Nhân đọc “chuyện ngăn sông cấm chợ” của Lê Học Lãnh Vân” nhớ boác Đ.M

Nghiên cứu quan hệ quốc tế

International relations Reseach

trước khi về với cát bụi ở tuổi gần đất xa trời boác cũng cố gắng với “hộ lý” mần nhiệm vụ truyền sinh của nhân loại !!!

Đỗ Mười và chiến dịch đánh tư sản X-3 tàn bạo ở miền Nam

 Huỳnh Tấn Bửu 

– 29 Tháng Tư, 2018

Cuộc đánh tư sản sắt máu của Đỗ Mười đã “tạo ra” loại con cái đấu tố cha mẹ ruột mình. Lý Mỹ (điển hình) là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 (cuộc đánh tư sản do Đỗ Mười chỉ huy) nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình…

X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải…

X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu…

Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng nằm trong số đó.

Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3, dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.

Hôm đó, Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép, khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của Đỗ Mười, hôm đó được giáp mặt, quả đúng vậy.

Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.

Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100-CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.

Đỗ Mười nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. (Rất cần phải nhắc lại cái kế hoạch X-1 do hung thần Đỗ Mười đề xuất: Sĩ Quan Ngụy tù Trung Úy trở lên, Công chức từ cấp Chánh Sự Vụ trở lên: “Tử hình”. May mà tuị Pol Pot làm quá nên bị cả Thế Giới nguyền rủa và lên án nên CSVN mới chùn tay). Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…ông vừa nói vừa chém tay vào không khí.

“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm (đúng là nhà nước vét hết để chở ra bắc vì dân bắc sống sung sướng trong thiên đường XHCN nên các cửa hàng trống rỗng, thực phẩm phải mua bằng tem phiếu, vải được phân phối mỗi năm 4 mét/người). Chính là bọn tư sản thương nghiệp! Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. (thực ra chính CS đã đầu nậu). Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta…”

Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép sủi bọt. Tay vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa. Lúc đầu mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, Đỗ Mười bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.

Đỗ Mười vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”

Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế “xung trận”.

Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ khởi đầu!

Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm’: “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn-sê-vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”

Chúng tôi ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tuyệt đối bí mật”.

Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn. Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần, nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!

Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.

đánh tư sản miền nam và kinh tế mới
Bên cạnh các chiến dịch đánh tư sản, Hà Nội còn áp dụng thêm một số biện pháp có tính toán nhằm triệt tiêu mầm mống tư sản ở miền Nam thông qua cái gọi là “kinh tế mới”

Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.

Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết đánh tư sản!

Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B. ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch. ở nhà máy dệt Thắng Lợi.

Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngắn: Lý Mỹ.

Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.

Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40,1978).

Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản!

Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh, và qua sự khích động của Đỗ Mười.

Trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc có con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bè tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong chiến tranh, được những gia đình buôn bán, giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sản ân nhân của mình. Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978, người bị gọi là tư sản, con buôn xấu xa như vậy. Người ta, vỉ ngu dốt như Đỗ Mưởi, đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.

Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục 28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.

Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương, tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới).

Đỗ Mười đưa hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu vào diện cài tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.

Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định” (Nguyễn Văn Linh trăn trở cuộc đổi mới).

Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miền Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời Đỗ Mười bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Đỗ Mười đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thành phế thải.

X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận: “Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.

Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong 63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, Đỗ Mười không để lại một tác phẩm nào?”. Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo: “Cha ấy để lại cho đời tác phẩm cải tạo công thương nghiệp, biến Sàigòn và miền Nam thành những vùng đất chết!” .

Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kể: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?” tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư, chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!”.
Đỗ Mười là người đố kỵ với Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!… Anh Mười, anh ấy rất võ biền. Các cuộc họp tôi nói, anh ta thường chặn lời tôi…” (Làm người là khó).

Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Ủy viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).

Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”. Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói: “Chỉ có phá !”.

Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp. Cũng đúng thôi, vì ông Mười xuất thân từ nghề hoạn lợn thiến heo sau đi theo cách mạng. Ông đâu có được học hành gì, bởi thế những suy tư và hành động của ông là suy tư và hành động của những tên lưu manh, vô lại, khi bỗng nhiên có chức, có quyền.

Năm nay Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói vẫn phải nuôi con mọn do cô hộ lý sinh ra và nói là con của ông??? Không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!

Minh Diện

Thông Luận

Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần 26) – Đỗ Mười Cộng Sản

(Đặng Chí Hùng)

Đỗ Mười, cựu thủ tướng, cựu tổng bí thư ĐCSVN vừa từ trần hôm 1/10/2018. Ông là một nhân vật đặc biệt, dù học hành không đến đâu, xuất thân thấp kém nhưng rồi ông đã đạt tới những vị trí cao nhất trong đảng CSVN. Sự nghiệp cách mạng của ông chỉ có lên không có xuống. Cũng như bao vị lãnh đạo ĐCSVN khác, di sản mà ông để lại là một nước VN tụt hậu về mọi mặt. Ông là tác giả nhiều hồ sơ đặc biệt như cải tạo công thương Miền Nam, mất Trường Sa và Hiệp định Thành Đô. Những lời khen ông đã có đầy trên báo VN. Blog Thông Luận đăng lại một bài viết cũ của tác giả Đặng Chí Hùng về “di sản” đặc biệt của ông Đỗ Mười. 

 I. Hoạn lợn Đỗ Mười:
Đỗ Mười theo thông tin của nhà xuất bản chính trị quốc gia (Cộng sản) có một lý lịch rất “đỏ” từ đầu tới chân. Chính vì thế Mười nắm chức tổng bí thư của đảng cướp cộng sản Việt Nam và cho tới già vẫn “kiên định” đi theo chủ nghĩa hoang tưởng và cướp bóc mà nhân loại đã bỏ vào sọt rác của thế kỷ:

“Đồng chí Đỗ Mười, tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2-2-1917 tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Là một thanh niên yêu nước sớm giác ngộ cách mạng, năm 19 tuổi, đồng chí đã tham gia hoạt động trong phong trào vận động dân chủ 1936-1939. Năm 1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và kết án 10 năm tù, giam tại Nhà tù Hỏa Lò – Hà Nội. Tháng 3-1945, đồng chí vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia Tỉnh ủy Hà Đông, trực tiếp lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Đông.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông. Đầu năm 1946, đồng chí được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, đến cuối năm 1946, làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến – hành chính tỉnh Nam Định. Năm 1948, đồng chí làm Khu ủy viên Khu III kiêm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình. Năm 1950, làm Phó Bí thư Liên khu ủy III kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến – hành chính Liên khu III, Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu III. Từ năm 1951 đến năm 1954, làm Bí thư Khu ủy Tả ngạn sông Hồng kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến – hành chính và Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu Tả ngạn sông Hồng.
Năm 1955, đồng chí là Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban quân chính thành phố Hải Phòng. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa II (3-1955), đồng chí được bầu bổ sung làm Ủy viên dự khuyết và tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960), đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Từ năm 1956 đến năm 1973, đồng chí đã giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Nội thương rồi Bộ trưởng Bộ Nội thương, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng phái đoàn thanh tra Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Tháng 12-1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ. Tháng 3-1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Tháng 12-1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và sau đó được phân công làm Thường trực Ban Bí thư. Tháng 6-1988, đồng chí được Quốc hội khóa VIII bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và VIII của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa II, IV, V, VI, VII, VIII, IX.
Tháng 12-1997, đồng chí đã đề nghị chuyển giao chức vụ Tổng Bí thư và được Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Trên cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong giai đoạn đầy khó khăn do những biến động tiêu cực ở Liên Xô và Đông Âu, đồng chí Đỗ Mười đã góp phần cùng Trung ương Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi thử thách, cam go, đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục tiến lên.” (1)
Đỗ Mười được biết đến là một kẻ vô học, ông ta từng thẳng thừng chửi bới người vệ sỹ riêng của mình vì đã cho một người tự nhận là “bạn học” của ông Tổng bí thư vào phòng riêng chờ được gặp. Lý do mà ông Mười chửi bới người vệ sỹ đó là “Tao có đi học ngày nào đâu mà có thằng nhận là bạn học”. Câu chuyện này là có thật 100% do chính anh em vệ sỹ kể chứ không phải là chuyện bịa. Tuy nhiên việc đó không quan trọng. Nó chỉ là một điều bình thường trong chế độ cộng sản vì Nguyễn Tấn Dũng học lớp 3 làm thủ tướng, Hồ Chí Minh viết sai chính tả tòe loe còn làm “danh nhân văn hóa” thì việc ông Mười vô học làm tổng bí cũng chẳng có gì lạ.
Ngoài ra còn phải nói đến việc ông Mười có gốc gác là một anh thiến heo. Thiết tưởng làm nghề gì đâu có phải là vấn đề? Miễn nghề đó không phải là cướp của, giết người. Tuy nhiên điều đáng nói là Đỗ Mười và cộng sản không bao giờ nhận về điều này. Ngay tại Liên Xô (cũ) thì Tổng bí thư Nikita Khrushchev đã hãnh diện về nguồn gốc chăn lợn của mình, mỗi ngày chỉ được trả có hai kopeks. Tại sao Đỗ Mười không dám nhận? Có phải Đỗ Mười muốn nhận mình là “thánh” giống cái cách Hồ Chí Minh tự bơm mình bằng cái tên Trần Dân Tiên? Có lẽ như vậy.
Chuyện ông Mười làm nghề thiến heo là hoàn toàn có căn cứ:
Thứ nhất, đọc bài thơ được nhà thơ Trần Ái Dân, nhan đề Thế này là thế nào… (2); đoạn chót như sau:
“Thời buổi thế này là thế nào hả giời Vua xuất xứ từ một anh hoạn lợn Diễn văn eng éc tiếng lợn kêu Đất nước tàn tạ xót xa Triều đình cắn xé thối tha Vua vẫy tai nhởn nhơ, hếch mũi lên hơn hớn”
Đây chính là những câu ám chỉ nghề của Đỗ Mười trước khi đi làm “cắt mạng”.
Thứ hai, chính nhà văn Vũ Thư Hiên (con ông Vũ Đình Huỳnh – Người thân tín của Hồ Chí Minh) đã viết trong “Đêm giữa ban ngày”chương 16 như sau: “Cái gọi là đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng kinh tế thị trường có điều tiết, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời chính là trong thời kỳ này. Cha tôi đã nhận định sai về con người Đỗ Mười. Ông chỉ không sai khi nói rằng trước Cách mạng Tháng Tám Đỗ Mười làm nghề hoạn lợn chứ không phải phu hồ, thợ sơn gì sất như được ghi trong tiểu sử chính thức: “Nói mọi nghề đều quý thì làm hoạn lợn cũng quý chứ sao, xưng công nhân làm quái gì! Người không biết thì thôi, người biết họ cười cho mất mặt. Thế không phải khôn, mà dại”. Các nhà cách mạng biết Đỗ Mười cũng xác nhận nghề hoạn lợn của ông, chỉ nói thêm rằng ông hoạn vụng, có lần hoạn chết lợn của người ta, bị đuổi chạy chí chết”. (3)
Thứ ba, trong cuộc gặp với Giang Trạch-Dân năm 1991, Dân là người có học, thâm trầm, mưu cơ, tính toán rất cẩn thận. Mỗi lời, mỗi ý đều nói rất văn hoa, lại ưa xen vào những câu trong kinh điển cổ, hoặc những câu thơ, câu từ. Thế nhưng trong buổi họp ông ta gặp gã Đỗ Mười dốt đặc cán mai. Giang nói móc Đỗ Mười trong bữa ăn rằng Mười xuất thân là tên hoạn lợn bằng câu: “Lợn Trung quốc không to béo như lợn Việt Nam, vì chúng ham nhảy cái quá. Còn lợn Việt Nam hầu hết là lợn thái giám, nên to lớn”.
Điều đó cho thấy Đỗ Mười đích thị là anh chàng hoạn lợn!
Vì đã có thời ông Mười hành nghề hoạn lợn mà (người Nam gọi là “thiến heo”). Chuyện kể của nhà văn Vũ Thư Hiên rằng Đỗ Mười thiến làm sao đó mà nhiều lần con heo ngỏm củ tử. Vì thế Đỗ Mười bị đuổi đánh chạy vãi ra quần. Do thấy nghề thiến heo không khá, “đồng chí” bỏ nghề và đi làm ”Cắt Mạng”. Bị Tây bắt giam nhiều năm tới 1945 mới được tự do và tham gia cướp chính quyền ở Hà Đông. Sau đó giữ chức Bí Thư Tỉnh Ủy kiêm Chủ Tịch UBND tỉnh. Từ đó đường hoạn lợn biến thành hoạn lộ của Đỗ Mười thênh thang rộng mở và phất lên thành tỷ phú USD. Rõ ràng nghề làm “Cắt Mạng” khá hơn nghề thiến heo rất nhiều. Thậm chí Đỗ Mười còn ngạo mạn tuyên bố: “Có đảng Cộng Sản mới có đổi mới”. Nhưng đó chỉ thật sự chỉ là ngụy biện mà thôi!

