Lê Học Lãnh Vân nhắc lại chuyện xưa tích cũ thời Đ.M :” ngăn sông cấm chợ “(ưu việt của kinh tế chỉ huy,tập trung CS)

NGĂN SÔNG CẤM CHỢ

Lê Học Lãnh Vân

Đuôi con sông Cửu Long khi đổ ra biển tạo nên một vùng đất phì nhiêu bậc nhất thế giới. Nơi đó, đất và nước hòa vào nhau tạo nên môi trường cực kỳ giàu có về dinh dưỡng, dưới sông tôm cá vẫy vùng, trên bờ hạt thóc rơi xuống là thành cây lúa trĩu bông, dọc sông ven biển rừng tràm, rừng đước mênh mông… Hàng trăm năm nay, nói tới xứ sở này người ta nói tới những cánh đồng cò bay thẳng cánh chó chạy cong đuôi do lưu dân người Việt và người Hoa cùng nhau mở cõi để lại sự trù phú cho cháu con…

Gia đình Vương có mười mấy mẫu ruộng dưới quê. Sau thế chiến thứ hai ông bà Trọng tản cư lên Sài Gòn để ruộng đất lại cho bà con làm lúa sinh sống.

See the source image

Vùng đất vựa lúa gạo của thế giới đó, từ khi thay đổi chế độ, thiếu gạo trầm trọng. Không đủ gạo ăn, dân chúng phải ăn cơm độn với bo-bo, khoai lang, khoai mì. Thịt cá là thứ xa xỉ, món ăn hàng ngày gồm canh rau muống loãng, nước muối hay nước mắm pha loãng rồi thêm muối vào. Rất lâu mới có một buổi ăn có vài lát thịt nhỏ xíu, mỏng tanh… Những người trẻ tuổi như Vương bất chấp các bữa ăn thiếu dinh dưỡng, vẫn phây phây hồn nhiên lớn! Nhưng lứa tuổi cha mẹ anh, sáu mươi trở lên, sức khỏe suy yếu đi rõ rệt. Răng và bộ máy tiêu hóa không quen với hạt bo-bo cứng, vị giác thay đổi quá lớn so với sự thích nghi của tuổi già. Mối lo về tương lai của con cháu bào mòn tinh thần và thể chất…

Những người bà con dưới quê, trước đây thỉnh thoảng được ông bà Trọng chu cấp, giờ lại đội gạo, xách thịt cá lên Sài Gòn tiếp tế. Họ cũng nghèo, một lần đội chừng mười, mười lăm ký gạo, vài ký thịt gà, thịt heo hay cá lóc kho mặn đựng trong vài lon guigoz. Mỗi chuyến bà con dưới quê lên thăm là một lần bà Trọng đỡ phải lo từng bữa ăn, thấy rõ bà đỡ hốc hác hơn một chút. Mấy chị em bà con dưới quê biết mình có ích cho bà con Sài Gòn nên rất vui. Vừa tới cổng nhà, họ la lên chị Hai ơi, mấy em tới rồi, có gạo nè, có thịt nè, đỡ đói rồi! Bà Trọng trong nhà hối Vương chạy ra mở cửa mau, để tụi nó đứng ngoài đường la lối vậy coi chừng bị cách mạng ghét. Tụi nó la như vậy không khác bôi tro trát trấu lên mặt chính quyền.

See the source image

Một ngày kia, gia đình Vương nghe tiếng rên rỉ, thở than ngoài cổng. Chạy ra, thấy hai mẹ con người em dưới quê lếch thếch tay không. Tụi nó hổng cho chở đi đâu hết chị Hai ơi. Tụi em đi ba người, ôm hai chục ký gạo, kho ba lon thịt cá kho, bị chận lại hết. Tụi nó nói từ nay không cho đem gạo, thịt qua chỗ khác. Em để thằng Nê ở lại chở gạo với hai lon thịt kho về, em với thằng Cọp lên đây, được cho đem một lon. Tụi nó nói lần này cho chở lần sau tịch thu luôn.

