Nguyễn Đức Tùng/Trần Mộng Tú :”mình em một ngôn ngữ”

This image has an empty alt attribute; its file name is nguyen_duc_tung_2_qenj-300x180-1-1.jpg
NGUYỄN ĐỨC TÙNG

Mình Em Một Ngôn Ngữ

 Sức mạnh của một bài thơ nằm ở các chi tiết. Các chi tiết này cần phải được tả lại một cách sống động, với những màu sắc, vị trí, âm thanh, mùi vị của chúng. Đó chỉ là công việc của người làm thơ. Về phía mình, người đọc thơ cũng làm công việc của họ: bạn phải hình dung được nhân vật ấy, buổi tối ấy, ngửi được mùi máu, nghe được tiếng đọc kinh, nhìn thấy khung cảnh ấy. Khiếm khuyết từ một trong hai phía, nếu xảy ra, bài thơ sẽ thất bại.

Em gửi cho anh

ly cà phê buổi tối

mùi ngô non

nướng dưới cột đèn

Bạn tưởng tượng thấy khung cảnh ấy. Chữ của Trần Mộng Tú giản dị, không bay bổng, nhưng vững chắc, tin cậy. Đó là một bút pháp có nhiều tính hiện thực. Nhà thơ T.S. Eliot: “trong khi thơ cố gắng truyền đi một điều gì phía sau điều được truyền đạt bởi vần điệu văn xuôi, thì nói cho cùng, thơ vẫn là cuộc trò chuyện giữa một người và một người” (1). Nhưng văn chương dành cho cuộc sống mỗi ngày tự nó cũng phải làm mới lại mỗi ngày. Đó là lý do vì sao đôi khi bạn cần nhìn một chữ như lần đầu tiên bạn nhìn thấy nó. Cũng vậy, bạn tập nhìn một cái cây, người bạn, cột đèn, như lần đầu bạn nhìn thấy. Sự tỉnh thức hoàn toàn trong giây lát có tính thiêng liêng, nhưng bắt nguồn từ ký ức. Bạn nhớ những ngày bạn đã sống và những ngày chưa từng, nhưng muốn sống. Khi chúng ta trải hết những buồn vui của yêu thương, đau đớn của cái chết, chiến tranh, vết thương và vinh quang của nó, bạn không quên được, và nhớ trở thành phương cách sống. Một ký ức chỉ làm ta nhớ lại là một thứ trí nhớ đơn giản, máy móc. Trí nhớ của nhà thơ vượt lên sự nhớ lại ấy, trở thành suy nghĩ, phản ánh, tưởng tượng, sự lý giải các sự vật. Sống trong thành phố, bạn nhớ thôn quê, sống ngoài đất nước trong xứ sở thanh bình, nhớ đất nước khốn khổ, đẹp, chia lìa, cay đắng. Nhưng thơ Trần Mộng Tú không cay đắng, mặc dù có thể rất buồn.

Em tặng anh hoa hồng

Chôn trong lòng huyệt mới

Em tặng anh áo cưới

Phủ trên nấm mồ xanh

Anh tặng em bội tinh

Kèm với ngôi sao bạc

Chiếc hoa mai màu vàng

Chưa đeo còn sáng bóng

Em tặng anh tuổi ngọc

Của những ngày yêu nhau

Đã chết ngay từ lúc

Em nhận được tin sầu

Anh tặng em mùi máu

Trên áo trận sa trường

Máu anh và máu địch

Xin em cùng xót thương

Em tặng anh mây vương

Mắt em ngày tháng hạ

Em tặng anh đông giá

Giữa tuổi xuân cuộc đời

Anh tặng môi không cười

Anh tặng tay không nắm

Anh tặng mắt không nhìn

Một hình hài bất động

Anh muôn vàn tạ lỗi

Xin hẹn em kiếp sau

Mảnh đạn này em giữ

Làm di vật tìm nhau. 

(Quà Tặng Trong Chiến Tranh, tháng 7/1969)

Một người chứng cũng mang trên vai gánh nặng của các sự kiện, bằng chứng của các câu chuyện kể. Họ không thể bỏ chúng xuống được. Nhiệm vụ của thơ là nói về chiến tranh và hòa bình, làm cho người lính trở lại, trò chuyện với chúng ta. Câu chuyện mà họ kể, tình tự hơn là khuyên bảo, đau xót hơn là hận thù, nói về mình hơn là nói về người khác chiến tuyến, sẽ giúp người Việt hóa giải không những xung đột lịch sử mà còn xung đột nội tâm. Trong những bài thơ thành công, Trần Mộng Tú khắc họa các nhân vật ấy, một xã hội biến mất, một quê hương xa cách ngàn trùng, trở thành sống động trong lòng độc giả, mang họ trở về nguồn cội. Nguồn cội của người Việt không phải chỉ là căn nhà, bờ sông, hàng cây, nguồn cội ấy là sự chia sẻ, lời cầu nguyện, nhu cầu được ngồi xuống bên nhau quanh ngọn lửa mới nhóm chiều hôm, vườn cũ.

Đốm nhang cháy đỏ như quầng mắt

khói có bay về tận cố hương

vườn người, tôi chiết cành xuân thắm

nhớ quê vết cắt trượt xuống hồn

 Thơ Trần Mộng Tú có hai chủ đề: hoài niệm và cuộc sống hôm nay, hòa quyện vào nhau. Hoài niệm của người Việt hải ngoại không chỉ là hoài niệm; lòng hoài niệm ấy mang theo những giá trị của một thời đại, một xứ sở như giấc mộng. Thơ về cuộc sống hôm nay vừa có nghĩa là đương thời, vừa có nghĩa là cái bình thường, dung dị hàng ngày. Trong thơ chị có nhiều yếu tố thời sự, nhưng đó không phải là thơ thời sự, vì mọi tin tức của thế giới đều lọc qua lăng kính cá nhân, chất suy nghĩ của người phụ nữ, đằm thắm. Một người đầy lòng biết ơn, thương tiếc, nhưng không có gì phải hối hận, mang tấm lòng của mình đi giữa cuộc đời, đón nhận và đem cho, khổ đau và cầu nguyện, căm phẫn và tha thứ. Nhà thơ lắng nghe, học hỏi, đặt bàn tay dịu dàng của mình lên một nhánh cỏ, con thú bị thương, một người đau khổ. Như lên chính sự đau khổ của mình.

Hãy trả lại cho tôi

Người con trai duy nhất

Trả lại nguyên hình hài

Không mảnh nào được mất

Tôi cất con vào lòng

Chỗ an bình duy nhất

(Gửi những nạn nhân ngày 11/9/2001)

Mối quan hệ giữa thơ và tương lai, cái không biết, tạo ra phân vân, lưỡng lự. Ý thức về sự mong mang của ý chí, sự ngắn ngủi của các hy vọng, sự thất bại của tự do, làm cho thơ trở thành một ngôn ngữ bất bình chưa từng có; ý thức về tính bất bình ấy mang con người đến với đồng loại, làm cho cái không thể biết trở thành cái được tìm kiếm. Cái nào không thể biết? Tình yêu, chân lý, vĩnh cửu, cảm giác bất định xô người ta tới gần huyền thoại. Mặt khác, đi giữa một thời đại tăm tối, thơ cần một ngôn ngữ sống động, ngày càng mới; cách viết cũ khó đứng được với thời gian. Điều thú vị, và không dễ hiểu, là Trần Mộng Tú không hô hào cách tân, chữ dùng của chị không mới lắm, thế mà những bài chị viết nhân các sự kiện vẫn ở lại lâu dài trong lòng độc giả.