Đỗ Mười và Võ Nguyên Giáp


II. Tội ác độc tài và cướp ngày: 
Độc tài:
Đã là cộng sản thì không ai không có tư tưởng độc tài. Đỗ Mười cũng không là ngoại lệ. Trong thời kỳ làm chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay gọi là thủ tướng) và sau này làm tổng bí thư của mình thì Đỗ Mười đã tự mình hoặc cùng Võ Văn Kiệt gây ra nhiều tội ác với dân chủ. Tiêu biểu xin kể tên lại một số vụ án với dân chủ và người yêu nước điển hình như sau:
– Tháng 11/1991: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị xử 20 năm tù và 5 năm quản thúc tại gia, cùng với nhà báo Châu Sơn Nguyễn Văn Thuậnán 10 năm, trong một phiên tòa chớp nhoáng, không có luật sư biện hộ và không cho công chúng tham dự.
– Tháng 5/1992: Luật sư Đoàn Thanh Liêm bị xử 12 năm tù vì bài viết “Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản” nhằm đặt cơ sở luận lý và pháp lý cho một Hiến Pháp tương lai.
– Tháng 3/1993: Giáo sư Đoàn Viết Hoạt bị xử 15 năm tù, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì ấn hành tờ báo bí mật “Diễn Đàn Tự Do”.
– Tháng 12/1993: Việt kiều Kỳ Ngọc Thanh và 4 người thuộc Liên Minh Hùng Gia Đại Việt cùng 2 nông dân với bản án tổng cộng 47 năm, về vụ thực hiện Chiến Dịch Nguyễn Trãi đòi hỏi đa nguyên đa đảng, và tổ chức 150 nông dân biểu tình trước Sở Thú Sài-gòn vào ngày 20/5/1991 nhằm yêu cầu giải quyết công bằng ruộng đất.
– Tháng 8/1995: Giáo sư Nguyễn Đình Huy bị xử 15 năm tù giam, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì hoạt động trong Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc Và Xây Dựng Dân Chủ, tiến hành tổ chức công khai Hội Nghị Quốc Tế Về Vấn Đề Phát Triển Việt Nam tại Sài Gòn.
Đỗ Mười là người đứng đầu chính phủ, sau này là đứng đầu đảng cộng sản độc tài thì không có gì thể bao biện cho những việc trên. Thậm chí sau này chính Đỗ Mười còn cho hành hạ nhà đấu tranh dân chủ Hoàng Minh Chính lúc mới tù về và bắt ông Chính lần sau nữa. Việc này đã được nhà văn Vũ Thư Hiên viết như sau: “Cũng dưới thời Đỗ Mười tên xét lại hiện đại Hoàng Minh Chính được thả ra sau lần giam giữ cuối cùng vẫn bị tiếp tục hành hạ về tinh thần trong cuộc sống quản thúc. Không hề có một thiện ý lật lại trang sử để xem xét vụ án, cũng không có một biệt đãi nào, dù là biệt đãi chui, dành cho những người bị giam giữ trái phép nhiều năm, để đền bù phần nào những đau khổ và thiệt thòi mà họ và thân nhân đã phải chịu đựng trong những năm đó (12)…
(12) Tôi viết những dòng này khi Hoàng Minh Chính chưa bị bắt thêm một lần nữa (lần thứ ba) và bị xử án một năm tù giam vì tội “lạm dụng những quyền tự do dân chủ”, thời tổng bí thư Đỗ Mười”. 
(4)

Đỗ Mười khi tới Bình Dương tháng 11/2006 (Đã già nhưng rất thích khoác tay phụ nữ trẻ (hộ lý ?))


Theo cuốn sách “Những mẩu chuyện về đồng chí Đỗ Mười” của nhà xuất bản dân trí cộng sản Việt Nam ca tụng Đỗ Mười như sau: 

“Trần Quân Ngọc, nguyên Thư ký chuyên trách về dầu khí và công nghiệp của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười cho biết: trong nhà, đồng chí Đỗ Mười để vào vị trí trang trọng nhất tấm chân dung Bác Hồ với bút tích của Bác Hồ “Tặng chú Mười”. Ông bảo đó là món quà quý nhất của đời ông… Tấm ảnh Bác Hồ đó, được đặt trang trọng ở trang đầu tiên của cuốn sách “Những câu chuyện về đồng chí Đỗ Mười- nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam”.
Trong bài viết của mình, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nêu rõ: Tham gia cách mạng từ khi còn trẻ, đến nay tuổi đã gần 100 nhưng đồng chí Đỗ Mười giữ nguyên tính cách của một người Cộng sản trung kiên, một con người của hoạt động….
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh tâm sự:. Đồng chí sống chân thành, giản dị, gần gũi chan hòa với mọi người. Được sống gần đồng chí Đỗ Mười và những lần làm việc trực tiếp với đồng chí, tôi đã cảm nhận được nhiều điều sâu đậm về Anh- người Đảng viên cộng sản trung kiên, hết lòng vì nước, vì dân…”
Qua đoạn bốc thơm của cuốn sách chúng ta thấy được điều gì? Đó là cộng sản thật giống nhau. Đỗ Mười chính vì tôn thờ Hồ Chí Minh và “kiên định” theo cách mạng nên hậu quả là rất nhiều tấm gương yêu nước và đấu tranh cho dân chủ đã vào tù dưới bàn tay của Đỗ Mười cũng không có gì quá xa lạ.

Đỗ Mười và đàn em tại một công trình Dầu Khí. 


Tội ác cướp ngày:
Hẳn bạn đọc còn nhớ trong “Những sự thật cần phải biết” – phần 13: Những kẻ cướp ngày đã đề cập đến tội ác cướp ngày của Đỗ Mười. Tuy nhiên để hiểu rõ hơn về việc này, xin trình bày lại và thêm một sô tư liệu về việc này của Đỗ Mười để thấy rõ hơn tội ác của Mười.
Thứ nhất, chính Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Ủy viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Trích “Làm người là khó” – Đoàn Duy Thành – cựu phó thủ tướng nhà cầm quyền cộng sản). Ông Đoàn Duy Thành cho biết Phạm Văn Đồng đánh giá về cải tạo công thương Nghiệp của Đỗ Mười: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”. Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói: “Chỉ có phá!”.
Khi chiến dịch X-3 đã bắt đầu:
Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100 – CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Sài Gòn (đã bị đổi tên thành Tp. HCM) và các tỉnh phía Nam. Đỗ Mười nói: 
“Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ… Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta… Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”
Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng một mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm: 
“Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn-sê-vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”
.
7 giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân thành phố. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu. Và tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước.

Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt (hay Nguyễn Văn Linh ?)


Thứ hai, về tội cướp ngày của Đỗ Mười thì trên Dân Làm Báo cũng có một bài của nhà báo Minh Diện nói về điều đó. Bài báo có tên “Ông Đỗ Mười “đẻ ra” Lý Mỹ”. Bài viết có đoạn:
“Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạng Tháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi, được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp, cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình…
Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40,1978). 
Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản! 
Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh….
X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải…
X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu…” 
(5
Rõ ràng qua đấy chúng ta thấy rõ hơn tội ác của Đỗ Mười làm băng hoại đạo đức xã hội cũng như là kẻ đầu têu cho sự cướp bóc của cộng sản đối với nhân dân Miền Nam.

