và trở thành đảng cầm quyền.

Có hai phương thức cầm quyền là dân chủ và độc tài. ĐCSVN tuyên truyền rằng họ chủ trương xây dựng thể chế dân chủ của dân, vì dân. Nhưng bên ngoài nhìn vào và từ nội bộ nhân dân đánh giá thì chính quyền là của Đảng, quyền cơ bản của dân đã bị Đảng chiếm lấy để thi hành sự toàn trị.

Nếu ĐCSVN thật sự muốn xây dựng chế độ dân chủ, thì điều kiện tiên quyết là phải tự chuyển đổi thành một đảng chính trị cầm quyền. Thế nhưng GS Trọng, người làm luận án tiến sĩ ngành xây dựng đảng, cố tình không nhận ra điều đó. Trong cương vị cầm quyền mà vẫn duy trì đường lối, quan điểm và tổ chức của đảng cách mạng thì thật sự không thích hợp.

Cho đến nay mà vẫn khẳng định rằng ĐCSVN là đội tiên phong của giai cấp công nhân (còn nếu hiểu hơi khác đi sợ bị phạm vào điều tối kỵ về quan điểm giai cấp), vẫn tin rằng công nhân là giai cấp lãnh đạo thì đó không những là giáo điều quá cỡ mà còn là sự bảo thủ nặng.

Hiện tại, dân VN, kể cả đảng viên và cán bộ các cấp có gì đó hiểu không đúng về đảng. Họ nghĩ rằng đảng là một tổ chức thiêng liêng, có sứ mệnh cao cả, là người dân chỉ được phép tôn thờ, kính trọng, tuân theo, không được làm khác, không được nói khác với nghị quyết của tổ chức đảng (kể từ chi bộ trở lên). Như vậy, phải chăng đã thần thánh hóa tổ chức đảng CS,

Ở các nước dân chủ người ta không nghĩ như thế. Họ biết rằng đảng chính trị, dù là đảng cầm quyền, chỉ là tổ chức của một số người cùng chí hướng, là công cụ của một số chính trị gia. Tác dụng của đảng thể hiện chủ yếu trong các cuộc vận động bầu cử. Ngày thường thì đó là hoạt động của các nhà chính trị, các cán bộ cao cấp của đảng ở trong cơ quan lập pháp và hành pháp.

Một vấn đề của lịch sử cận đại VN là, làm rõ quan hệ qua lại giữa ĐCS và dân tộc. Đã có người đưa ra hình tượng Đảng như cây tầm gửi bám trên thân cây chủ là dân tộc. Tầm gửi muốn và kích thích cây chủ phát triển bộ rễ, làm ra nhiều nhựa. Nói rằng làm ra nhựa để nuôi cây chủ tươi tốt, vì quyền lợi của cây chủ chứ không có gì hơn. Nhưng thực tế chỉ dùng một phần nhỏ nhựa để nuôi cây chủ còn phần lớn để nuôi tầm gửi. Đồng thời tầm gửi lại tiết ra một vài loại chất tỏa ra môi trường nhằm kìm hãm sự phát triển hoa lá của cây chủ, để bên ngoài nhìn vào thấy rõ tầm gửi bao trùm.

Người ta nói ĐCS sinh ra từ trong lòng dân tộc, là ngọn cờ về lòng yêu nước và chống ngoại xâm, vì độc lập đất nước. Nhưng hình như không phải thế. ĐCSVN từ ngoại lai nhập vào và vì hoàn cảnh trớ trêu mà sinh ra trên đất Trung Hoa, lúc non trẻ được CS Tàu và Đệ tam Quốc tế dưỡng dục, cưu mang, lớn lên chịu sự chỉ huy của họ.

CSVN dựa vào lòng yêu nước, tinh thần quật cường chống đô hộ của những người Việt tinh hoa để bám rễ và phát triển. Dân tộc Việt không hoài thai để sinh ra CS, nhưng đã che chở, đùm bọc, nuôi dưỡng vì tin vào những lời thiện chí của họ. Những chiến sĩ cách mạng gia nhập ĐCS trong thời kỳ bí mật chủ yếu không phải để cho Đảng thực hành toàn trị mà chính là theo Đảng để giành độc lập cho đất nước

Nhưng rồi Đảng dựa vào sức dân, giành độc lập để cho Đảng áp đặt quyền thống trị chứ chủ yếu không phải để cho dân được tự do. Một số đảng viên bị địch bắt, rất dũng cảm chịu đựng tra tấn và hy sinh. Làm được việc đó chủ yếu không phải vì họ giác ngộ chủ nghĩa Mác mà chính nhờ phần nhân bản trong họ, nhờ lòng yêu nước của họ. Câu nói đanh thép của Hoàng Văn Thụ là một minh chứng hùng hồn.

GS Trọng chỉ ra rằng: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền,  thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ”.

Đó là diễn đạt bằng lý thuyết. Thật ra sự lãnh đạo thể hiện chủ yếu trong thời gian Đảng vận động làm cách mạng. Còn khi cầm quyền Đảng chỉ lãnh đạo một phần nhỏ nào đó mà thôi, chủ yếu là thực hành sự toàn trị bằng các Ban của Đảng, bằng đảng ủy các cấp, đặt trên và áp sát các tổ chức nhà nước, bằng công an và tuyên giáo (như đã viết ở câu 3 mục III).

Lãnh đạo Đảng khá lo lắng, rất băn khoăn về đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Bộ Chính trị đã ra rất nhiều, đủ loại nghị quyết, cái này chồng lên cái kia, thế mà hình như không cải thiện được tình hình. Vì sao vậy?