Ở tòa báo em làm

những người phóng viên

đang thu xếp ngày mai ra Đà Nẵng

không có ai đi Kiên Giang

làm sao em gửi được cho anh

một nụ hôn vào chiếc bao thư

làm sao em gửi được cho anh

những giọt nước mắt sáng nay của em

vào trong bao thuốc lá

Thơ tự do, lời thuật chuyện tự nhiên gần văn xuôi, thân mật, ý tình kín đáo mà mãnh liệt. Có người nghĩ rằng bài thơ hay sẽ mang trong chúng sự hiểu biết, thông thái, những trải nghiệm khó khăn. Nhưng chính ngôn ngữ thơ phát sinh từ vùng nửa tối nửa sáng, chỗ mờ ảo của kiếp người, ở vòng giao tuyến của các loại kiến thức khác nhau, vết đứt gãy của trí nhớ. Trần Mộng Tú viết nhiều, thơ và truyện, tùy bút, và hình như chị viết khá dễ dàng về các sự kiện; dù nhỏ hay lớn, chúng sẵn sàng có mặt trong thơ chị. Tuy vậy, đó là hồi tưởng, suy nghĩ trữ tình, nhiều hơn là báo chí, tuyên bố xã hội. Niềm vui của việc đọc thơ Trần Mộng Tú, tôi nghĩ, là ở tính chất sóng đôi này: trong sáng, dễ hiểu, nhưng không hời hợt mà phản ảnh những cảm xúc sâu xa. Tất nhiên không phải bao giờ cũng vậy, thơ chị cũng có những bài chưa chín lắm, tư duy chưa sâu, hình ảnh lặp lại. Một bài thơ được viết sau một cảm xúc mau lẹ, có khi là một tác phẩm của tài năng, có khi chỉ là sự dễ dãi của tác giả.

Ngày xưa trong quán nhỏ
Đời không có mùa Đông
Trên môi cà phê ngọt
Trong mắt giọt tình nồng.

Hôm nay trong Quán Lạ
Hai đứa ngồi nhìn nhau
Trên môi cà phê đắng
Trong mắt Giọt Tình Sầu.

Theo Du Tử Lê, bài này được hai nhạc sĩ phổ nhạc, Nam Lộc, với tựa đề mới Giọt Tình Sầu, và Hoàng Quốc Bảo, với tựa đề Quán Lạ. Thực ra đây không phải là bài thơ hay, chữ dùng cũ, nhưng nó đánh dấu một giai đoạn của người Việt lưu vong ngày đầu ngơ ngác gặp nhau trên xứ lạ. Sự cô đơn, lòng thương nhớ của chị gần với truyền thống văn chương cổ điển. Điều ấy dẫn đến nguy cơ của một loại thơ đã bị vượt qua, nhưng Trần Mộng Tú tránh được điều ấy trong nhiều bài, nhiều hơn so với những người viết cùng thế hệ. Về mặt này, chị làm tôi liên tưởng đến trường hợp Mai Thảo, chữ xưa mà thơ mới, thơ riêng biệt. Người đọc lắng nghe, đi theo chị, thăm dò những cảm xúc vừa quen thuộc vừa mới lạ, thích thú. Chị dẫn người đọc đi không quá xa, không quá mạo hiểm, nhưng bài thơ của chị có một điều gì mới, chị không đi quẩn quanh trong căn nhà của mình mà thỉnh thoảng bước ra ngoài, đôi khi bất ngờ, có khi bất ngờ đến nỗi trong chớp mắt bạn ở giữa một thiên nhiên xa lạ. Sự cân bằng ấy, từ những bài đầu tiên đến sáng tác về sau, trong suốt mấy mươi năm, chị giữ được. Thơ cũng như văn của chị đầy cảm xúc nhưng là một thứ cảm xúc được tiết chế, gìn giữ. Tất nhiên chị cũng có những bài thương cảm, chúng sẽ, như ở các nhà thơ khác, không chịu được sức ép của thời gian. Trần Mộng Tú làm thơ có vần và thỉnh thoảng thơ tự do; chị không mạnh về lục bát, nhưng các loại thơ có vần khác đều vững: năm chữ, bảy chữ, tám chữ. Tư duy nghệ thuật của Trần Mộng Tú thuộc chủ nghĩa hiện đại, nhưng cảm xúc của chị lan cả sang hai phía, cổ điển và cách tân đương thời.

Những thân cây ngã xuống

trong cánh rừng lưu vong

lửa mồi lên bản thảo

sách bừng lên từng pho

trang bìa quằn quại lửa

tàn tro ôi tàn tro

những thân cây ngã xuống

tiếng khóc ngậm câu kinh

tiếng mõ rời rạc gõ

vào cánh cửa tử sinh

(Sau cái chết của Nguyễn Mộng Giác)

Cái chết không xa lạ trong thơ Trần Mộng Tú, ngay từ những ngày đầu tiên, cái chết của người chồng trẻ tuổi, sau đám cưới một thời gian ngắn. Cái chết là hình bóng khác của tình yêu đối với cuộc sống, là ánh phản chiếu của tâm hồn. Tình yêu sống qua khổ nạn của lịch sử, vượt qua thời gian. Tình yêu nam nữ ấy của Trần Mộng Tú thuần khiết, gần như hoài niệm, sự an ủi vỗ về ấy có tính cao cả. Có một sự cân đối, thăng bằng, đạt được dễ dàng trong mỗi bài thơ của chị, một kỹ thuật làm thơ ngày càng ít gặp trong những nhà thơ hiện nay. Những bài thơ được viết sau này đều tiếp nối hướng đi mà chị vạch ra từ nhiều năm trước, từ tốn, khoan thai, xa lạ với việc làm mới táo bạo, đi thẳng vào các ý tưởng trung tâm, dùng một ẩn dụ lớn, nói một điều mà chị muốn nói.

Đêm mùa đông gọi anh bên bếp lửa

Sáng mùa xuân em khóc trước hoa đào

Đôi khi chúng ta nghe được tiếng gọi ấy, vào quá khứ, tiếng khóc ấy, trước hiện tại. Chúng ta nghe được một cách rõ ràng đến nỗi ta tưởng rằng việc ấy không có gì khó nhọc. Tôi không biết Trần Mộng Tú làm thơ ra sao, nhưng tôi tin chị dành nhiều thì giờ cho mỗi chữ, mỗi câu, hồn nhiên mà cân nhắc. Chị biết dung hòa các nhịp điệu, mặc dù không phải khi nào cũng thành công trong việc làm cô đọng các ý tưởng, nén chặt hình ảnh, mài dũa câu thơ sắc sảo hơn nữa. Tôi ít tìm thấy trong thơ chị nỗi bi quan, chán nản. Nỗi buồn trong thơ Trần Mộng Tú là nỗi buồn mênh mang, thế sự, triết lý, hơn là sầu bi cá nhân. Đó là một nỗi buồn đã được chưng cất và trình bày một cách tiết chế. Thơ chị không trúc trắc mà mượt mà, giọng nói của thơ dịu dàng mà sáng rõ. Tôi ít thấy những điểm mờ, sự chập chờn của các thế giới đa sắc, sự đa nghĩa, trừ trong vài bài thơ như sau đây.

Em gọi trong lồng ngực đáng thương của mình

Ôi anh!

Ôi anh!

Ôi anh!

Buổi chiều

em trở về

chiếc xích lô vẫn còn đầy gió.