Đỗ Mười vẫn chơi “Đại cán” Tầu


Thứ ba, trong báo cáo về thành tích “cướp” của nhân dân Miền Nam, cuốn sách “Thông tin lịch sử của TP. HCM” của ủy ban nhân dân TPHCM có cho biết: 
“Cho đến ngày giải phóng 1975, Sài Gòn đã có một cơ sở vật chất, kinh tế kỹ thuật lớn nhất miền Nam, nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp cả miền Nam. Nơi đây tập trung hơn 38. 000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8. 548 cơ sở công nghiệp tư nhân. Để công hữu hóa tư liệu sản xuất và đưa công nhân lao động làm chủ nhà máy, xí nghiệp, sau năm 1975 chính quyền cách mạng đã tiến hành vận động hai đợt cải tạo công thương nghiệp. Kết quả là đã quốc hữu hóa tài sản của 171 tư sản mại bản, 59 tư sản thương nghiệp cỡ lớn… ”
Cuốn sách cũng khẳng định thêm:
“Trong những chiến dịch lịch sử này có sự đóng góp không nhỏ của Bộ Chính Trị mà đặc biệt là vai trò lãnh đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng – thủ tướng chính phủ và đồng chí Đỗ Mười – phó thủ tướng chính phủ…”
Đó chính là những đoạn báo cáo tố cáo tội ác của cộng sản mà đặc biệt là Đỗ Mười. Đó là tội ác không thể chối cãi.

Đỗ Mười và đồng chí NPT chủ lò


III. Trùm sò Bán nước:
Lịch sử và sự thật cho biết Đỗ Mười chính là một kẻ bán nước. Điều đó là hoàn toàn không thể chối bỏ. Ngày nay nhiều tài liệu được bạch hóa đã chỉ ra Đỗ Mười chính là một tay trùm sò bán nước. Điều đó sẽ được gửi tới bạn đọc ngay dưới đây. Trước đó, xin quý bạn đọc tìm đọc lại “Những sự thật cần phải biết – Phần 23” để thấy rõ đường dây và tiến trình bán nước của cộng sản gồm: Phiêu, Linh, Khải, Kiệt, Mười, Mạnh v.v… Ở đây chỉ xin tóm tắt một số sự kiện chính để thấy rõ bộ mặt bán nước của Đỗ Mười hơn.
Thứ nhất, ngày 7-11-1991, trong chuyến đi Bắc Kinh của Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt, “Hiệp định tạm thời về việc giải quyết các công việc trên vùng biên giới hai nước”, Việt Nam – Trung cộng, đã được ký kết. Đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung cộng dài 1.406 km, có truyền thống lâu đời bắt đầu được phân định lại.
Đường biên giới truyền thống đó là cơ sở để người Pháp, sau khi chiếm Bắc Kỳ, đàm phán với triều đình Mãn Thanh, ký Công ước 26-6-1887 và Công ước bổ sung 20-6-1895. Đây là hai văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên xác định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, đường biên giới dài 1.406 km, từ Móng Cái đến biên giới Lào – Trung, chỉ có 341 cột mốc.

Đỗ Mười và Lê Đức Anh –


Theo Phan Văn Khải kể lại: “Thác Bản Giốc mình không thể nào lấy hết… Bãi Tục Lãm họ có ý đồ lấn thật. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Cố vấn Đỗ Mười cũng phải đấu với Trung Quốc trên tình hữu hảo mới được như vậy. Tôi, ông Vũ Khoan và ông Lê Khả Phiêu đã đấu tranh rất căng thẳng nhưng đôi bên cũng phải có nhân nhượng, chẳng thà mình có một phân định sau này còn có cơ sở để đấu tranh”. 
Qua đây cho thấy chính Khải và Phiêu đã xác nhận hành động bán nước của mình. Tại sao lãnh thổ của Việt Nam lại phải nhân nhượng? Và việc để mất thác Bản Giốc và bãi Tục Lãm mà Khải kể chính là hành động bán nước không thể chối cãi. Và việc Mười và Kiệt đã ký “hiệp định” đã cho thấy Mười và đồng bọn chính là những tên Lê Chiêu Thống ngày thời cộng sản không thể chối cãi.
Thứ hai, trên một bài báo của Vietnamnet (cộng sản) đã chỉ rõ vai trò kết nối bán nước của Lê Đức Anh như sau: “Sau khi ông Lê Đức Anh đi “tiền trạm” về. Từ ngày 3 đến ngày 10/11/1991, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thăm chính thức Trung Quốc. Hai bên Hội đàm, ra thông cáo chung và kí kết Hiệp định chính thức quan hệ bình thường giữ hai nước trên cơ sở 5 nguyên tắc hòa bình, đồng thời kí cả quan hệ bình thường giữa hai Đảng, khép lại 15 năm đối đầu căng thẳng.” (6)
Tất nhiên là bài báo không được phép nói thẳng ra Anh, Mười, Kiệt bán nước nhưng chúng ta thấy sự thật đã rõ ràng khi Kiệt và Mười đi thăm bán nước cho Trung cộng… Sự kiện này đã được chính báo cáo của bộ chính trị cộng sản về Lê Đức Anh, Mười, Kiệt kể công bán nước như sau: 
“Đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh v.v… đã có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng khởi đầu cho mối quan hệ bằng 16 chữ vàng và 4 tốt hiện nay. Tiếp nối truyền thống của Mao chủ tịch và Hồ chủ tịch đã xây dựng …” (7

“Ngày 19-11-1994 Tại Hà Nội, Đỗ Mười và Lê Đức Anh tại lễ đón tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Chuyến thăm kéo dài đến 22-11-1994”./ Nguồn: Trung Quốc-Việt Nam (sách ảnh) Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa biên soạn. China Intercontinental Press, 2003, tr. 26/ (8
Thứ baHội nghị Thành Đô 1990, từ trái Lý Bằng, Giang Trạch Dân, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng (phải) “16 chữ vàng” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, trên thực tế là Tà quyền Việt cộng chịu sự phụ thuộc về nhiều mặt đối với Trung cộng.

Sự kiện Thành Đô và vai trò của Đỗ Mười đã được khẳng định bằng việc trong hồi ký của Lý Bằng nói rất rõ vai trò của Mười:
“Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đi Thành Đô hội đàm nội bộ với TBT ĐCSVN Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch HĐBT VN Đỗ Mười, đã gửi lời mời đến phía Việt Nam. Hiện còn phải chờ xem phúc đáp của phía Việt Nam thế nào?
Ngày 2/9 – Chủ nhật. Trời quang tạnh.
Buổi chiều, 3 giờ 30 tôi lên chuyên cơ khởi hành từ sân bay ở ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Khoảng gần 6 giờ đến sân bay Thành Đô. Tôi đi ô tô mất khoảng 20 phút đến Khách sạn Kim Ngưu. Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại chờ đón tôi tại đó. Đồng chí Giang Trạch Dân đi một chuyên cơ khác, đến Thành Đô muộn hơn tôi 30 phút. Buổi tối từ 8g30 đến 11g tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi ý kiến về phương châm hội đàm với phía Việt Nam ngày mai.
Ngày 3/9 Thứ hai. Thành Đô trời tạnh sáng.
Buổi sáng tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng đồng chí ấy tiếp tục nghiên cứu phương châm sẽ hội đàm với phía Việt Nam vào buổi chiều.
Khoảng gần 2g chiều, TBT ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười và Cố vấn BCHTƯ ĐCSVN Phạm Văn Đồng đến khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đón tiếp họ ở sảnh tầng 1. Nguyễn Văn Linh mặc Âu phục màu cà phê, phần nào có phong độ như một học giả. Đỗ Mười thân thể tráng kiện, đầu tóc bạc trắng, vận âu phục xanh lam. Cả hai người đều vào khoảng 73-74 tuổi. Còn Phạm Văn Đồng cả hai mắt bị lòng trắng che, thị lực rất kém, mặc áo kiểu đại cán xanh lam, giống như một lão cán bộ Trung Quốc…”
Rõ ràng những kẻ như Đồng, Linh, Kiệt và Mười là những tên bán nước thật sự. Đó chính là những kẻ tội đồ của dân tộc.

Thành Đô.


Thứ tư, trong cuộc gặp với Giang Trạch Dân thì Đỗ Mười đã đồng ý với công hàm Phạm Văn Đồng và nhượng bộ Trung cộng. Nó thể hiện rất rõ sự bán nước của Mười. Trong báo cáo chính trị của cộng sản về cuộc gặp này được lưu lại tại Bộ Ngoại Giao cộng sản có ghi như sau:
“Trong cuộc họp với đồng chí Giang Trạch Dân, Đồng chí Đỗ Mười than rằng trong khi các bên bàn luận chưa ngã ngũ ra sao, thì hải quân Trung cộng cứ nhằm hải quân Việt Nam mà tấn công là không hay.
Đồng chí Giang cười xòa, rồi nói rằng: 
Quần đảo Tây sa (Hoàng sa) do Trung quốc chiếm từ chính quyền miền Nam Việt Nam, không liên quan gì tới đảng Cộng sản Việt Nam cả. Còn những cuộc đụng độ mới đây tại quần đảo Nam sa (Trường sa) thì đó là những biến cố nhỏ. Chúng ta gặp nhau đây, hãy bàn đại cuộc thì hơn. 
Đồng chí Đỗ Mười đáp lại:
Đụng chạm nhỏ gì mà tới 9 lần. Thiệt hại lên tới hàng trăm người của chúng tôi. Nhất là cuộc tấn công của hải quân Trung-quốc ngày 14-3-1988, khiến ba tàu Hải Quân Việt Nam bị chìm, mấy trăm người mạng bị chết. 
Đồng chí Giang bèn đưa ra một văn kiện, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký trước đây. Đồng chí Giang nói: 
Ngày 4-9-1958, khi Trung quốc ra bản tuyên cáo lãnh thổ 12 hải lý, với bản đồ đính kèm, thì ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam, ký văn thư gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung quốc, công nhận bản tuyên bố lãnh hải. Từ ngày ấy cho đến nay, phía Việt Nam chưa bao giờ chống đối văn kiện này. Như vậy rõ ràng Việt Nam công nhận toàn bộ vùng biển Đông, trong đó có hai quần đảo Tây sa (Hoàng sa) và Nam sa (Trường sa) thuộc Trung quốc. Quần đảo Tây sa, Trung quốc đã đánh chiếm từ chính quyền Sài-gòn ngày 19-1-1974. Còn quần đảo Nam sa (Trường-sa), sau ngày 30-4-1975, VN đem quân tới chiếm đóng. Như vậy là Việt Nam xâm lăng, lấn chiếm lãnh thổ Trung quốc, nên hải quân Trung quốc phải nổ súng đuổi quân xâm lược là lẽ thường tình. 
Đồng chí Đỗ Mười không chịu nhượng bộ: Tại Trường sa còn có quân đội của Phi-luật-tân, Đài-loan, Mã-lai. Tại sao thủy quân Trung-quốc không tấn công vào quân hai nước đó, mà chỉ tấn công vào Hải Quân Việt-Nam? 
Đồng chí Giang tiếp: Quần đảo này hiện đang trong vòng tranh chấp giữa Trung quốc với Philippines, Malaysia, nên Trung-quốc không thể tấn công họ, như vậy là bá quyền. Còn quân của Đài loan cũng là quân Trung quốc đóng trên lãnh thổ Trung quốc, nên hải quân Trung quốc không thể nổ súng, vì như vậy là huynh đệ tương tàn. 
Đồng chí Đỗ Mười cho biết: Nhưng tại Trường sa từ trước đến giờ không hề có quân Trung quốc đóng. Nay Trung quốc dùng sức mạnh, chiếm mất mấy đảo của Việt Nam làm ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp.
Đồng chí Giang bèn trả lời rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nêu cao việc dùng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đồng chí hãy tuân thủ tư tưởng của Hồ Chủ tịch, vì chính Hồ chủ tịch ra lệnh cho đồng chí Phạm Văn Đồng ký văn thư công nhận các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là của Trung quốc…
Đồng Chí Đỗ Mười: Thôi! Chúng ta hãy dừng lại ở đây để không ảnh hưởng đến hòa khí của hai đảng. Chúng ta bàn tiếp vấn đề Campuchia…” 
(9
Qua đoạn trích chúng ta thấy gì? Đó là Đỗ Mười đã im lặng trước hành động bán nước của Phạm Văn Đồng, HCM vì vậy sau đó Mười bán nước không có gì lạ.