Đó là lúc ba bốn năm sau ngày thống nhất, dự trữ Miền Nam đã hết. Chính phủ cấm người dân đem thực phẩm từ tỉnh này sang tỉnh khác. Lúc cao trào, nhúm gạo chứa chỉ trong một lon guigoz cũng bị tịch thu. Dân chúng gọi đó là chính sách ngăn sông cấm chợ. Chính sách này hoành hành năm sáu năm trời, với hình hài vật chất của nó là các trạm kiểm soát tịch thu từng kí-lô gạo, từng lạng (100gr) thịt trong giỏ xách của người dân. Tại trạm kiểm soát Tân Hương của tỉnh Tiền Giang, những chiếc xe đò từ Sài Gòn đi lục tỉnh và từ lục tỉnh về Sài Gòn phải ghé lại, sắp hàng dài, từng xe từng xe bốn năm chục hành khách bước xuống cho công an bước lên lật từng tấm nệm, xét từng chỗ ngồi, lục từng túi xách coi có ai giấu chút đỉnh hàng hóa nào không. Cả xã hội phải dừng lại, xe chờ xe, người chờ người, dân chúng chờ chính sách. Cả một hệ thống kiểm soát cồng kềnh đó có mục đích chặn bắt không cho người dân mang vài trăm gram thịt hay vài mươi gram gạo từ tỉnh này sang tỉnh khác. Người nào vi phạm bị tịch thu, và thậm chí bị giữ lại không cho tiếp tục chuyến đi. Chính quyền chỉ chăm chăm xét bắt vài trăm gram thịt hay gạo mà cản trở người ta sản xuất hàng tấn, hàng chục tấn, hàng trăm tấn sản phẩm cho xã hội. Trước năm 1975, người dân miền Nam có hoang tưởng tới mức nào cũng không tưởng tượng được một sự kiểm soát như vậy trên đất Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Lúc đó những người buôn bán lanh lợi kiếm ăn được. Những người bạn thời sinh viên của Vương sống nhờ buôn bán liên tỉnh, thực phẩm chở từ quê ra tỉnh, thuốc tây chở về quê…

Một bạn của Vương lần lần giàu có nhờ buôn thuốc tây Sài Gòn – Long Xuyên. Vương có đi hai chuyến với anh, anh Hoàng. Đi vì tò mò, vì muốn học kinh nghiệm từ các ngóc ngách trường đời chứ thật ra gia đình Vương, dù nghèo chung cái nghèo của đất nước, không thiếu tiền tới nỗi phải kiếm thêm bằng cách đó, và cũng không muốn buôn lậu.

Bảy giờ chiều Vương ra ngủ nhà Hoàng cạnh Bến Xe Miền Tây. Sáng mai chúng mình đi sớm, đi sớm trời còn tối mới dễ né tụi nó, Hoàng dặn. Khoảng ba giờ sáng, Hoàng kêu Vương thức dậy. Hai anh em ăn vội tô mì gói rồi chuẩn bị. Các hộp thuốc đã được xổ ra sẵn, các vỉ thuốc đã được chị Hồng, bà xã Hoàng, may dính trên một tấm vải hẹp và dài. Chúng sẽ được quấn quanh bụng, đùi, bắp chân.

– Mình vô sớm cho tụi nó sắp xếp, ông cầm cái túi này, đi tay không tụi nó dễ nghi.

Bên ngoài còn tối, Hoàng chở Vương ra bến xe trên chiếc Honda 67. Xe dừng trước cổng, Hoàng vào bãi gởi xe. Thấy Vương xớ rớ, một tay chừng như bảo vệ bến xe hất hàm: “lạng quạng đâu cha nội?”. Hoàng vừa quay lại, can thiệp ngay, bạn tui đi chung đó!

– A, vậy anh vô trước đi. Anh Hoàng có dặn ảnh hết chưa?

– Tui vô với ổng, đưa ổng lên chỗ ngồi.

– Để tui đưa ảnh vô cho. Nè, anh đi không làm kiểng hay đi có?

Hoàng hớt lời,

– Đi không. Cho ổng ngồi kế bà Tám Nổ.