Có thể vì hai nguyên nhân sau: Một là Đảng không chịu chuyển đổi từ một đảng cách mạng thành đảng chính trị cầm quyền. Hai là đường lối cán bộ của Đảng có một số điều phản dân chủ, phản tiến bộ, phản khoa học. Với đường lối như vậy chủ yếu tuyển được nhiều người cơ hội có lắm mưu mô mà kém trung thực, thiếu thông minh, khó và ít chọn được người tinh hoa, có năng lực cao và phẩm chất quý.

V- Nhận xét chủ nghĩa tư bản

Phải chăng GS Trọng muốn đem chủ nghĩa tư bản (CNTB) đối nghịch với CNXH dựa trên học thuyết Mác – Lênin.

Trong đoạn nhận xét CNTB có một số nhầm lẫn về suy luận thể hiện bới sự thiên lệch, hiểu sai quy luật, tự mâu thuẫn và khập khiểng,

GS Trọng viết: “Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước.

Sự tiến bộ về phúc lợi xã hội do nhiều điều kiện, trong đó kinh tế cao được đặt ở trước tiên là đúng, nhưng đưa việc đấu tranh của giai cấp công nhân lên hàng đầu mà bỏ qua tính nhân bản cao của các thể chế dân chủ thể hiện qua hoạt động nghị trường, của những con người giàu lòng bác ái, là thiên lệch.

Đúng là trong lịch sử nhiều lúc cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân lao động buộc giới chủ và chính quyền nhượng bộ, nhưng không phải mọi sự cải thiện đời sống của nhân dân đều là kết quả của đấu tranh như vậy. Tại nhiều nước, trong thời gian khá dài nhân dân thật sự được hưởng các chế độ phúc lợi xã hội mà chẳng thấy cuộc đấu tranh nào mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Đấu tranh chủ yếu tiến hành trong nghị trường.

Trong quy luật về giá trị thặng dư, Mác đã phạm sai lầm khi bỏ qua sự đóng góp của nhà tư bản thì ở đây GS Trọng đã bỏ qua một nhân tố khá quan trọng trong tồn tại xã hội, đó là tính nhân bản trong các thể chế dân chủ.

Bài báo viết rằng, trong các xã hội tư bản, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn là bất công xã hội. Đây là nhầm lẫn. Thật ra sự tăng khoảng cách giàu nghèo không hẳn là bất công xã hội và cũng không hẳn gắn với xã hội tư bản. Trong đoạn 9 của Bài báo nêu lên tình trạng tăng khoảng cách giàu nghèo ở VN trong nhiều năm gần đây.

Sự tăng khoảng cách giàu nghèo là hợp quy luật khi phát triển kinh tế và khoa học công nghệ vì tốc độ phát triển của những người ở hàng đầu, lớn hơn nhiều so với người ở hàng cuối. Đó không phải là bất công mà là sự chênh lệch tất yếu. Để giảm bớt chênh lệch này, nhiều nước đã áp dụng chính sách thuế và phúc lợi xã hội hợp tình hợp lý.

GS Trọng viết về CNTB như sau: “Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái”. Có thật vậy không? Xin GS chỉ ra trên thế giới này nước tư bản phát triển nào mà nạn phá rừng, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường trầm trọng hơn ở VN? Khủng hoảng năng lượng, lương thực chủ yếu là ở các nước nghèo, ở Trung Hoa và Ấn Độ chứ không phải ở các nước tư bản phát triển.

Bài báo viết: “Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa”. Phản kháng xã hội phải chăng là các cuộc biểu tình của dân chúng đòi giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa các nhóm người có quyền lợi khác nhau, giữa giới thợ và giới chủ, giữa người dân và chính quyền. Như vậy sự thật về bản chất có hai điều. Một là ở những nước phát triển vẫn phát sinh mâu thuẫn, hai là dân có quyền tự do biểu tình mà không bị ngăn cấm, không bị đàn áp.

Bản chất một là bình thường nhưng ở xã hội có tự do dân chủ thì nó được phơi bày còn ở các chế độ độc tài thì nó bị che giấu, bị bưng bít hoặc được ngụy trang khéo léo. Bản chất hai mới là quan trọng, nhưng hình như người viết không để ý đến. Có lẽ do tâm thiên vị nên ý bị lệch lạc chăng?

Tiếp đến: “Tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là ‘tự do’, ‘dân chủ’ dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản…. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Đây là một sự hớ hênh, vạch áo cho người xem lưng. Độc giả sẽ hiểu được rằng bằng bầu cử họ có thể thay đổi chính phủ, còn dưới sự thống trị của ĐCSVN thì sao, thì bầu cử hầu như chẳng có tác dụng gì. Và “dân chủ vẫn chỉ là hình thức…” thì đó là thực trạng của nhà nước CHXHCNVN.

Cũng là một kiểu tự vạch áo (nhưng không biết) khi cho rằng, CNTB gặp phải những mâu thuẫn, khủng hoảng mà “không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa”. Không giải quyết được triệt để nhưng người ta cũng vượt qua được để tiếp tục phát triển. Còn Liên Xô, thành trì của XHCN đã giải quyết triệt để bằng sự sụp đổ hoàn toàn.

Thật ra CNTB thể hiện trong lĩnh vực kinh tế là chủ yếu. Trong sách “Tại sao các quốc gia thất bại”, Daron Acemoglu đưa ra khái niệm thể chế kinh tế và thể chế chính trị. Mỗi thể chế có hai trạng thái ngược nhau là Dung hợp và Chiếm đoạt. Thường thì hai thể chế có trạng thái phù hợp với nhau, nhưng cũng có thể là không. Người ta thường thấy ở các nước tư bản nền kinh tế phát triển đi kèm với thể chế dân chủ, dung hợp. Đó là sự kết hợp chứ không đồng nhất.

(Còn tiếp)

Nguyễn Đình Cống

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.