Trước đó thì Linh và Mười đã rất tâm đắc với việc bán nước và thần phục Trung cộng. Hãy đọc đoạn sau từ hồi ký Trương Đức Duy – sứ Tầu tại Việt Nam để thấy rõ điều này: 
“Hai vị Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười bàn bạc ngay tại chỗ xong, Nguyễn Văn Linh bày tỏ: Tôi và Chủ tịch Đỗ Mười rất phấn khởi, rất hoan nghênh, rất cảm ơn lời mời của Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng. Chúng tôi hết sức vui mừng khi nhận được lời mời, đồng ý với sự bố trí thời gian, địa điểm và những việc có liên quan do phía Trung Quốc đề xuất. Chúng tôi sẽ báo cáo ngay lên Bộ chính trị, nhanh chóng xác định danh sách đoàn đại biểu và bắt tay vào công tác chuẩn bị, thậm chí ngay cả đồng chí Phạm Văn Đồng, nếu như tình trạng sức khỏe cho phép, cũng nhất định sẽ tiếp nhận chuyến đi thăm theo lời mời này.
Cuộc gặp mặt được diễn ra hơn nửa giờ trong bầu không khí thân mật, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh còn đề xuất một lần nữa nguyện vọng được gặp đồng chí Đặng Tiểu Bình, được đích thân lắng nghe những ý kiến và kinh nghiệm quý báu từ đồng chí ấy
.

Đỗ Mười và đồng chí X


IV. Kết luận:
Đỗ Mười cũng là một trong những tội đồ của dân tộc. Ngoài độc tài và cướp đoạt của dân còn cho thấy là một trong những hiện thân của Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc thời đại cộng sản. Điều đó cho thấy chúng ta phải tìm mọi phương thức để lật đổ chế độ cộng sản để cứu dân tộc khỏi con đường mà cộng sản đang tìm cách dâng giang sơn, gấm vóc của tổ tiên cho giặc. Chúng ta chỉ có thể lật đổ cộng sản mới có thể cứu được sản nghiệp mà những Trần Hưng Đạo, Hai bà Trưng v.v… đã dày công vun đắp. Đó là trách nhiệm mà chúng ta, tất cả bạn đọc có lương tri phải phấn đấu.
Đỗ Mười thật sự là Đỗ Mười vì dù có là anh hoạn lợn hay anh tổng bí thư vô học thì cũng phải nói: Đỗ Mười cộng sản!


06/10/2013.

Đỗ Mười

Bách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới điều hướngBước tới tìm kiếm

Đỗ Mười
Chức vụ

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Bí thư Quân ủy Trung ương
Nhiệm kỳ28 tháng 6 năm 1991 – 26 tháng 12 năm 1997 
6 năm, 181 ngày
Tiền nhiệmNguyễn Văn Linh
Kế nhiệmLê Khả Phiêu
Thường trực Ban Bí thưLê Đức Anh (1991-1992)Đào Duy Tùng (1992-1993)Nguyễn Hà Phan(1993-1996)Lê Khả Phiêu (1996-1997)

Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhiệm kỳ29 tháng 12 năm 1997 – 22 tháng 4 năm 2001
3 năm, 114 ngày
Tiền nhiệmNguyễn Văn Linh
Kế nhiệmchức vụ bãi bỏ

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Phó Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh Việt Nam
Nhiệm kỳ22 tháng 6 năm 1988 – 9 tháng 8 năm 1991
3 năm, 48 ngày
Tiền nhiệmPhạm Hùng
Võ Văn Kiệt (quyền)
Kế nhiệmVõ Văn Kiệt
Thường trực Ban Bí thư
Nhiệm kỳ18 tháng 12 năm 1986 – tháng 10 năm 1988
Tổng Bí thưNguyễn Văn Linh
Tiền nhiệmNguyễn Văn Linh
Kế nhiệmNguyễn Thanh Bình
Ủy viên Bộ Chính trị
Nhiệm kỳ1982 – 1997
Bộ trưởng Bộ Xây dựng
Nhiệm kỳ14 tháng 6 năm 1973 – 22 tháng 11 năm 1977
4 năm, 161 ngày
Tiền nhiệmBản thân (Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước)
Bùi Quang Tạo (Bộ Kiến trúc)
Kế nhiệmĐồng Sĩ Nguyên
Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước
Nhiệm kỳ – 6/1973
Tiền nhiệmTrần Đại Nghĩa
Chủ nhiệm Văn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng
Nhiệm kỳ12/1969 – 
Tiền nhiệmđầu tiên
Phó Thủ tướng Chính phủ
Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Nhiệm kỳ11 tháng 8 năm 1969 – 22 tháng 6 năm 1987
17 năm, 315 ngày
Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước
Nhiệm kỳ30 tháng 10 năm 1967 – 
Tiền nhiệmNguyễn Thanh Bình
Đại biểu Quốc hội khóa II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX
Nhiệm kỳ8 tháng 5 năm 1960 – 20 tháng 7 năm 1997
37 năm, 73 ngày
Bộ trưởng Bộ Nội thương
Nhiệm kỳtháng 4 năm 1958 – tháng 1 năm 1961
Tiền nhiệmkhông có (thành lập)
Kế nhiệmNguyễn Thanh Bình(Quyền)
Thứ trưởng Bộ Công thương
Nhiệm kỳ1956 – 1958
Bí thư Thành ủy
kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân chính Tp Hải Phòng
Nhiệm kỳ4/1955 – 1956
Phó Chủ tịchHoàng Sâm
Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông
Nhiệm kỳ1945 – 1946
Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Nhiệm kỳ15 tháng 3 năm 1995 – 9 tháng 8 năm 2001
6 năm, 147 ngày
Tiền nhiệmHồ Chí Minh (1969)
Kế nhiệmTrần Đức Lương
Thông tin chung
Sinh2 tháng 2, 1917
Xã Đông Phù, tổng Nam Phù Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông
Mất1 tháng 10, 2018(101 tuổi)
phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Nơi ở11 Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Dân tộcKinh
Tôn giáokhông
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
VợTạ Thị Thanh

Đỗ Mười (2 tháng 2 năm 1917 – 1 tháng 10 năm 2018) tên khai sinh là Nguyễn Duy Cống, là một cựu chính trị gia Việt Nam. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 6/1939, trở thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thứ 3 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[1] vào năm 1988 và Tổng Bí thư thứ 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đại hội lần thứ 7 kết thúc không lâu sau đó. Ông là nhà lãnh đạo cao nhất Việt Nam từ 1991-1997, và vẫn có ảnh hưởng đến chính trị Việt Nam sau khi nghỉ hưu năm 1997. Ông duy trì chính sách điều hành đất nước của người tiền nhiệm Nguyễn Văn Linh, bao gồm cơ chế tập thể lãnh đạo và chương trình Đổi Mới. Ông được bầu giữ chức Tổng Bí thư liên tiếp hai nhiệm kỳ, nhưng khi chưa kết thúc nhiệm kỳ thứ hai trong Hội nghị trung ương 4 của Ban Chấp hành Trung ương khóa 8 vào năm 1997 thì lại quyết định từ chức. Ông tiếp tục làm Ủy viên Hội đồng cố vấn Ban Chấp hành Trung ương từ năm 1997 đến năm 2001.

Mặc dù chính thức nghỉ hưu từ năm 1997, Đỗ Mười vẫn là nhân vật có ảnh hưởng trong nền chính trị Việt Nam và tạo ra những tác động đáng kể đến các quyết định của Đảng Cộng sản. Ông qua đời ngày 1 tháng 10 năm 2018 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, và được an táng tại quê nhà ở Thanh TrìHà Nội.

Thân thế và buổi đầu sự nghiệp

Đỗ Mười tên khai sinh là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 tại làng Đông Phù xã Đông Mỹ, huyện Thanh TrìHà Nội, xuất thân trong một gia đình trung nông. Dòng họ Nguyễn Duy của ông Đỗ Mười là hậu duệ Định quốc công Nguyễn Bặc khai quốc công thần nhà Đinh. Bố ông tên là Nguyễn Duy Trinh, sinh được bảy người con (bốn trai, ba gái).[2] Cùng gia tộc có ông Nguyễn Thọ Chân cùng hoạt động cách mạng vào đảng cùng ngày với Đỗ Mười.[3] Năm 1936, ông tham gia Phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 – 1939).[4] Năm sau, ông tham gia Tổ chức Ái hữu thợ mỏ Hòn Gai tại Quảng Ninh. Năm 1938, ông về quê hoạt động, vào Công Hội, vận động phong trào ủng hộ Liên Xô. Tháng 6 năm 1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (về sau là Đảng Cộng sản Việt Nam). 