Đêm qua mưa, đi bộ từ cổng bến xe vào trong bùn sình lẹp nhẹp. Có chỗ nước thành vũng, xác chuột chết vênh râu. Sát mé vũng nước, cạnh đống rác bày vài chiếc bàn gỗ thấp nhỏ, khoảng chục ghế con con. Dưới chiếc đèn nê-ông nhỏ xíu bắt lủng lẳng trên một cây sào đong đưa trong sương mờ, đàn ông, đàn bà gắp, húp hủ tíu sộp soạp, gặm bánh mì thịt cười giỡn vô tư hay gật gù ngái ngủ…

Lên đi anh, tay bảo vệ nhảy lên xe trước. Ấn Vương vào một chỗ ngồi giữa xe, y la lên với người phụ nữ mặc áo bà ba hồng ngồi phía trong, cha Hoàng gởi ảnh cho bà đó, bữa nay có chồng hiền khô nghe! Thì ra bà Tám Nổ, tiếng bà chớ trông còn trẻ khoảng trên dưới hai lăm, con mắt, chân mày sắc lẻm. Chị Tám Nổ đứng lên, dở nệm ghế…

Tay bảo vệ chặn lại. Bà ngồi xuống đi, anh này đi kiểng, đâu có gì bỏ vô đó! Rồi y quay qua Vương, anh ngồi đây nghe, ôm cái túi, tụi nó kêu mở ra thì mở. Nói xong y nhảy xuống xe dông mất.

Một lúc sau Hoàng cũng lên xe, nhưng không ngồi gần Vương: “Vương ngồi dưới này nhé, mình ngồi hàng ghế trên cho dễ xoay chuyển”.

Trời tối nhờ nhờ, xe xuất bến. Ra khỏi bến xe một chút đường đã xấu, xe nghiêng bên này, lắc bên kia rồi bắt đầu lấy thăng bằng lao đi…

– Gần tới trạm rồi. Bà con chuẩn bị nghe!

Phụ xế la lên, xe tấp vô lề. Hoàng tới gần dặn Vương: “Mình xuống có người chở đi đường nhỏ. Qua trạm gặp lại!”. Khoảng sáu bảy chiếc Honda đợi sẵn chở sáu bảy người trên xe bước xuống. Mỗi người cầm một túi. Xe đi tiếp.

– Tới trạm rồi. Ghé trạm nghe bà con. Ghé trạm nghe! Ghé, Ghé, Ghé!

Phụ xế miệng la, tay đập thùng xe rầm rầm. Xe ghé lại, sắp sau một hàng xe dài…

Phụ xế lại la lên:

– Xe đông, chờ lâu nghe, bà con xuống xe đi tiểu, hút thuốc…

Người trên xe lục tục bước xuống gần hết. Chị Tám Nổ thúc Vương, xuống đi anh, tính ngồi đây hoài với em sao!

Đứng bên lề đường, chị Tám Nổ cho biết chị cùng cánh thuốc tây với Hoàng. Còn những cánh khác nữa, tụi này đi thuốc tây. Ảnh lanh lắm, em theo ảnh gần năm rồi mới có chút đỉnh vốn. Mỗi chuyến em kiếm khoảng trăm rưỡi, hai trăm đồng. Ảnh chia em vậy, em một phần ảnh ba phần.

– Một tháng chị đi mấy chuyến?

– Một hoặc hai, hút hàng ba chuyến luôn.

– Chị giàu ghê. Lương tui một tháng sáu mươi bốn đồng!

– Lương nói gì anh! Lương anh nuôi em sao nổi!

Bỗng chị Tám Nổ đẩy Vương. Mấy xe kia xong hết rồi, tới xe mình kìa anh.

Từ dưới đường, Vương thấy các anh mặc đồ giống cảnh sát bước lên xe đi từ trước ra sau. Tới hai băng chót, một anh lật băng ngồi lên. Phụ xế chạy tới nói mấy câu, mời điếu thuốc, khum khum tay che lửa mồi thuốc. Rồi rút túi ra chìa cho mỗi anh kiểm soát một bao thuốc.

Chị Tám Nổ khều Vương, thấy tụi nó ăn chưa! Thuốc gì, bao thuốc chứa đầy tiền đó!