Thơ Trần Mộng Tú là sự kết hợp giữa một tâm hồn nồng nhiệt và chất giọng thanh đạm. Chất giọng của một người gồm hai yếu tố: từ ngữ và giọng điệu. Thơ chị mang theo những suy tư về một xã hội tự do không còn nữa, những trải nghiệm mới trên đất nước mà chị chọn làm quê hương thứ hai. Chị tỏ ra tự tin giữa hoàn cảnh hội nhập mới, làm chủ số phận mình, hài lòng hay tạm hài lòng về điều kiện sống; những thao thức của chị như vậy hướng nhiều hơn về một cuộc đời khác, đã qua, một hệ thống khác, ước vọng khác. Những ước vọng ấy có mặt từ xưa, trở đi trở lại, mỗi ngày một bồi đắp, mỗi ngày một làm mới, như hồi ức tự chúng mở ra thành cánh cửa, như đòi hỏi tự chúng vang lên thành tiếng chuông. Bốn mươi năm sau bài thơ trên, tháng tư, 2009, trong bài “Có Phải Tôi Không?” Trần Mộng Tú viết:

Có người gửi tôi tấm hình trên mạng

cô gái Sài gòn áo trắng khăn tang

đi trong Sài gòn bốn mươi năm cũ

cô gái trong hình có phải tôi không

Ô hay tự nhiên tại sao tôi nhận

Sài gòn cả trăm cô gái giống tôi

cả ngàn khăn tang trên đầu goá phụ

góa phụ còn hồng một vệt son môi

Ô hay tại sao tự nhiên tôi chối

Sài gòn ngày ấy trắng toát khăn tang

những cô trẻ lắm mắt đầm đìa lệ

theo tay ai dắt đi vào nghĩa trang

Sài gòn bây giờ khói nhang đã tắt

góa phụ ngây thơ tóc đã phai xanh

Nhà thơ sống trong thế giới hỗn loạn, bạo động, chị từng đến đó, đã trở về, đã quay lại, ngày một nhu mì hơn, ngày một thông thái hơn, nhưng lúc nào cũng vậy, sở hữu một ngôn ngữ chừng mực, trong sáng, không phải không có khi xúc động quá, nhưng đầy lòng biết ơn, yêu dấu, cái nhìn lãng mạn đối với cái đẹp.

Mùa đông trắng giữa mái nhà

Câu thơ trắng giữa hồn ta vô đề

Bông hoa trắng giữa đam mê

Mối tình trắng đến lời thề bỗng phai

Chúng ta chấp nhận thay đổi, tin rằng sống là thay đổi, đó là một phần của cuộc đời. Cuộc đời như cuốn sách được viết mỗi ngày một chương, mỗi lúc một dòng, chưa được viết xong, nhưng không một thứ gì sẽ hoàn toàn mất đi, chúng được tình yêu giữ lại bằng cách này hay cách khác. Thơ đuổi theo cái đẹp của tình yêu, nhưng không lạc đường. Trần Mộng Tú không đi sâu quá vào cánh rừng đen tối bí ẩn của con người, nhưng chị tới đó, đứng lâu ở bìa rừng, lắng nghe tiếng động từ vô thức, dùng hết khả năng của ngôn ngữ để hiểu biết, kể lại, nhớ lại, để giải thích trước hết cho mình về một thế giới đau khổ, cuộc phân tranh phi lý, một dân tộc bạo động và đáng yêu, không ngớt làm chị ngạc nhiên, đau xót. Vì vậy thơ sẽ trở lại với đời sống, dù đôi khi nó nhuốm màu huyền bí. Có một sức mạnh, một lực, trong bài thơ của Trần Mộng Tú chảy suốt như dòng suối, mang theo bốn mùa, giá lạnh và ấm áp, băng vỡ, réo rắt.

Hãy tưởng tượng ra em
Ở một căn nhà lạ


Mình em một ngôn ngữ
Mình em một màu da
Mình em một màu mắt
Mình em một lệ nhòa


Hãy tưởng tượng ra em
Ở nơi không định tới
Em tủi như chim khuyên
Khóc trong lồng son mới


Hãy tưởng tượng ra em
Ở một thành phố khác
Em buồn như nước sông
Khóc chia giòng tan tác


Hãy tưởng tượng ra em
Ở một vùng đất mới
Em như hoa sầu đông
Khóc mùa xuân không tới


Hãy tưởng tượng ra em
Một đời sông cát lở
Một cuộc tình hư hao

Một hồn đầy mảnh vỡ


Em không còn là em
Xin chàng đừng yêu nữa

Đó là bài thơ chị viết khi mới đến Hoa Kỳ. Trong thơ Trần Mộng Tú, bên cạnh chủ nghĩa hiện thực, thứ chủ nghĩa hiện thực chân phương và kinh điển, vẫn thấp thoáng hình ảnh huyền ảo. Trong thơ chị mối liên hệ giữa thơ và đời sống, giữa đời sống và tình yêu, là mối liên hệ bền chặt như xác thịt, nhưng không dung tục. Có một sức mạnh của cảm xúc từ dòng đầu đến câu cuối như tiếng hát của loài chim quý, sống sót sau bão táp. Trần Mộng Tú ít khi làm thơ chính trị, nhưng những bài thơ trữ tình của chị bàng bạc cảm xúc đối với thế sự. Thơ chị là một ngôn ngữ quy ước, mặc dù những năm sau này còn pha tính chất văn nói và đời thường ít nhiều. Đó là một ngôn ngữ ước lệ nhưng không sáo rỗng, một ngôn ngữ đẹp nhưng không xa rời trần thế, tinh lọc, giàu có, buộc người ta dừng lại lắng nghe.

Bây giờ cha như trang sử
con vẫn ngạc nhiên mở ra
cha giống tấm bản đồ cũ
con ngửi mùi đất quê nhà

Trần Mộng Tú lấy không gian để đo khoảng cách chia xa, để đo nỗi niềm cố xứ, ký ức về một nền tự do. Không gian của chị chính là khuôn mặt tâm lý, là sự phản chiếu đời sống bên trong, nhưng không phải bao giờ cũng vậy. Cũng có một xung đột giữa những giá trị cố hữu và bảng giá trị mới trong cuộc sống hôm nay.

Sao bây giờ

cái chết của một người da đen

một người có tiền án không lấy gì là lương hảo

bởi một cảnh sát da trắng

lại làm cả thế giới

chao nghiêng

Tôi nghĩ đó là hình ảnh

của một cách giết

cách giết kỳ thị

thản nhiên

đếm từng phút

kẻ chết dưới gối mình

Không thể nói trong một câu là xong mọi chân lý về một sự việc xã hội, vì tính phức tạp của đời sống. Chúng ta không nhìn thấy nhân loại, chúng ta chỉ nhìn thấy một người, chúng ta không nhìn thấy giai cấp, chúng ta chỉ gặp một người da đen, chúng ta không nhìn thấy cuộc xung đột ý thức hệ, chúng ta gặp một người lính ngã xuống bên đường. Thơ của Trần Mộng Tú là nghệ thuật hiện thực trộn lẫn những yếu tố lãng mạn. Thơ chị kiệm lời. Tuy nhiên sự ít lời chỉ trở thành một tính chất quý báu khi nào các chữ được nén lại, và khoảng trống giữa chúng có thể tháo tung ra được thành những không gian rộng lớn; nếu không, một bài thơ ngắn chỉ là một bài thơ ngắn. Ở nhiều bài thơ có sự tăng dần về tiến độ và sau đó giảm dần như cấu trúc của một truyện ngắn, bên cạnh sự mô tả của tác giả đôi khi có lời của nhân vật, nhưng thơ chị là một thứ mô tả khách quan phối hợp với những xúc cảm cá nhân.