Năm 1941, ông bị chính quyền Pháp bắt giam và bị kết án 10 năm tù, giam tại Hỏa Lò.[5][6] Ngày 9 tháng 3 năm 1945, nhân sự kiện Nhật đảo chính Pháp, Đỗ Mười vượt ngục,[7] sau đó bắt liên lạc và tham gia Ban khởi nghĩa Tỉnh ủy Hà Đông phụ trách phong trào cách mạng huyện Ứng Hoà và Mỹ Đức.[8] Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, ông phụ trách khởi nghĩa tỉnh Hà Đông.[5]

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được phân công lần lượt giữ các giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông,[9] Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam,[10] Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định và Khu ủy viên Khu 3.[11]Trong khoảng thời gian từ 1948 đến 1949, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, và sau đó là Bí thư Tỉnh ủy Hòa Bình.[10] Năm 1950, ông được bầu làm Phó Bí thư Liên khu ủy 3 kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu 3, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 3 (gồm các tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An, Hải Phòng, Thái Bình).[6] Trong khoảng năm 1952 đến 1954, ông giữ chức Bí thư Khu ủy Tả ngạn kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính và Chính ủy Quân khu Tả ngạn, theo sắc lệnh số 111/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 6 tháng 9 năm 1952[12] (gồm các tỉnh, thành: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Hải Phòng).

Sau Hiệp định Genève 1954 và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản kiểm soát miền Bắc, năm 1955, Đỗ Mười được phân công giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Hải Phòng kiêm Chủ tịch Ủy ban quân chính sau đó là Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hải Phòng (từ tháng 8 năm 1955) theo sắc lệnh số 234/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 5 tháng 8,[13] làm Trưởng ban chỉ đạo tiếp quản khu 300 ngày (nơi Pháp tập kết 300 ngày tại Hải Phòng trước khi rút khỏi hoàn toàn miền bắc Việt Nam).

Tháng 3 năm 1955, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Namkhóa II (19511960).[11]

Hoạt động trong Chính phủ

Năm 1956, Đỗ Mười được điều động giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công thương, kiêm Phó Trưởng ban Quản lý Thị trường Trung ương. Năm 1958, Bộ Công thương được tách ra thành Bộ phụ trách phần công tác thương nghiệp nội địa và Bộ phụ trách phần công tác ngoại thương.[14] Ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng phụ trách công tác thương nghiệp nội địa, về sau chính thức gọi là Bộ Nội thương.[15] Năm 1960, Đỗ Mười được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 3, đại biểu Quốc hội khoá II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ năm 1961 đến 1969, ông giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng phái đoàn thanh tra của chính phủ. Năm 1964, ông tái đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa 3. Năm 1969, Đỗ Mười được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng, Chủ nhiệm Văn phòng kinh tế Phủ Thủ tướng theo sắc lệnh số 123-LTC được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 18 tháng 8 cùng năm.[16] Năm 1971, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa 4, Phó Thủ tướng Chủ nhiệm Uỷ ban kiến thiết cơ bản.

Năm 1973, Đỗ Mười làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng khi sáp nhập Ủy ban Kiến thiết cơ bản và Bộ Kiến trúc. Ông được phân công làm Trưởng Ban xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương (phụ trách xây dựng đường ống dẫn dầu bí mật chi viện từ Bắc vào Nam) và chống phong toả Cảng Hải Phòng, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình lớn nhất Đông Nam Á khi đó.Năm 1975, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa 5.Thành viên Chính phủ năm 1976. Phó Thủ tướng Đỗ Mười đứng hàng đầu, thứ 2 từ trái sang.

Năm 1976, Đỗ Mười được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa 4, vào Quốc hội khóa 6, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 1976–1981. Năm 1977, Đỗ Mười làm Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo công thương nghiệp theo lối xã hội chủ nghĩa tại miền nam Việt Nam. Năm 1981, ông làm Đại biểu Quốc hội khoá VII, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam. Năm 1982, Đỗ Mười được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị khóa 5, tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Năm 1986, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị và Thường trực Ban Bí thư khóa 6, là đại biểu Quốc hội khóa 8. Năm 1988, ông trở thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tương đương chức danh Thủ tướng Việt Nam ngày nay.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Với trách nhiệm của 1 vị Thủ tướng Chính phủ thứ 3 tại Việt Nam khi giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Đỗ Mười đã hỗ trợ thực hiện chương trình cải cách.[17] Vào tháng 4 năm 1987nông dân ở miền Nam Việt Nam đã bắt đầu phản đối nông nghiệp tập thể, một số nông dân thậm chí đã chiếm đóng các văn phòng chính phủ.[18] Phản ứng của các cơ quan chức năng đối với sự kiện này có khác nhau; Đỗ Mười cho rằng năng suất thấp trong nông nghiệp là vấn đề mang tính tổ chức và không mang tính hệ thống.[18] Ông tuyên bố rằng năng suất đã bị ảnh hưởng bởi nguồn lực sẵn có, nhưng do nguồn lực thay đổi theo khu vực, giải pháp sẽ là quản lý phân cấp.[18] Các hợp tác xã sẽ dựa vào quy hoạch chi tiết của địa phương, được kiểm tra thường xuyên, với sự quản lý và tổ chức tốt.[18] Đỗ Mười tin rằng giải pháp này sẽ giải quyết các chi phí lãng phí cho nông nghiệp và việc phân bổ đất đai và sử dụng đất đai không phù hợp.[18]

Tổng Bí thư

Nhiệm kỳ 1 (1991 – 1996)

Đối nội

Tại Đại hội lần thứ 7Nguyễn Văn Linh từ chức Tổng Bí thư vì sức khỏe kém.[19] Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư tại phiên họp lần thứ nhất của Đại hội 7.[19] Đỗ Mười trở thành nhà lãnh đạo trên thực tế của những chính trị gia bảo thủ; các quan chức đảng, nhà tư tưởng và những người ủng hộ sự thống trị nền kinh tế của nhà nước đã ủng hộ ông.[19] Trong khi đó, Võ Văn Kiệt, thủ tướng, trở thành người đứng đầu phe cải cách, và Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước, một đại diện cho phe quân sự.[19]

Sự phân chia quyền hành pháp dẫn đến việc cải tổ Hiến pháp năm 1992[20]. Hiến pháp đã giảm quyền hạn của Tổng Bí thư và trong khi hiến pháp coi Tổng Bí thư là lãnh đạo của đảng, ông không có quyền hành pháp hoặc lập pháp.[20] Tuy nhiên, Điều 4 nhấn mạnh vai trò của Đảng Cộng sản là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tạo cho Tổng Bí thư quyền điều chỉnh chính sách tổng thể.[20] Hiến pháp 1992 đã dẫn đến sự biến mất của những nhân vật cứng rắn trong đảng như Lê Duẩn.[21] Theo lời của chính Đỗ Mười: “Trong việc lãnh đạo xây dựng bộ máy nhà nước và bổ nhiệm các quan chức nhà nước, Đảng đưa ra quan điểm, nguyên tắc và định hướng hướng dẫn liên quan đến việc tổ chức bộ máy nhà nước, [Đảng] xem xét và đưa ra những gợi ý về các điểm mà Nhà nước nêu ra, sau đó để Nhà nước ra quyết định.”[21]

Tại Đại hội 7, phần lớn ghế của Bộ Chính trị đã thuộc về những người theo phe bảo thủ.[22] Cùng với nhóm quân sự/an ninh mới nổi trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, các nhà lãnh đạo mới của đảng tập trung vào an ninh và tính ổn định hơn các lãnh đạo tiền nhiệm.[22] Năm 1994, 4 thành viên mới được bổ nhiệm vào Bộ Chính trị, tất cả đều phản đối cải cách cấp tiến.[23] Mặc dù được thực hiện một cách thận trọng, việc cải tạo kinh tế đã chứng minh sự thành công và tăng trưởng kinh tế cao giữa các Đại hội Đảng lần thứ 7 và thứ 8 trung bình là 8%/năm.[23] Tốc độ tăng trưởng này không thể duy trì bền vững trong thời gian dài nếu không gia tăng cải cách. Tuy nhiên, phe bảo thủ tin rằng điều này sẽ dẫn đến sự bất ổn và thậm chí có thể đe dọa sự cầm quyền của đảng.[24] Phe cải cách thì hỗ trợ thay đổi, tin rằng tăng trưởng nhanh hơn sẽ giúp tăng cường an ninh.[24] Tuy nhiên, với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào cuối những năm 1990, tốc độ tăng trưởng giảm mạnh xuống còn 2%.[24]

Cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng xảy ra giữa Đại hội Đảng lần thứ 7 và thứ 8, làm tê liệt sự lãnh đạo đất nước.[25]Trong khi các nhà cải cách do Võ Văn Kiệt lãnh đạo muốn đưa Việt Nam gia nhập nền kinh tế toàn cầu bằng các phương tiện tự do tân tiến – có nghĩa là tách biệt hoàn toàn với kinh tế kiểu Lenin – trong khi những người bảo thủ muốn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bị chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam, lấy nguyên mẫu từ thành công của mô hình Chaebol của Hàn Quốc.[25] Cách tiếp cận nhằm đạt đồng thuận của đảng đã nhanh chóng chấm dứt. Trong một bức thư năm 1995 gửi Bộ Chính trị, sau đó bị rò rỉ đến cánh báo chíVõ Văn Kiệt đã viết “để huy động trí tuệ của tất cả mọi lực lượng trong Đảng, phải có dân chủ không thỏa hiệp.”[25]Võ Văn Kiệt đã phê phán phe bảo thủ, tuyên bố rằng kinh tế nhà nước phải thu hẹp lại để phát triển kinh tế tư nhân. Ông nói rằng Việt Nam phải từ bỏ quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, ngăn chặn việc Đảng Cộng sản can thiệp vào các vấn đề của chính phủ và phải đặt vấn đề quốc gia lên trên các vấn đề của chính phủ.[25]Đáp lại, những người bảo thủ đã cử Nguyễn Hà Phan đi các tỉnh khắp đất nước để chỉ trích Võ Văn Kiệt rằng ông ta đã xa rời khỏi chủ nghĩa xã hội.[25] Khi cuộc đấu tranh quyền lực tiếp tục, Tổng Tham mưu trưởng Đào Đình Luyện bị mất chức vì ủng hộ cải cách và Nguyễn Hà Phan đã bị loại ra khỏi Bộ Chính trị và bị quản thúc tại gia vào tháng 4 năm 1996.[26]