Người người lục tục lên xe. Chị Tám Nổ kề miệng vô tai nói tụi này ăn đã. Tụi tui chưa no tụi nó no rồi! À, nghe anh Hoàng nói anh dạy đại học hả, đại học là gì, chắc cao hơn cấp hai hả? Dám cao hơn cấp ba lắm à nghen. Mà cấp nào cũng kệ tía nó anh ơi, nhảy ra ngoài buôn bán với tụi em mau giàu!

– Nè chị, nếu đút lót được sao anh Hoàng phải tránh vô đường nhỏ?

– Ảnh đi lớn, sợ rủi bữa nào nhằm nhóm hổng ăn cánh thì mất lớn. Thằng lái Honda chở ảnh là em của tài xế đó, đi với nó chắc ăn trăm phần trăm. Có một phần của ảnh gởi em cầm, để dưới ghế. Vậy chớ ảnh cũng chung hết rồi, tiền trong bao thuốc lá có ảnh góp vô…

Chị Tám Nổ hạ giọng, buôn bán bây giờ hao hụt nhiều. Ngăn sông cấm chợ là để tụi đó ăn dọc đường. Anh Hoàng nhả tiền cho tụi nó mà ảnh đâu có chịu, người bệnh mua thuốc chịu hết. Bà con mình nghèo rớt, thấy thê thảm lắm anh ơi!

Ngày 26 tháng 12 năm 1999

Lê Học Lãnh Văn

Thành ngữ mới: Ngăn sông cấm chợ

Bởi AdminTD -05/03/2021

Nguyễn Thông

5-3-2021

Có mấy bạn trên phây búc nhắc tôi, bác ơi, bác hứa sẽ bốt (post) lại bài “Ngăn sông cấm chợ” lên kia mà, bác có phải là cán bộ, lãnh đạo, đảng viên đâu mà hứa nhưng không làm như người ta.

Khổ, lúc bức xúc thì hò hẹn vậy, chứ đăng đi đăng lại ngại lắm cơ, nhất là thế lực thù địch hoặc dư luận viên lại được dịp quy cho mình tội câu viu (view), khát lai (like), đánh bóng. Già rồi, thèm chi mấy thứ ấy. Trót lỡ miệng nên phải đưa thôi.

Gọi là mới, nhưng thực ra cũng mấy chục năm rồi. Tình trạng cấm đoán, ngăn trở đã ra đời cùng với chủ nghĩa xã hội, đâu phải chỉ trong đời sống kinh tế, giao thương. Nhưng chuyển hóa thành từ ngữ thì về sau mới có.

Cụm từ “ngăn sông cấm chợ” này được sinh sau năm 1975, đầu tiên phổ biến ở miền Nam, rồi lan ra miền Bắc. Cũng phải thôi, bởi chung một gầm trời chế độ. Tôi đã cố công tìm hiểu, thấy có lẽ tình trạng ngăn sông cấm chợ hình như chỉ xuất hiện ở Việt Nam. Cũng may nó chỉ tác oai tác quái gần 2 chục năm, nếu kéo dài thêm chút nữa, cả dân tộc và xứ này sẽ rơi xuống địa ngục.

Người cộng sản VN luôn tự hào thông minh, tư duy đổi mới, biết “áp dụng sáng tạo” những thứ du nhập từ nước ngoài vào hoàn cảnh Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin chẳng hạn, tên lửa SAM1, SAM2 chẳng hạn. Có những thứ thành công, như tên lửa SAM. Nhiều thứ thất bại, mà chủ nghĩa Mác-Lênin là điển hình.

Thời còn Liên Xô, cứ Liên Xô có cái gì là họ bê nguyên xi về, nhất là tư duy kinh tế. Một nền kinh tế bao cấp, nhất cử nhất động theo chỉ đạo máy móc từ trung ương đã giết chết sức sản xuất và thị trường. Cả nước sống chủ yếu dựa vào bầu sữa viện trợ, đến khi bị cắt, giật mình nhìn lại, dường như chả tự làm được thứ gì ra hồn.

Chết ở chỗ, họ rất kiêu ngạo, đắc thắng. Nghĩ mình đã đánh thắng được cả hai đế quốc to thì việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội chỉ là chuyện nhỏ. Năm 1975, ông Lê Duẩn vui mừng, từ nay đất nước ta vĩnh viễn sạch bóng quân thù, rộng đường tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản.