“Từ lúc rời căn nhà đầu tiên là bụng mẹ đi ra, ngẫm lại thì tôi đã ở không biết bao nhiêu ngôi nhà, tôi không muốn đếm nữa.Tôi đi suốt từ miền Bắc đến miền Nam nước Việt, từ quê hương Việt Nam tới nước Hoa Kỳ. Nghĩ lại mà bàng hoàng. Sao mà dời đổi nhiều thế, sao đi xa thế nhỉ?”(truyện ngắn- TMT) (2)

Khoảng năm 2010 tôi bất ngờ nhận được món quà của nhà thơ Trần Mộng Tú từ Hoa Kỳ, đó là cuốn lịch mỗi tháng in một đoạn thơ của chị, in thủ bút, rất đẹp. Tôi treo cuốn lịch trong phòng làm việc, thỉnh thoảng đọc lại, dần dà hiểu hơn về thơ của một tác giả lúc ấy còn xa lạ với tôi. Tôi nhìn ra ở chị nụ cười bao dung, lối sống thanh nhã, gần văn chương. Những bài thơ chinh phục độc giả của chị là sự phối hợp của nhiều yếu tố: từ ngữ, xúc cảm, nhạc điệu, hội họa, suy tưởng, thời thế. Một bài thơ hay chứa đựng những điều không thể nói được bằng lời, giữ cho nó sự giàu có bí ẩn. Mà không phải chỉ có thế, ngay những bài thơ mà ý nghĩa của chúng được khai phá cùng kiệt, thì khi bạn đi khỏi một thời gian, trở lại, cũng thấy như trở về nhà cũ, cũ mà thay đổi, có lưu luyến có vui sướng, bạn tìm thấy một điều gì mới trước đó bạn không biết. Trần Mộng Tú là một trong vài nhà thơ hải ngoại viết đều đặn, sung sức, tiếp tục cái cách mà các nhà thơ Âu Mỹ thường làm, tức là viết ngay cả trong những năm lớn tuổi, một điều hiếm thấy ở người Việt. Chị trải qua nhiều thăng trầm, tuy vậy, vẫn giữ cho mình cái tình đằm thắm đối với cuộc đời.

Trên chiếc xe ca đó

nhồi nhét bao con người

đi tìm vùng đất hứa

có đàn ông đàn bà

có người già em bé

xác thân đã nẫu chín

thành nước và bốc hơi

ứa ra cùng hy vọng

nhỏ giọt xuống mặt đường

Chuyến xe thảm kịch của người Việt năm nào. Không phải bao giờ thơ cũng cần đến tiết kiệm, vì khác với thông tin, thơ không phải là các mật mã. Sự duyên dáng của cách nói, giọng điệu, vẻ đẹp của các chữ, cách phát âm của chúng, sự tương tác giữa các chữ bên nhau hay các chữ đồng vị. Những chữ ít quan trọng, hư từ, trong văn nói ngoài đời đôi khi không có ý nghĩa lắm, trong thơ chúng bỗng thành những chữ đặc biệt, tạo liên kết. Sự thân mật trong bài thơ là mối quan hệ giữa tác giả và người đọc, mối quan hệ ấy không phải bao giờ cũng dễ dàng. Trong các nhà thơ hiện đại, đó là mối quan hệ chính thức, đứng về một phía, trong khi ở các nhà thơ hậu hiện đại, mối quan hệ mang nhiều sắc thái hơn, từ thân mật đến lạnh lùng, thù địch, từ một phía thành hai ba phía. Mối quan hệ giữa tác giả và người đọc trong thơ Trần Mộng Tú giản dị, đó là khuynh hướng nhìn sự vật từ một phía, đồng lòng, đồng ý, có sự chia sẻ từ ban đầu. Thành công của Trần Mộng Tú không phải ở những cách tân táo bạo về từ ngữ, cách đảo câu đảo chữ, mà là những ý tưởng sáng lấp lánh, hình ảnh bất ngờ, cái mới của ý tưởng. Ở chị cảm xúc và tư tưởng đi liền với nhau. Tuy nhiên là một người sống giữa những thay đổi, từ trong nước ra hải ngoại, cách viết của chị không thể không thay đổi. Đôi khi tôi bắt gặp một cách thích thú những chữ lạ, hình ảnh lạ, đó là cách phá vỡ sáng tạo, thuyết phục. Giữa những câu thơ vần điệu mềm mại, tự nhiên, có những câu đứng lại, tách ra, lạ hóa, gây liên tưởng.

Sao anh còn trẻ thế

Sao em còn trẻ thế

Sao tình yêu hai ta còn trẻ thế

Lại lăn vào

Một cuộc chiến già nua

Có khi chị bộc lộ nỗi cay đắng, sự nghi ngờ, tâm trạng lo âu. Những khi như thế tôi thấy chị gần với người đọc, xao xuyến hơn, sống động hơn. Vui buồn của chị trở thành vui buồn nhân thế.

Em nghe nói hòa bình
Trên những tờ nhật báo
Em nghe nói hòa bình
Trên miệng người lãnh đạo

Em để lòng khờ khạo
Ôm giấc mơ hòa bình
Mong chiến tranh chấm dứt
Anh giã từ đao binh

Tin về từ trận tuyến
Anh chết giữa chiến trường
Ôi giấc mơ khờ khạo
Chỉ còn là đau thương
(Tháng 7/1969)

Thơ Trần Mộng Tú có nhiều bài như bài hát ru, litany. Litany có phải là một thể loại thơ hay không thì tôi không chắc, nhưng đó là một bài thơ bạn có thể đọc lại nhiều lần, ngâm, các câu có một số chữ bằng nhau, cấu trúc cân đối, du dương, ý tưởng bất ngờ. Đó là sự pha trộn giữa thơ và nhạc, vì vậy có những đặc điểm của cả hai. Trần Mộng Tú dùng các chữ thuần Việt, dễ hiểu. Trong thơ, chân thực là một ưu điểm, nhưng chất phác thì không phải. Một ngôn ngữ trí thức thường trừu tượng, một ngôn ngữ bình dân có tính cụ thể. Trần Mộng Tú là một nhà thơ đô thị, chị viết về cuộc sống của người dân thành phố nhưng ở chị có một tình yêu vô bờ đối với thiên nhiên. Giữa đô thị và thiên nhiên, Trần Mộng Tú tái lập sự hòa điệu, đánh mất, xác lập trở lại. Trong khoảng giao hòa hai thứ ấy, thơ chị phảng phất khuynh hướng sinh thái học. Ngày trước, kể từ thơ mới, thơ đi từ cái ta đến cái tôi, kêu gào đòi hỏi cái tôi. Sau năm 1975, ở một số nhà thơ, ít nhất là ở hải ngoại, chúng ta thấy khuynh hướng đi từ cái tôi đến cái ta. Nhưng ở Trần Mộng Tú thì không.


Tôi xa người như xa mùa xuân
Ngực tôi còn đọng chút hương trầm
Mảnh trời trong mắt còn xanh biếc
Người đã mơ hồ như vọng âm

Tôi xa người như xa cơn mưa
Tóc tôi còn ướt đến bây giờ
Nhớ tôi người có châm điếu thuốc
Nhớ tôi người có đi trong mưa

Tôi xa người như xa quê hương
Những dấu thân yêu mất cuối đường
Người nhặt hộ tôi hoa dĩ vãng
Lau giùm dòng lệ ở vết thương

Người đọc có thể cùng lúc sống hai cuộc đời, cuộc đời của cá nhân và cuộc đời của tác phẩm văn chương. Đó là sự diễn dịch của văn bản đạt tới tự do cao độ. Mỗi lần đọc, bài thơ có một ý nghĩa khác, có một ảnh hưởng khác lên người đọc, vào lúc ấy người đọc hôm qua không còn là người đọc hôm nay. Âm điệu cũng chưa phải là tất cả, chúng bao giờ cũng đến cùng một lúc với một câu chuyện được kể lại. Câu chuyện là một sự việc đã từng xảy ra trong thời gian, và được nhớ lại, và điều này là quan trọng nhất, mỗi lần nhớ lại là một lần khác nhau, biến đổi.