Những người bảo thủ đã khởi xướng một chiến dịch do Đào Duy TùngThường trực Bộ Chính trị tổng biên tập Tạp chí Cộng sản đứng đầu.[26] Nhờ có sự ủng hộ trong đảng, Đào Duy Tùng đã lấy được quyền kiểm soát chưa từng có đối với sắp xếp nhân sự và dự thảo báo cáo chính trị cho Đại hội lần thứ 8, tuy nhiên, tại cuộc họp lần thứ 10 của Đại hội 7, ông bị buộc tội “hành vi phản dân chủ”, lạm dụng quyền lực và không được tái đắc cử vào Bộ Chính trị, chỉ chiếm 10% số phiếu.[27] Thất bại của Đào Duy Tùng, người được chọn kế nhiệm Đỗ Mười, đã dẫn đến một sự thỏa hiệp: Tổng Bí thư, Thủ tướng và Chủ tịch nước đã được tái đắc cử tại Đại hội 8 mà không có đa số phiếu vì cuộc đấu tranh quyền lực giữa phe cải cách và phe bảo thủ[27]. Tuy nhiên, thay đổi đáng kể trong lãnh đạo đảng đã xảy ra và lần đầu tiên trong nhiều năm, các nhân vật trung ương bị mất ghế cho các nhân vật và các quan chức cấp tỉnh – chỉ có 8,9% các thành viên của Ban Chấp hành Trung ương mới đến từ bộ máy trung ương, trong khi 67% các thành viên mới có xuất thân cấp tỉnh hoặc chính phủ.[27]

Đối ngoại

Tại hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương khóa 7 (từ ngày 14 tới 18 tháng 7 năm 1992), Đỗ Mười tái khẳng định tầm quan trọng của chính sách đối ngoại của đảng. Ông nhấn mạnh thêm “chính sách đối ngoại đóng một vai trò ngày càng quan trọng… Chúng ta nhận ra rằng trong thời đại hiện tại, không có quốc gia nào – bất kể mức độ phát triển cao thế nào – có thể đóng cửa [trước] thế giới. Với quốc gia có điểm khởi đầu rất nghèo nàn như Việt Nam, điều rất quan trọng là phải nỗ lực để tiếp cận được các nguồn lực bên ngoài.”[28] Trong khi tìm kiếm quan hệ với các nước phương Tây và tư bản, Đỗ Mười khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ tốt đẹp với “phong trào xã hội chủ nghĩa vì chủ quyền quốc gia, liên kết với Phong trào không liên kết và tất cả các lực lượng hòa bình và tiến bộ khác trên toàn thế giới.”[28] Ông bày tỏ về sự lo ngại của đảng rằng chính sách đối ngoại cởi mở sẽ làm suy yếu an ninh quốc gia: “Trong vài năm qua, các lực lượng thù địch đã không ngừng thực hiện các hành động phá hoại nước ta. Tuy nhiên, các mưu đồ và hành động tối tăm của chúng đều bị người dân ta vạch trần.”[28] Ý ông nói rằng trong khi Việt Nam sẽ tìm cách tăng cường sự hiện diện trên bình diện quốc tế, những mối quan hệ này sẽ không được phép thay đổi bản chất của chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.[29]

Sau khi cuộc đảo chính tháng 8 thất bại tại Liên Xô và dẫn đến giải thể đất nước này, Đỗ Mười chính thức thừa nhận những thay đổi, nói với một nhóm cán bộ “Chủ nghĩa xã hội không còn tồn tại ở Liên Xô và các hoạt động của Đảng Cộng sản đã bị cấm.”[30]. Trong khi bày tỏ thái độ tiếc thương với việc Liên Xô bị giải thểViệt Nam công nhận Cộng đồng các Quốc gia Độc lập ngày 27 tháng 12 năm 1991 và xây dựng quan hệ với các quốc gia này.[31]

Vào ngày 27 tháng 6, sau cuộc bầu cử đưa Đỗ Mười lên làm Tổng Bí thưGiang Trạch DânTổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã dùng dịp này để chúc mừng Đỗ Mười và tuyên bố rằng ông hy vọng quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ được bình thường hóa, ở quy mô nhà nước cũng như quy mô đảng.[32]Trong một loạt các cuộc họp vào tháng 7, mối quan hệ giữa hai nước tiếp tục được cải thiện và Lê Đức Anh được Đảng Cộng sản Trung Quốc mời sang thăm Trung Quốc.[32] Bình thường hóa quan hệ xảy ra vào tháng 11 khi Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt đến thăm Trung Quốc và tổ chức các cuộc thảo luận với Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng sau đó đã dẫn đến một hiệp nghị gồm 11 điểm.[33] Các mối quan hệ tiếp tục được cải thiện vào năm 1992, khi một số cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc gặp nhau.[33]

Với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông ÂuĐặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc, đã bắt đầu ủng hộ việc thành lập một liên minh xã hội chủ nghĩa mới gồm Trung QuốcLiên XôBắc Triều TiênCộng hòa Nhân dân Mông Cổ và Việt Nam.[34] Một báo cáo lưu hành tại Trung Quốc vào tháng 8 năm 1991 đã hỗ trợ hình thành một liên bang xã hội chủ nghĩa quốc tế rời rạc của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.[34] Đảng Cộng sản Việt Nam chia sẻ tình cảm của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chuyển sang tăng cường quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại; quan hệ với Cuba đã được nhấn mạnh và Việt Nam đã ký một hiệp định kinh tế và thương mại với Bắc Triều Tiên vào năm 1991.[35] Tính khả thi của một liên bang xã hội chủ nghĩa lỏng lẻo sẽ phụ thuộc vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại bỏ qua những khác biệt của họ và nhấn mạnh lợi ích chung; tuy nhiên, căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn gây nghi ngờ.[35] Với sự tan rã của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991Trung Quốc đã từ bỏ ý tưởng này.[36]

Trong khi quan hệ giữa Việt Nam và Lào đã không còn ở mức “đặc biệt” sau khi Việt Nam rút quân, hai nước vẫn chia sẻ ý thức hệ.[37] Đỗ Mười và Võ Văn Kiệtđã thực hiện các chuyến đi riêng rẽ đến Lào vào năm 1992. Đỗ Mười đã dẫn đầu phái đoàn đến viếng Kaysone Phomvihane, cố Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (LPRP).[38] Tuy nhiên, tại Đại hội LPRP lần thứ 5, các nhà lãnh đạo Lào đã khẳng định Trung Quốc là đối tác nước ngoài quan trọng nhất của nước này.[37]

Vào tháng 2 năm 1992, Trung Quốc đã thông qua một đạo luật tuyên bố sở hữu toàn bộ Biển Đông.[39] Khi vấn đề này được thảo luận tại Quốc hội Việt Nam, một cuộc tranh luận riêng tư, căng thẳng đã diễn ra.[39] Trong khi một số người kêu gọi trừng phạt kinh tế hoặc thậm chí can thiệp quân sự, theo lời khuyên của Ban Đối ngoại Trung ương, một tuyên bố được thông qua như một cách phản ứng tốt nhất cho vấn đề này.[39] Nguyễn Văn Linh đến thăm Trung Quốc để thảo luận về đạo luật mới, nhưng trong chuyến thăm, các quan chức Trung Quốc đã ký một thỏa thuận với Tập đoàn Năng lượng Crestone để thăm dò trên thềm lục địa của Việt Nam.[39] Tại hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương khóa 7, những lời chỉ trích Trung Quốc rất dữ dội và Đỗ Mười đã cáo buộc Trung Quốc theo chủ nghĩa bá quyền.[39] Năm 1995, Đỗ Mười dẫn đầu một phái đoàn sang Trung Quốc,[40] gặp Giang Trạch Dân, Lý Bằng và những người khác.[41]

Nhiệm kỳ 2 (1996 – 1997)

Đối nội

Trước Đại hội Đảng lần thứ 8, sự bế tắc giữa phe bảo thủ và cải cách vẫn tiếp tục.[42] Trong khi những tin đồn cho rằng Đại hội Đảng lần 8 sẽ bị trì hoãn, những người bảo thủ và các nhà cải cách đã có thể thỏa hiệp tại hội nghị thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương khóa 7.[42] Ban Chấp hành Trung ương khóa 8 được Quốc hội bầu và 54% số thành viên được bầu là đương nhiệm.[43] Trong số 19 thành viên, 9 người đã từ chức tại Đại hội Đảng lần thứ 8.[42] Ban Bí thư đã bị bãi bỏ tại Đại hội này và được thay thế bởi Thường vụ Bộ Chính trị; Đỗ Mười là một trong năm thành viên của cơ quan mới này.[42] Trong khi Thường vụ Bộ Chính trị ban đầu được hình thành để thay thế Bộ Chính trị là cơ quan ra quyết định cao nhất của đảng, sự phản đối từ phía Ban Chấp hành Trung ương cáo buộc Bộ Chính trị hành xử theo kiểu phản dân chủ đã khiến Thường vụ Bộ Chính trị có quyền hạn không khác mấy so với Ban Bí thư trước đây.[44] Đại hội Đảng lần thứ 8 thất bại trong việc đáp ứng cuộc đấu tranh quyền lực tiếp diễn trong Ban Chấp hành Trung ương khóa 7.[44] Sau này, Đỗ Mười nói với các phóng viêntrong Quốc hội: “Tôi nghĩ chúng ta sẽ phải đẩy nhanh tiến độ phát triển. Phát triển chậm có nghĩa là đói, phải không nào? Nhưng đồng thời tôi muốn thấy hiệu quả và sự ổn định. Nếu chúng ta chạy quá nhanh và có vật cản trên đường thì có thể bị ngã.”[44]

Đối ngoại

Đỗ Mười đã tham dự Đại hội lần thứ sáu của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tổ chức năm 1996).[45]

Từ chức

Tại Đại hội Đảng lần thứ 8 ngày 26 tháng 12 năm 1997, Đỗ Mười quyết định từ giã chức vụ Tổng Bí thư kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, thay thế ông là Lê Khả Phiêu.[46] Theo Carlyle Thayer: “Hội nghị trung ương 4 đã kết thúc giai đoạn chuyển đổi lãnh đạo đã được tiến hành từ Đại hội Đảng lần thứ 8 năm 1996, nhưng không giải quyết được sự phân hóa bên trong Đảng giữa hai phe cải cách và bảo thủ.”[46] Đỗ Mười, cùng với Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt, được bổ nhiệm vào Hội đồng Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, nơi ông ở lại cho đến khi giải thể ban này vào năm 2001.[47] Sau khi từ chức, ông vẫn là một nhân vật có ảnh hưởng trong chính trị Việt Nam và tạo nên tác động đáng kể đối với các quyết định của Đảng Cộng sản.[48]

Qua đời

Ông qua đời lúc 23 giờ 12 phút ngày 1 tháng 10 năm 2018 khi đang điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108,[49][50] không lâu sau gần 2 tuần kể từ sự ra đi của chủ tịch nước Trần Đại Quang.