Chả riêng gì ông Duẩn, nhiều ông bà trong phát biểu cũng nói câu thể hiện cái ý ấy, giống hệt câu thơ của ông Tố Hữu, “đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”. Họ ngổ ngáo nói liều tới mức cho rằng chỉ 5, 10 năm nữa là sẽ đuổi kịp Nhật, còn bọn Hàn Quốc hoặc ASEAN có chạy xịt khói cũng chỉ xách dép cho ta. Họ làm cho dân chúng rơi vào cơn mê, lên đồng, chủ nghĩa cộng sản về đến ngõ rồi, chỉ cần long trọng ra rước vào nhà thôi. Họ say sưa tự lừa dối chính mình, trong đói nghèo vẫn hét toáng quang vinh.

Say quá nên họ làm càn, bất chấp tất cả quy luật. Không chịu nghe những lời phải trái, cứ quyết là làm. Tất cả chỉ có đúng, bởi đầu họ luôn nghĩ cộng sản không bao giờ sai. Nền kinh tế miền Nam đang huy hoàng, phát triển vượt bực vậy, chỉ vài nhát quét bằng chủ trương, chiến dịch này nọ, họ mau chóng đưa về tầm ngang bằng miền Bắc để cùng nhau thụt lùi, đói nghèo bình đẳng.

Kinh tế bao cấp và chính sách “ngăn sông cấm chợ” là ví dụ điển hình, đã kìm hãm đất nước, dân tộc này gần hai chục năm, nhưng tai hại là nó kéo lùi Việt Nam cả mấy chục năm so với nước khác, để giờ đây không thể nào đuổi kịp.

Bọn trẻ bây giờ không biết ngăn sông cấm chợ là như thế nào. Đại khái, nôm na vầy cho dễ hiểu: Những năm sau “giải phóng”, kinh tế, sản xuất ngày càng khó khăn. Mỹ cấm vận, bầu vú sữa Liên Xô, Trung Quốc ngày càng teo tóp, tâm lý sống dựa dẫm đã ăn sâu vào cả cán bộ lẫn dân chúng, bộ máy đảng và chính quyền sống nhờ vào ngân sách ngày càng phình to, nhiều thiết chế chính trị, xã hội, kinh tế… siết người dân đến ngạt thở, tất cả khiến cuộc sống lao dốc không phanh.

Không những không nhận ra sự thực ấy, nhà cầm quyền đang đắc thắng còn gây ra biết bao phiền toái, vô lý. Họ dựng lên những rào cản kìm hãm sức sản xuất, phá hoại thị trường. Họ cấm tiệt sự tự do lưu thông phân phối. Tất cả mọi sản phẩm đều được coi là hàng hóa và phải quy về sự điều tiết, phân phối theo kế hoạch của nhà nước, kể từ hạt lúa, mét vải, cái kim sợi chỉ, cuốn tập học trò, chiếc xe đạp, điếu thuốc lá, cái bát ăn cơm, con gà con lợn…

Ai tự động lưu thông những thứ do mình sản xuất được hoặc mua được đều vi phạm luật của nhà nước. Nơi trồng lúa gạo không biết bán cho ai, bán đi đâu; còn nơi thiếu gạo cứ ráng chịu đựng, dù có thể chết đói. Mọi thứ đều thành hàng cấm, mọi hành vi lưu thông phân phối ngoài quy định nhà nước đều là buôn lậu. Nơi thừa, nơi thiếu, dân kêu nhưng nhà nước mặc kệ. Họ còn bận, mải bàn tính việc tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

“Chiến lợi phẩm” vật chất miền Nam lọt vào cái miệng cá ngão xã hội chủ nghĩa thì biết bao nhiêu cho đủ. Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng. Hàng hóa ùn ùn chảy ra miền Bắc nghèo đói. Xài hơn năm thì cạn. Các kho hàng trống rỗng. Quầy bách hóa lèo tèo vài mặt hàng chất lượng thấp bán phân phối cho cán bộ công nhân viên. Dù có tiền cũng không thể mua được những món đồ thiết yếu. Phải có giấy giới thiệu mới mua được hộp sữa hoặc nửa ký đường. Bà đẻ mới được phát tem phiếu mua vài ký đường, vài hộp sữa. Dân gian xuất hiện câu: “Hoan hô Hồ Chí Minh, mua cái đinh cũng phải giấy. Đả đảo Thiệu Kỳ, muốn cái gì cũng có“.