Đã lâu quá anh không về gõ cửa
lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên
ôi có phải mùa xuân đang nhóm lửa
tay lạnh thế này ai sưởi cho em.

Táo bạo mà kín đáo. Những bài thơ hay của chị là những bài gây ấn tượng chúng được viết một cách tự phát, ngẫu hứng; có lẽ là một trong những đặc tính của chủ nghĩa lãng mạn, vốn nhấn mạnh đến các nguồn “cảm hứng” (inspiration) trong thơ ca. Như một hệ quả của điều vừa nói, sự uốn nắn câu chữ, phép tu từ dày đặc làm mất vẻ tự nhiên, vì vậy không được khuyến khích. Thơ Trần Mộng Tú ít có thủ pháp đẽo gọt như thế. Chị viết hầu hết là thơ có vần, nhưng ở những câu buông vần lỏng lẻo, dài ngắn khác nhau, thể tự do, chị thể hiện tính ngẫu cảm, tự nhiên, bay bổng.

Bây giờ thì mẹ đã đi thật xa

Ngôi nhà cũ con trở về chiều nay không thấy mẹ

Con đi chung quanh căn bếp nhỏ không nghe tiếng bát đũa cười

Con mở cửa từng căn buồng ngày xưa của mấy đứa nhỏ và căn buồng của mẹ

Lối kể chuyện tỉ mỉ, từ tốn. Khúc quanh của bài thơ, sự xung đột hoặc tính kịch như vậy nằm ở sự thay đổi nội dung truyện kể, những phát hiện bất ngờ, một ẩn dụ mới lạ hơn là dưới sức chảy của ngôn ngữ. Sự ngạc nhiên, cái bất ngờ, là một loại năng lượng đẩy bài thơ đi, không xuất hiện nhiều lắm trong thơ Trần Mộng Tú. Ngược lại sự phát hiện tinh tế, nguồn xúc cảm lớn lao bên dưới bài thơ, tính chân thực của xúc cảm ấy là điểm mạnh của thơ chị.

Em không còn là em
Xin chàng đừng yêu nữa

Con người không làm chủ hoàn toàn số phận của mình, không chọn lựa nơi sinh ra và lớn lên, không tham dự vào những quyết định đã được chọn lựa bởi người khác, trước đó nhiều năm, nhưng cá nhân chịu trách nhiệm về hành động của mình trong hiện tại.

Con và hoa cúc vàng

vào nghĩa trang thăm Mẹ

dưới những hàng cây phong

cả hai cùng lặng lẽ

Thơ như haiku. Bài thơ là một sự vật, không phải một biểu tượng. Cách đọc thơ nghiêng về quy nạp hơn diễn dịch, đi từ cái riêng đến cái chung, hơn là từ cái chung đến cái riêng. Thơ Trần Mộng Tú đặt ra câu hỏi: Tôi là ai, tôi sống với ai, tôi sống cuộc đời này như thế nào. Văn chương tất nhiên không phải là câu trả lời cho những câu hỏi ấy, nhưng chúng làm cho chúng ta tiến gần lại câu hỏi, ngày một gần hơn, làm cho đời sống trở thành sự tra vấn liên tục. Trần Mộng Tú có một sự chú ý đặc biệt đối với các chi tiết, nhạy cảm với sự bất công, dung tục, với tội ác. Chị đi qua lịch sử như một nhân chứng, chị viết như một người quan sát ở khoảng cách gần. Tất cả những yếu tố trong bài thơ đều hướng tới sự kết thúc, tức là tái tạo những cảm xúc từ khi bắt đầu bài thơ, làm cho người đọc sống lại trải nghiệm. Sự kết thúc ấy hoặc có khuynh hướng gây ngạc nhiên, uốn cong một câu chuyện, hoặc nâng cao một ý nghĩa, làm bền vững hơn những suy nghĩ của người đọc. Thơ Trần Mộng Tú có kiểu kết thứ hai. Các hình ảnh trong thơ là ví dụ về những ý tưởng không thể diễn tả bằng lời, tác động lên người đọc, chuyển họ từ trạng thái không biết thành đồng cảm.

Anh đến với em vào ngày hạ chí

ngày mặt trời tình tự với đêm

buổi chiều trên cao buổi chiều không cúi xuống

sao bóng anh ngã xuống bóng em

ngày hạ chí thân thể anh như đuốc

anh kéo mặt trời xuống thắp sáng em

những tia lửa rắc cả vào trong áo

ngày tham lam không nhường chỗ cho đêm

Trần Mộng Tú sống theo những giai đoạn lịch sử của người Việt, giai đoạn Việt Nam cộng hòa, giai đoạn lưu vong và hội nhập ban đầu, trải qua thăng trầm như đa số đồng bào khác ở hải ngoại. Thơ Trần Mộng Tú là thơ trữ tình – nhân chứng. Chị nặng về mô tả hiện thực, tư duy thơ bám chặt vào đời sống, nhưng thiếu một chiều sâu triết học, chất siêu hình. Tình cảm đằm thắm, mới đọc tưởng quen nhưng đọc kỹ, thấy lạ. Những bài thơ thành công nhất vẫn là thơ viết về mình, viết cho những cảnh đời của mình. Ở Trần Mộng Tú có sự liên tục giữa quê nhà và lưu vong, giữa cuộc chiến tranh đã qua và hòa bình, giữa một xã hội  nay không còn nữa và những lý tưởng hôm nay của chị. Sự liên tục ấy là hết sức độc đáo, cần được bảo toàn mỗi ngày. Bằng cách nào?

Em gửi cho anh

chiếc lá bàng cuối thu Hà nội

hồi chuông giáo đường

buổi sớm tinh mơ

góc phố Nhà Chung có bầy sẻ nhỏ

một con rất gầy

đứng hót ngu ngơ

Em gửi cho anh

tơ tầm mới dệt

giăng từ Hàng Đào đến phố Hàng Bông

khúc lụa trắng ngả sang

mầu nguyệt bạch

sợi dệt ngang như mây vắt

trăng rằm

Em gửi cho anh

ly cà phê buổi tối

mùi ngô non

nướng dưới cột đèn

mảnh than nhỏ sưởi mùa thu

sắp hết

hơ gót chân ai

hồng giữa phố đêm

Em gửi cho anh

chiếc kiềng bạc trạm

đang khoe mình

làm mới phố Hàng Gai

ảnh mẹ chụp mấy mươi năm về trước

cổ có đeo

một chiếc giống thế này

Em gửi cho anh

đất trời Hà nội

để anh nhớ về thành phố

tuổi thơ

nơi hạnh phúc là một viên kẹo bột

được bạn chia cho trong một lúc

không ngờ.