Nguyện vọng của con cháu là đưa ông về quê nhà để an tángTrương Hòa Bình – Phó Thủ tướng Chính phủ, cũng là trưởng BTC lễ tang – đã được gia đình ủy quyền lo việc này. Lễ viếng từ 7h ngày 6 đến 7h30 ngày 7 tháng 10 tại Nhà tang lễ Quốc gia, Hà Nội (nơi đặt linh cữu của ông) và tại Hội trường Thống Nhấttheo nghi thức quốc tang. Lễ truy điệu từ 9h ngày 7 tháng 10, sáng cùng ngày linh cữu được đưa ra xe tang để đưa về quê nhà theo nguyện vọng của gia đình.

Tại quê hương ông, lễ thăm viếng đã được diễn ra vào trưa cùng ngày tại quê nhà với sự có mặt của tất cả các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo đảngnhà nước và gia quyến. Lúc 13h00 cùng ngày, linh cữu của Đỗ Mười được hỏa táng và sau đó tro cốt của ông được an táng tại quê hương Đông Mỹ, Thanh TrìHà Nội với địa điểm an táng là 1 khu đất rộng 1100m2.[51][52]

Nơi ông an táng đã được đổ bê tông quây móng khang trang để phục vụ người dân gần xa đến viếng. Không lâu sau đó, khu nhà lưu niệm sẽ được xây tại đây.[53]

Phong cách lãnh đạo

Dưới thời Đỗ Mười, ít nhất ba phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương được tổ chức mỗi năm.[54] Ông đã đưa trật tự, thói quen và khả năng dự đoán vào hệ thống chính trị của đảng.[54] Mỗi hội nghị tập trung vào các vấn đề chính và các cuộc thảo luận diễn ra trong môi trường chuyên sâu và quyết liệt.[54]Dưới sự chỉ đạo của Đỗ Mười, Ban Chấp hành Trung ương tập trung vào các vấn đề quốc gia chứ không phải về đảng như dưới thời Nguyễn Văn Linh.[55]Theo Louis Stern: “[Đỗ] Mười đã đưa vào phiên họp toàn thể một quá trình làm việc theo từng nhóm nhỏ trong việc chuẩn bị xem xét chính sách cụ thể, [từ đó] thu hút sự tham gia đóng góp ý kiến từ các chuyên gia kỹ thuật, ‘những nhóm nhà khoa học’ không xác định, ‘giới trí thức trong và ngoài nước’ (có thể đang ám chỉ các nhà đầu tư, doanh nhân và nhà kinh tế Việt Nam sinh sống tại hải ngoại), các cựu chiến binh, cũng như theo phân loại thông thường gồm cán bộ, đảng viên và đại diện Đảng ủy.”[55] Các nhóm này được trao quyền chuẩn bị và nhận báo cáo dành cho Ban Chấp hành Trung ương trước và tiến hành chuẩn bị các đề xuất hoặc nhận xét về các tài liệu cụ thể được đưa ra trong hội nghị.[55]

Trong suốt thời kỳ lãnh đạo của mình, Đỗ Mười đã cố gắng dẫn dắt các cuộc tranh luận của Ban Chấp hành Trung ương đến sự đồng thuận.[55] Ông bỏ qua các vấn đề gây tranh cãi nhằm tránh sự chia rẽ trong Ban Chấp hành.[55] Khi không đạt được đồng thuận, như trường hợp của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa 7 khi nó không đưa ra được một chỉ dẫn phù hợp theo hướng công tác tư tưởng, nhiệm vụ sửa đổi và cải thiện các quyết sách của Ban Chấp hành Trung ương sau đó được chuyển sang cho Bộ Chính trị khóa 7.[55] Theo giáo sư Alexander Vuving của Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye, sự lãnh đạo của Đỗ Mười không có chiều sâu triết lý: có lúc uyển chuyển, thực tế nhưng nhiều lúc giáo điều, cứng nhắc mà không theo một quy luật nào.[56]

Ngược lại với Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười đã tìm kiếm nền tảng chung với Ban Chấp hành Trung ương hơn là tự vận động cho những quan điểm của riêng minh.[57] Trong bài phát biểu và trong các cuộc tranh luận, Đỗ Mười ít gây tranh cãi và khi phát biểu, ông ủng hộ các nguyên tắc truyền thống của Đảng Cộng sản.[57] Theo Louis Stern, “Không giống như Nguyễn Văn Linh, [Đỗ] Mười không tìm cách vạch ra các giải pháp thay thế độc đáo cho các vấn đề dai dẳng, đề xuất các cách tiếp cận độc đáo cho các vấn đề, hoặc lập ra một sự đồng thuận mới về các vấn đề quan trọng. Ít cứng rắn hơn người tiền nhiệm Nguyễn Văn Linh trong việc thúc giục người khác ủng hộ quan điểm của mình, [Đỗ] Mười thiên về khía cạnh bảo thủ hơn đối với một số vấn đề,” chẳng hạn như đảm bảo sự thống trị của nhà nước đối với nền kinh tế và duy trì quyền kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ của đảng.[57]

Quan điểm chính trị

Bộ trưởng Đỗ Mười (áo đen) và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Triển lãm Tiểu thủ công nghiệp ngày 21/2/1958.

Đỗ Mười tin vào “tiến trình tiến hóa của cải cách chính trị” bắt đầu tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI.[58] Cải cách trong lĩnh vực kinh tế là vô cùng quan trọng, trong khi cải cách chính trị là thứ yếu.[58] Tuy nhiên, ông tin rằng việc thực hiện cải cách kinh tế thường làm bộc lộ những điểm yếu trong hệ thống chính trị.[58] Đỗ Mười không muốn biến đổi hệ thống chính trị, chỉ muốn cải thiện nó.[58] Thay vào đó, những thay đổi đối với luật pháp và cơ chế điều hành nên căn cứ vào ý thức hệ của chủ nghĩa Marx – Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.[58] Ông phản đối cái mà ông gọi là “những lý lẽ mị dân” kêu gọi chấm dứt “sự lãnh đạo độc tôn” của đảng và “trả lại tất cả quyền lực cho người dân dưới cái cớ đổi mới dân chủ.”[59] Ông ủng hộ dân chủ hóa quá trình ra quyết định của đảng, đồng thời rất tin tưởng sâu sắc vào nguyên tắc tập trung dân chủ.[60]

Đỗ Mười ủng hộ ý tưởng bán cổ phần ưu đãi trong doanh nghiệp nhà nước cho người lao động, phương án chia lợi nhuận, “và bán phần trăm doanh nghiệp nhà nước cho ‘tổ chức và cá nhân bên ngoài’ để tạo điều kiện cho người lao động trở thành chủ sở hữu thực sự của doanh nghiệp.”[60] Ông thường chỉ ra tầm quan trọng của công nghiệp hóa không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là một sự thay đổi kinh tế xã hội toàn diện.[60] Ông cũng nhấn mạnh tính cần thiết phải “bắt kịp tiến bộ thế giới” bằng cách thúc đẩy các chiến lược kinh tế phát huy thế mạnh của Việt Nam.[60] Ông tuyên bố rằng chương trình công nghiệp hóa sẽ được quản lý theo cơ chế thị trường, nhưng khu vực nhà nước sẽ hướng dẫn và kiểm soát quá trình thị trường hóa.[60]

Đỗ Mười,ủng hộ và không bao giờ phản đối tự do báo chítự do tư tưởng, những ông sẵn sàng “tấn công” những người chống lại mục tiêu xã hội chủ nghĩa.[61] Tại Đại hội Nhà văn lần thứ 4, Đỗ Mười tuyên bố một số tác phẩm văn học nhất định đã “bôi nhọ Đảng và lãnh đạo nhà nước và làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và nhà nước.”[61] Trong một cuộc họp báo vào năm 1992, ông nói rằng “thông tin phải được định hướng” và báo chí vẫn phải “là lực lượng chính trên mặt trận ý thức hệ và văn hóa.”[62] Ông tiếp tục chỉ trích các phương tiện truyền thông đã lợi dụng quyền tự do báo chí để chỉ trích Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Vào năm 1993, Đỗ Mười tuyên bố rằng báo chí đã bị “thương mại hóa” do các cải cách kinh tế.[62]

Di sản

Đỗ Mười, Bí thư khu ủy Khu Tả Ngạn và Đặng Tính, Tư lệnh khu Tả Ngạn năm 1952.

Dưới góc nhìn của bên ngoài, Đỗ Mười là một nhà lãnh đạo không được đánh giá cao, nhưng trong đảng, tầm vóc của ông rất lớn, ông được các quan chức trong Đảng tôn xưng là Người cha già của nền chính trị Việt Nam bởi giai đoạn ông nắm quyền là thời điểm vô cùng khó khăn đối với Đảng.