Tôi còn nhớ những năm từ 1977 (lúc tôi vào Sài Gòn) đến khoảng 1992-1994 có 2 trạm kiểm soát cực kỳ nổi tiếng về sự tàn bạo của nó: trạm Tân Hương trên quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1) từ Sài Gòn về miền Tây Nam Bộ, đặt ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; trạm kia là trạm Suối Sâu trên quốc lộ 21 từ Sài Gòn đi Tây Ninh, đặt ở huyện Trảng Bàng, Tây Ninh.

Không biết bao nhiêu oan ức, đau khổ, bi kịch của người dân đã sinh ra từ 2 trạm này. Lúc ấy lực lượng kiểm soát là những ông trời con, bất cứ thứ gì của người dân đưa qua trạm cũng bị lục soát, khám xét, tịch thu, kể cả gạo, đường tán, cá thịt, thuốc lá, vải vóc… Dưới danh nghĩa chống buôn lậu, ổn định thị trường, họ cướp hết. Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.

Trường tôi có lần tổ chức cho giáo viên về thị xã Mỹ Tho mua gạo cứu đói, mỗi người chỉ dám mua 15-20kg, vậy mà qua trạm Tân Hương vẫn bị tịch thu hết, có lần còn bị đám nhân viên trạm vác AR15 ra bắn đuổi theo, đến giờ nhớ lại còn phát khiếp. Nhớ khuôn mặt khiếp đảm của ông Thi già lái chiếc xe Reo sau khi thoát nạn.

Một lần tôi đi Tây Ninh thăm cậu em họ, lúc về y làm quà cho 2kg đường tán (màu vàng, viên to bằng 2 đốt tay) và 3 gói thuốc lá Samit, qua trạm Suối Sâu mặc dù tôi đã giấu khá kỹ nhưng có lẽ do mình theo nghề dạy học, khờ với đời, không quen làm điều gì mờ ám nên chúng nhìn mặt là nhận ra ngay, khám liền và tịch thu hết. Từ đó sợ, mấy năm sau không dám đi Tây Ninh nữa.

Bây giờ, cứ nhắc lại thời kinh hoàng ấy, người ta thường nhớ đến ông Đỗ Mười. Ông ta là gã thiên lôi của chế độ cộng sản, đã “có công” phá nát nền kinh tế miền Bắc sau 1954 bằng công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, sau lại được đảng trọng dụng đem thứ kinh nghiệm chứa đầy nước mắt ấy vào phá nát kinh tế miền Nam với tên gọi cải tạo tư bản tư doanh.

Sau này lịch sử cần viết lại cho rõ ràng để đánh giá công tội những vị đó, không thể ù xọe mãi được. Cũng như cái gọi là công cuộc đổi mới, họ tự nhận công lao của họ nhưng thử hỏi ai gây ra những cản trở, trì trệ, lạc hậu, rào cản, cũ kỹ, bất nhân… để rồi phải đổi mới làm lại từ đầu. Dân đã tha không hỏi tội thì thôi, đừng có lu loa đánh tráo lịch sử.

Ngăn sông cấm chợ, kìm hãm đất nước nhưng chính những kẻ chủ mưu lại được đồng đảng tôn vinh, ca ngợi, quốc tang, đặt tên đường, hội nghị hội thảo khen nức nở, réo rắt trên tivi, báo đài. Cứ như tất cả mọi tội lỗi, sai lầm do dân gây ra, nhờ có họ uốn nắn, lãnh đạo, đổi mới nên mới có được “cơ đồ như ngày hôm nay”.

Nhớ lại một thời ngăn sông cấm chợ, để thấy rằng dân chịu đựng được chừng ấy năm là quá giỏi.

Ảnh: Một thanh niên để tóc dài bị lực lượng quân quản giữ lại, cắt tóc ngay trên đường phố ở khu Chợ Lớn năm 1975. Nguồn ảnh tư liệu từ internet.

Nguyễn Thông

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.