Trong thơ trữ tình, chị có lối kể chuyện và mô tả sự việc khéo léo. Qua thơ Trần Mộng Tú, những thế hệ sau tìm thấy khuôn mặt người Việt những năm cuối thế kỷ hai mươi, đầu thế kỷ hai mươi mốt. Tôi nghĩ mỗi bài thơ của chị là một căn phòng chiếu sáng, trên bàn có tách trà, lọ hoa thanh nhã, ngoài vườn tiếng chim hót, bài thơ trở thành cuộc trò chuyện thân mật, tuy không phải hoàn toàn vô sự. Đôi khi giữa những câu thơ, dội lại tiếng sóng cồn cào, từ xa, từ bên trong rất sâu của đời sống có một câu chuyện bí ẩn chưa được kể, cuộc hôn nhân chưa thành tựu, cuộc chiến tranh chưa chấm dứt. Bạn muốn bước vào, bạn gõ cửa. Đôi khi cửa mở, đôi khi khoá im ỉm, không người. Bạn nghĩ, bạn sẽ trở lại.

Thân thể em

soi gương đã cũ    

trái đất ôm    

mấy chục vòng quay   

Sao    

vuốt ve anh  

mỗi ngày một mới 

Có phải mỗi ngày…..anh đổi một bàn tay

Chúng ta hiểu đời sống thường xuyên thay đổi, sinh ra và mất đi, có rồi không. Bạn trở nên khiêm tốn trong giây phút trước cái chết, trước sự đau khổ của người khác. Bài thơ của chị khai mở những cảm nhận giác quan, có tính vật thể, sau những đau thương, con người hồi phục. Thời gian hồi phục có khi lâu dài, nhưng chúng ta sẽ hồi phục, đang trên đường đi tới đó. Đôi khi, thời gian dừng lại ngoái nhìn, chờ đợi chúng ta. Trần Mộng Tú khép kín; tiếng nói của chị lặng lẽ, nhưng đó không phải là sự cô độc, hoặc nếu cô độc thì đó không phải là sự cô lập, tách rời khỏi thế giới, nối kết. Tương thông và cô độc ở người nghệ sĩ có mối quan hệ phức tạp; người nghệ sĩ cần sự riêng tư sáng tạo, cần đời sống nội tâm để làm giàu những chất liệu nghệ thuật nhưng họ cũng sống giữa đám đông, trong dòng chảy lịch sử, cùng than khóc số phận đất nước. Thơ Trần Mộng Tú không đạt tới cái cùng cực, cái chênh vênh, sự cực đoan, mê cuồng, thực ra đôi khi cũng cần thiết trong nghệ thuật. Chị có niềm tin tôn giáo, nhưng chị không làm thơ chỉ để ca tụng đấng tối cao. Thơ Trần Mộng Tú đi giữa một thế giới bên ngoài đầy biến động và một thế giới nội tâm an tĩnh. Cuộc đời riêng của chị có thể trải qua những bi kịch, chị đã chứng kiến chiến tranh và tội ác. Hình ảnh của người đàn ông đầu tiên trong đời, người lính ngã xuống trên chiến trường, được chị kể lại đây đó, có lẽ là một vết thương không bao giờ nguôi, vết thương cá nhân và vết thương đất nước, cuộc đời của họ là bi ký của Việt Nam. Sự gắn bó của Trần Mộng Tú với đời sống là sự gắn bó có tính nghệ thuật. Chị giao tiếp với cuộc đời bằng ngôn ngữ thơ ca, thấu hiểu và an ủi, tra vấn và thương yêu, và sẽ được nhiều người trong chúng ta, kể cả những thế hệ về sau,  nhớ lại thông qua ngôn ngữ ấy.

NGUYỄN ĐỨC TÙNG

(Đọc Thơ – Bài 28)

CHÚ THÍCH:

(1) While poetry attempts to convey something beyond what can be conveyed in prose rhythms, it remains, all the same, one person talking to another (T. S. Eliot, The music of poetry, 1942).

(2) Sơ lược tiểu sử Trần Mộng Tú (tóm tắt từ nhiều nguồn): sinh tại Hà Đông ngày 19 tháng 12 năm 1943; theo gia đình di cư vào Nam, sống tại Sàigòn. Năm 1968, chị làm cho hãng thông tấn Associated Press tại Sàigòn. Ngày 21-4-1975, Trần Mộng Tú di tản đến Mỹ, sau đó định cư tại tiểu bang Washington, tiếp tục làm việc cho hãng Associated Press. Trần Mộng Tú cộng tác với nhiều báo và tạp chí như Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Diễn Đàn Thế Kỷ, Da Màu, Văn Việt. Năm 1999, thơ của Trần Mộng Tú được đưa vào sách giáo khoa ở một số trường trung học ở Hoa kỳ. Từ năm 2000, viết truyên nhi đồng trên nhật báo Los Angeles Times. Từ 2002 đến 2005, chủ bút nguyệt san Phụ Nữ Gia Đình. Trong ban chủ trương của Diễn đàn thế kỷ online. 

Tuesday, February 16, 2021

Trần Mộng Tú

Tiếng Nước Tôi

Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…..Phạm Duy

 Ngày xửa ngày xưa ở ngay trên đất nước này, có rất nhiều người từ các nước trên thế giới tìm tới định cư. Họ mang văn hóa ngôn ngữ của nước họ tới và chia sẻ với nhau trong một vùng nào đó. Tuy nhiên để thích nghi với đời sống của con cái và chính mình, họ phải học hỏi ngôn ngữ và văn hóa của phần đất bao dung họ.

Cha mẹ của bà Emily cũng ở trong những thành phần này. Khi từ Việt Nam tới Mỹ, Emily mới lên 10 tuổi, từ tên Mỹ Lệ, đi học, Mỹ Lệ được đổi thành Emily và chắc chắn Emily nói tiếng Mỹ nhiều hơn tiếng Việt. Cha mẹ Emily cũng là thành phần có học ở Việt Nam. Mẹ là Giáo Sư Việt Văn cho một trường Trung Học Công Lập và Cha thì làm thông dịch viên trong ban Biên Tập cho Hãng Thông Tấn nhà nước. Sang Mỹ, cả hai ông bà cũng như những người khác vất vả hội nhập, kiếm việc trong một hai năm đầu, sau đó họ đều có việc làm tương đối hợp với khả năng của cả hai người, đủ để nuôi con ăn học, cho đến khi con lập gia đình.Vì có Mẹ là giáo sư Việt Văn nên Emily được  Mẹ tiếp tục dạy tiếng Việt, cô nói và viết tiếng Việt khá thông thạo. Mẹ cô nói:

–       Con phải nói tiếng Việt để mai kia Mẹ về già có người trò chuyện với Mẹ.

–       Mẹ biết tiếng Mỹ mà, Mẹ đâu có cần nói tiếng Việt với con.

–       Nhưng chắc về già, Mẹ sẽ nhớ quê hương xứ sở và thích nói tiếng Việt hơn con ạ.

Emily chỉ cười, cho là Mẹ cô hơi khôi hài, bà ở đây lâu quá rồi, cần gì tiếng Việt nữa. Cũng như cô, chỉ khi nào cần thiết lắm cô mới nói tiếng Việt với cha mẹ, thường cha mẹ hỏi gì bằng tiếng Việt, cô trả lời bằng tiếng Mỹ cho nhanh, vì thỉnh thoảng có chữ ít khi dùng tới, cô phải suy nghĩ, rồi dịch trong đầu trước khi nói.

Thoắt một thoáng, cô đã già hơn mẹ cô ngày trước, cái ngày gia đình cô tỵ nạn ở Mỹ. Bây giờ, mẹ Emily thành Cụ và Emily đã thành Bà.

 Cả mấy năm nay bà Emily vất vả với mẹ, Cụ bị suy sụp tinh thần từ khi chồng qua đời đột ngột vì bệnh tim cách đây hai năm. Bà Emily bước vào tuổi 50, vợ chồng bà vẫn còn đi làm và vẫn còn cô con út của ông bà đang học lớp 10. Mẹ bà rất yếu, cần nâng, vực, mỗi lần di chuyển, vệ sinh và tắm gội.