Sau khi Liên Xô sụp đổ nhiều ý kiến trong và ngoài nước,thậm chí ngay trong chính nội bộ Đảng đã dấy lên hiềm nghi về tính ưu việt và sự lãnh đạo độc tôn của Đảng, phong trào này lan nhanh làm xói mòn lòng tin,và suy giảm sức chiến đấu của một bộ phận cán bộ Đảng viên thời bấy giờ, tác động mạnh mẽ đến sự sống còn của Đảng, trước tình cảnh cấp bách này, khi Chủ nghĩa xét lại đang lan rộng, Đỗ Mười đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc ổn định trật tự, củng cố niềm tin và dần dẫn dắt Đảng vượt qua mọi khó khăn, tránh được một cuộc khủng hoảng chính trị theo hiệu ứng domino sau sự sụp đổ tan rã của Liên xô và khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu.[63]Đồng chí Đỗ Mười và các đồng chí trong khu Tả Ngạn năm 1952

Thế giới phương Tây có ít tác phẩm viết về ông, hoặc những đóng góp của ông.[63] Một cách giải thích cho việc này là: nghiên cứu về các nhà lãnh đạo chính trị đã trở nên lỗi thời trong bộ môn khoa học chính trị.[63] Những nguồn tin từ Việt Nam đã không nêu rõ sự tham gia của ông trong quá trình cải cách và các hoạt động trong đảng.[63] Theo Sophie Quinn – Judge, nhà lãnh đạo Đỗ Mười “ghi dấu ấn bằng việc khẳng định lại tính ưu việt của Đảng Cộng sản và quá khứ anh hùng của nó. Đó là vào năm 1991, khi Tư tưởng Hồ Chí Minh – những học thuyết được trích xuất từ các tác phẩm của Hồ Chí Minh – trở thành một trong các ý thức hệ chính của quốc gia, cùng với chủ nghĩa Marx – Lenin.”[63]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, cựu Vụ trưởng Nghiên cứu thuộc Ban Dân vận Trung ương cho rằng: “Một trong hai sự kiện nổi trội liên quan đến ông Đỗ Mười (cùng với việc dự Hội nghị Thành Đô) là chủ trương đánh tư sản hay còn gọi là cải tạo công thương nghiệp. Hệ lụy của việc cải tạo công thương nghiệp rất bi thảm, khốc liệt, để lại tai họa rất lớn cho dân tộc. Nhưng có vẻ là trong nhiều năm, ông Đỗ Mười tự hào về mình đã làm được việc kinh thiên động địa.”[64] Nhưng nhiều ý kiến khác lại cho rằng, đó là sự sai lầm của cả một tập thể lãnh đạo của cả một thời đại chứ không thể quy kết mọi hệ lụy của việc tiến hành cải tạo công thương nghiệp miền Nam sau 1975 là trách nhiệm của cá nhân ông Mười, xét trên bình diện khách quan Đỗ Mười chỉ là người chấp hành các chỉ thị, nghị quyết của tập thể lãnh đạo giao phó, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận ông Mười với tư cách là Tư lệnh cải tạo Công Thương Nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công cuộc cải cách rất quyến liệt và cứng rắn.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhìn nhận Đỗ Mười là một trong những người góp công lớn để Việt Nam vượt qua khủng hoảng kinh tế cuối những năm 1980[65], đồng thời ông cũng đồng tình với các quan điểm cho rằng chủ trương “cải tạo công thương” là của tập thể lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, và “không nên quy trách nhiệm cá nhân cho ông Đỗ Mười vì đó là sai lầm của một thời kỳ.”[64] Vũ Quang Minh, Đại sứ Việt Nam tại Campuchia nhận xét giai đoạn Đỗ Mười làm Tổng Bí thư là lúc Việt Nam có những dấu mốc lịch sử “có ý nghĩa chiến lược sống còn và những đột phá chưa từng có về đối ngoại.”[66]

Gia đình

Đỗ Mười có vợ là bà Tạ Thị Thanh (đã qua đời), bà quê ở xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.[67] Bà là người vợ thứ hai của ông được ông Nguyễn Văn Trân (1916–2018), nguyên Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ làm mối, sau khi người vợ đầu của ông mất những năm ông hoạt động ở khu Tả ngạn sông Hồng.

Theo báo chí và các phương tiện truyền thông chính thức của Việt Nam, Đỗ Mười và người vợ thứ của ông có hai người con, một trai một gái. Con trai ông tên là Nguyễn Duy Trung là người đã thay mặt gia quyến đọc lời cảm tạ trong lễ truy điệu của bố vào ngày 7 tháng 10 năm 2018.

Danh hiệu

Tham khảo

  1. ^ Chức vụ này đã bị mất đi và sáp nhập với danh nghĩa Thủ tướng Chính phủtừ năm 1992.
  2. ^ “Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười trong mắt chú họ, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Thọ Chân”VietNamNetLưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập 28 tháng 1 năm 2021.
  3. ^ Trích phim tài liệu “Đồng chí Đỗ Mười”, Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, năm 2002
  4. ^ “Thông cáo đặc biệt về tổ chức lễ tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười”Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt NamLưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2020. Truy cập 28 tháng 1 năm 2021.
  5. a ă Thông tấn xã Việt Nam 2000, tr. 430.
  6. a ă Đinh Văn Liên & Phạm Ngọc Bích 2000, tr. 217.
  7. ^ Lê Văn Ba 2006, tr. 21.
  8. ^ Nguyễn Thị Thu Hiền (6 tháng 10 năm 2018). “Tổng bí thư Đỗ Mười và cuộc vượt ngục lịch sử”Di tích Nhà tù Hỏa LòBản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  9. ^ Nguyễn Phi Hồng 1990, tr. 535.
  10. a ă Lê Hải Triều 2006, tr. 88.
  11. a ă Dương Đức Quảng 2008, tr. 599.
  12. ^ Hồ Chí Minh (6 tháng 9 năm 1952). “Sắc lệnh 111/SL”Cơ sở dữ liệu Văn bản Pháp luật Trung ươngBản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  13. ^ Hồ Chí Minh (5 tháng 8 năm 1955). “Sắc lệnh 234/SL”Thư viện Pháp luậtBản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  14. ^ Nghị quyết Quốc hội khóa 8 ngày 29 tháng 4 năm 1958.
  15. ^ Thông tư 253-TN ngày 22 tháng 04 năm 1959.
  16. ^ Trần Viết Hoàn (3 tháng 9 năm 2007). “Nơi ấy, những ngày cuối của Bác”Báo Quảng NinhBản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  17. ^ Stern 1993, tr. 42.
  18. a ă â b c Stern 1993, tr. 46.
  19. a ă â b Abrami 2007, tr. 15.
  20. a ă â Abrami, Malesky & Zheng 2008, tr. 31.
  21. a ă Abrami, Malesky & Zheng 2008, tr. 32.
  22. a ă Guo 2006, tr. 75.
  23. a ă Largo 2002, tr. 4.
  24. a ă â Largo 2002, tr. 5.
  25. a ă â b c Largo 2002, tr. 7.
  26. a ă Corfield 2008, tr. 119.
  27. a ă â Largo 2002, tr. 8.
  28. a ă â Frost 1993, tr. 22.
  29. ^ Frost 1993, tr. 23.
  30. ^ Frost 1993, tr. 28.
  31. ^ Frost 1993, tr. 28–29.
  32. a ă Frost 1993, tr. 35.
  33. a ă Frost 1993, tr. 36.
  34. a ă Frost 1993, tr. 37.
  35. a ă Frost 1993, tr. 38.
  36. ^ Thayer & Amer 1999, tr. 58.
  37. a ă Johnson 1993, tr. 80.
  38. ^ Johnson 1993.
  39. a ă â b c Thayer & Amer 1999, tr. 151.
  40. ^ Vang 2008, tr. 585.
  41. ^ Vang 2008, tr. 278.
  42. a ă â b Abuza 1998, tr. 1111.
  43. ^ Abuza 1998, tr. 1110.
  44. a ă â Abuza 1998, tr. 1112.
  45. ^ Wan 1997, tr. 37.
  46. a ă Elliott 2012, tr. 183.
  47. ^ Abuza 2001, tr. 19.
  48. ^ Elliott 2012, tr. 184.
  49. ^ “Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười từ trần”Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 2 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2018.
  50. ^ Viết Tuân (1 tháng 10 năm 2018). “Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười qua đời”VnExpress – Tin nhanh Việt NamBản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2018. Truy cập 2 tháng 10 năm 2018.
  51. ^ Ban Thời sự (3 tháng 10 năm 2018). “Tổ chức quốc tang nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười trong hai ngày”VnExpress – Tin nhanh Việt NamBản gốclưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập 28 tháng 1 năm 2021.
  52. ^ P.T (3 tháng 10 năm 2018). “Tổ chức Quốc tang nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười trong 2 ngày 6, 7/10”Báo điện tử Dân TríBản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2018. Truy cập 28 tháng 1 năm 2021.
  53. ^ Phan Hậu (4 tháng 10 năm 2018). “Làng quê nơi cố Tổng bí thư Đỗ Mười sẽ yên nghỉ”Báo Thanh NiênBản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập 28 tháng 1 năm 2021.
  54. a ă â Stern 1995, tr. 919.
  55. a ă â b c d Stern 1995, tr. 920.
  56. ^ “Giới quan sát nói ông Đỗ Mười vừa bảo thủ vừa đổi mới”BBC NewsBBC. 2 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập 3 tháng 10 năm 2018.
  57. a ă â Stern 1995, tr. 920–921.
  58. a ă â b c Stern 1995, tr. 915.
  59. ^ Stern 1995, tr. 916.
  60. a ă â b c Stern 1995, tr. 918.
  61. a ă Stern 1993, tr. 71.
  62. a ă Abuza 2001, tr. 145.
  63. a ă â b c Quinn-Judge 2006, tr. 288.
  64. a ă “Hai chiều ý kiến về cựu TBT Đỗ Mười”BBC NewsBBC. 25 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 9 năm 2018. Truy cập 2 tháng 10 năm 2018.
  65. ^ “Ông Đỗ Mười và dấu ấn cuộc chuyển đổi tem phiếu sang cơ chế thị trường”Báo điện tử Dân TríLưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2018. Truy cập 6 tháng 10 năm 2018.
  66. ^ “Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười qua đời”BBC NewsBBC. 2 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2018.
  67. ^ Hương Giang (2 tháng 10 năm 2018). “Những câu chuyện bình dị, gần dân của cố Tổng Bí thư Đỗ Mười”. Báo Thanh tra. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2020. Truy cập 28 tháng 1 năm 2021.
  68. ^ Phương Mai; Văn Khương; Nguyễn Thắng (28 tháng 4 năm 2018). “Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng”. Báo điện tử của Đài Truyền hình Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2018. Truy cập 28 tháng 1 năm 2021.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Báo và tạp chí[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.