 Bà Emily thuê người về nhà chăm cho mẹ khi bà đi làm. Nhưng việc kiếm người cũng không dễ, phải thay đổi luôn. Đôi khi bà Emily phải ở nhà trông mẹ vì người phụ việc nghỉ bất tử. Cuối cùng mẹ bà nói:

–       Con cứ tìm “Nhà Già” cho mẹ vào, chứ con cứ phải nghỉ việc hoài mẹ nghĩ sẽ khó cho con.

Bà Emily không nỡ, bà nghĩ mẹ bà sẽ thấy buồn lắm, nếu phải vào Nhà Già.

Bà Cụ trấn an con gái:

–       Không sao, cuối tuần, con và các cháu vào chơi với mẹ. Mẹ nói được tiếng Mỹ thì không sợ không có bạn. Mẹ vào đó có người giúp, để mắt đến mẹ thì tránh được vấp ngã.

Sau cả mấy tháng đắn đo, cuối cùng đành phải đưa mẹ vào “Nhà Già”. Bà Emily kiếm được một chỗ khá gần nhà mình, sạch sẽ, giá cả cũng phù hợp với tiền hưu trí và tiền để dành của Bố Mẹ có trong quỹ. Có một điều ở đây toàn là người Mỹ, không thấy người Việt, bà sợ mẹ sẽ buồn, nhưng mẹ bà nói tiếng Mỹ thông thạo và đầu óc còn minh mẫn (chỉ cơ thể yếu đuối thôi) và chính mẹ cũng trấn an bà:

_ Đừng có lo lắng nhiều, Mẹ biết tiếng Mỹ mà con.

Đúng thật, Cụ vào Nhà Già mấy tháng là có bạn thân ngay và xem chừng Cụ thích nghi được, Cụ ăn ngủ ngon và lên cân. Có điều Cụ vẫn cần người săn sóc vệ sinh cá nhân.

Vợ chồng bà Emily và các con vẫn mỗi tuần vào thăm Bà Ngoại, rồi dần dần mỗi tháng hai lần, rồi mỗi tháng một lần. Cụ ở trong đó được hai năm, bà Emily vẫn thỉnh thoảng ghé mẹ, nhưng mấy đứa cháu ngoại, đứa đi học xa, đứa lấy chồng xa. Sự thăm viếng mỗi ngày một thưa, bà Emily mỗi lần nghĩ đến mẹ vẫn yên trí, mẹ nói được tiếng Mỹ, mẹ có bạn Mỹ, mẹ “Everything O.K.” Nếu mẹ không O.K thì người ta sẽ gọi mình.

 Sang năm thứ ba, mọi việc vẫn bình thường, khi vào thăm mẹ, bà thấy Cụ vẫn tỉnh táo, vui vẻ. Cho đến một hôm, Nhà Già gọi bà vào có việc muốn nói, bà hốt hoảng hỏi:

–       Mẹ tôi có sao không?

–       Không, Mẹ già của bà vẫn bình an, chúng tôi chỉ muốn gặp bà để nói chuyện về sự thay đổi của Cụ.

Bà Emily hấp tấp lái xe vào gặp mẹ, tí nữa thì tông phải cái xe phía trước, mắt bà bây giờ ở tuổi ngoài 50 cũng bắt đầu thấy kém đi nhiều rồi.

Emily tới nơi thì bà Quản Lý Nhà Già cho hay là Mẹ của bà, mấy bữa nay vẫn ăn, ngủ bình thường nhưng tự nhiên hình như quên mất tiếng Mỹ, hỏi gì Cụ cũng ngơ ngác và trả lời bằng tiếng Việt, nên người trông coi Cụ không hiểu được Cụ muốn gì và Cụ không muốn gì.

Emily ngẩn người ra hỏi:

–       Việc này đã lâu chưa?

Độ hơn 1 tháng nay, bắt đầu thì Cụ nói tiếng Việt lẫn vào tiếng Mỹ, sau đó thì chỉ hoàn toàn tiếng Việt và Cụ hình như không hiểu gì khi nghe lại bằng tiếng Mỹ.

Emily hỏi lại bà Quản Lý:

–       Bà cho tôi gặp Mẹ tôi ở phòng ăn được không? Bây giờ 3 giờ, ở đó đang vắng người.

–       Vâng, mời bà vào phòng ăn, để tôi gọi người đỡ Cụ ra.

Bà Emily phân vân không biết chuyện gì đã xẩy ra mà Mẹ mình tự nhiên lại quên hết cả tiếng Mỹ. Bà biết là Cụ rất khá, Cụ nói tiếng Mỹ ngang với tiếng Việt và Cụ lại là người thích đọc sách, đọc báo Mỹ.

Bà Cụ vừa thấy con gái thì mắt sáng lên, ríu rít nói bằng tiếng Việt, một tràng dài:

–       Sao con bây giờ mới tới, chắc cả gần ba tháng rồi, mẹ không thấy con. Mẹ muốn về nhà mình ở, ít ra mẹ và vợ chồng con còn nói chuyện được, ở đây họ nói toàn tiếng Tây tiếng Mỹ , Mẹ chẳng hiểu gì cả, buồn lắm.

–       Mẹ nói gì lạ vậy. Tiếng Mỹ của mẹ giỏi lắm mà. Tại sao lại không hiểu?

–       Không con ạ, con cho mẹ về, mẹ có biết tiếng Tây, tiếng Mỹ nào đâu.

Bà Cụ nói xong, ngồi thừ ra một lúc, rồi ứa nước mắt. Bà Emily thấy mẹ khóc, sợ quá, bà ôm vai mẹ nói.

–       Nếu mẹ thật sự muốn về thì con sẽ đón mẹ về, con chỉ còn hai tháng nữa sẽ nghỉ hưu, nhà con thì đã hưu từ năm ngoái. Con sẽ kiếm người phụ thêm ngày vài tiếng thôi. Con trông được mẹ.

Cụ mừng quá, rút tờ khăn giấy ra lau nước mắt đang thi nhau trào ra. Bà Emily ngạc nhiên vô cùng. Tại sao tự nhiên mẹ mình lại quên hết một ngôn ngữ cụ thông thạo cả 50 năm nay mà chỉ nhớ lại ngôn ngữ mẹ đẻ thôi. Bà cho rằng có thể vì muốn về với con cháu nên cụ nại cớ ra, nói dối không hiểu tiếng Mỹ.

Đón mẹ về nhà hơn một tháng, bà Emily để ý, Mẹ không nghe đài tiếng Mỹ, mỗi lần vợ chồng bà ngồi nghe tin  tức thì Cụ không tham dự, lăn cái ghế đủn của mình sang phòng khác, sách báo tiếng Mỹ cụ vứt vào thùng rác, nếu cụ đang ở gần thùng rác. Có hôm cụ cầm tờ quảng cáo của chợ Mỹ, cụ hỏi.

–       Con xem hộ mẹ có thuốc Bổ của mẹ hạ giá không? Mẹ không đọc được chữ Mỹ.

Bạn hàng xóm Mỹ sang thăm, cụ ú ớ không biết nói năng gì cả.

Bà Emily buồn lắm, không biết đầu óc của mẹ mình có vấn đề gì mà tự nhiên quên hẳn một ngôn ngữ mà Cụ đã thông thạo. Bà làm hẹn cho mẹ tới gặp Bác Sĩ Tâm Thần.

Ông Bác Sĩ sau khi khám cẩn thận sức khẻo cho Cụ, nói Cụ chỉ có bệnh lão hóa thông thường ở những tuổi 80 của Cụ thôi. Bác Sĩ nói thêm, thường người bệnh đang ở phút hấp hối, người ta quên hết các ngôn ngữ khác mà trước đây người ta đã học và chỉ biết ngôn ngữ mẹ đẻ thôi. Đây là một trường hợp hiếm là Cụ quên trong khi sức khỏe và đầu óc chưa lẫn. Bác Sĩ khuyên nên thỉnh thoảng nói tiếng Mỹ với cụ để đánh động cái phần trí óc quên lãng của Cụ.

Bà Emily về nhà nói chuyện với chồng, hai vợ chồng bàn nhau, hay là chỉ nói tiếng Mỹ với Mẹ, xem Cụ có nhớ lại không? Điều quan trọng không phải là Cụ không nói được tiếng Mỹ mà là sợ một phần nào đầu óc Cụ bị lãng và dần dần có khi cả tiếng Việt cũng không nhớ.

Khi hai vợ chồng bà bắt đầu thử nói tiếng Mỹ thì Cụ ngẩn người ra, lúng túng không trả lời, Sự lúng túng của Cụ thấy thành thật đến tội nghiệp, Cụ bắt đầu tránh mặt hai người và bỏ cả bữa ăn. Trong vòng hai tuần Cụ hốc hác hẳn và vẻ sầu não trông rất đáng thương. Cụ tự nhiên thành một chiếc bóng im lặng trong nhà vì bất đồng ngôn ngữ. Bà Emily sợ quá, vội vàng nói tiếng Việt lại với Mẹ và Cụ dần dần hồi phục.

Bà Emily nói với chồng:

–       Em nghĩ là mẹ về già, mẹ nhớ quê hương quá, mà ngôn ngữ là phần quan trọng nhất trong những điều một người xa quê nhớ tới. Chắc bây giờ óc của mẹ không còn sáng suốt như hồi trẻ, nó co lại rồi nên có bao nhiêu mẹ dồn hết cho tiếng “Mẹ Đẻ” của mình.

Bà lại đến tìm gặp Bác Sĩ Tâm Thần của Mẹ và nghe ông kể cho bà về những bệnh nhân già, quốc tịch khác nhau, mà ông đối diện với họ vào giờ cận tử. Ông kể là khi họ hấp hối thì họ toàn nói tiếng “Mẹ Đẻ” của họ với Bác Sĩ, Y Tá, không cần biết đó là ngôn ngữ xa lạ, không ai biết, một mình họ biết. Họ tìm về nguồn trong ngôn ngữ.Thật sự những ngôn ngữ bản xứ lúc đó không còn lại trong đầu óc họ nữa.

Bà Emily thương mẹ quá. Mẹ bà đã ở giai đoạn cận tử đâu, Cụ tuy có yếu đi, những vẫn hiểu biết, nghe và nói rõ ràng. Cụ chỉ quên mất cái ngoại ngữ mà Cụ đã được học, đã sử dụng hồi trẻ thôi. Bác Sĩ nói, có thể đây là trường hợp đặc biệt.

 Bà Emily lên mạng, tìm đặt mua sách Việt, băng nhạc Việt (mà chính bà cũng lâu lắm không đọc, không nghe) cho Cụ.

Cụ vui lắm khi mở nhạc Việt nghe. Cụ nói huyên thuyên về tên những Ca Sĩ, những bản nhạc Cụ được nghe từ thời ở quên nhà. Bà Emily thấy mẹ vui và khỏe ra thì cũng vui lắm, nhưng đôi khi nghe những bài hát vọng ra từ phòng mẹ, Bà tự hỏi: Liệu mình có bị di truyền bệnh này giống mẹ không? Nếu mình cũng quên hết tiếng Mỹ và chỉ nhớ và giữ  “Tiếng Mẹ đẻ” trong não mình, thì ai sẽ trò chuyện với mình. Con mình thì chắc chắn KHÔNG rồi, vì chúng nó chỉ bập bẹ đôi ba câu. Nếu chồng mình chết trước mình thì ai sẽ mua sách Việt, băng nhạc Việt cho mình? Thôi, không dám nghĩ tiếp nữa.

Một buổi sáng, Cụ muốn ra ngoài hàng hiên ăn điểm tâm. Bà Emily thay quần áo cho Cụ, rồi đủn xe Cụ ra chỗ có nắng ấm áp nhất. Cụ tươi tỉnh xem chừng vui lắm, ánh mắt cụ sáng lấp lánh trong bình minh, Cụ muốn Bà mang chiếc máy cassette nghe nhạc để bên cạnh, Cụ tự chọn băng cho mình. Bà Emily vào bếp pha trà, làm bữa điểm tâm cho hai mẹ con. Khi Bà mang ra thì nghe thấy tiếng hát Thái Thanh lảnh lót vang lên:

“Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời, người ơi, Mẹ hiền ru những câu xa vời….À ơi, tiếng ru muôn đời.” Bà mỉm cười, đặt khay thức ăn trước mặt mẹ, nói: Mẹ chọn bài này hay quá!

Cụ không trả lời, hai mắt Cụ nhắm lại, hai giọt lệ ứa ra ở hai khóe mắt, miệng Cụ như mỉm cười.

 Bà Emily đặt chiếc khay thức ăn xuống cái bàn nhỏ trước mặt mẹ,

Bà khụyu chân xuống nhìn sát vào mặt mẹ, bà thấy đầu Cụ như nghiêng về một bên, hai mắt vẫn nhắm và những giọt nước mắt nữa… và hình như Cụ không còn thở. Bà vòng tay ôm đầu Cụ ngã vào vai mình. Bà  yên lặng, vùi cái đầu đã hoa râm của mình vào mái tóc bạc phơ của mẹ.

 Tiếng Thái Thanh vẫn cất lên:

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…Nước Ơi!

 Trần Mộng Tú

Ngày 19 tháng 1 năm 2021 -Những ngày cuối năm nhớ nhà, nhớ nước.

Đất, Người và Mùa Xuân

Chỉ một chữ ngắn và vô cùng giản dị: “Đất” đã mang theo muôn vàn ý nghĩa với tất cả con người nói chung sinh ra trong thế giới.

Trong lịch sử loài người, có bao nhiêu quốc gia bị xâm chiến đất đai vì một quốc gia khác, hay có quốc gia bằng trực tiếp hay gián tiếp mang bán từng mảnh đất cho quốc gia hàng xóm. Người dân đang sống giữa hai ranh giới cũng bị bán đi mà không biết, để rồi chỉ một, hai thế hệ con cái về sau bỗng nhiên trở thành người nước khác mà không cần một lý do pháp lý nào. Bởi vậy, vào thời chiến, nhân loại ra sức bảo vệ đất đai của quốc gia  dù có phải tốn bao nhiêu xương máu của dân tộc mình. Vào thời bình, nhân loại cùng nhau bảo vệ đất bằng cách đặt ra Ngày Trái Đất (1)là ngày để nâng cao nhận thức và giá trị của môi trường tự nhiên của trái đất.

Người Việt nói riêng, coi đất như một phần xương thịt của mình. Đi xa ngàn dặm tìm cái sống nhưng khi chết chỉ mong được chết trên mảnh đất quê nhà, được đặt thân xác xuống đất quê mình, nơi ta gọi là: Quê cha, đất mẹ. Không ai muốn Sống nơi đất khách/Thác trên quê người  trừ trường hợp loạn lạc phải bỏ nước mà đi.

Cầm một miếng đất nhỏ trên tay, chúng ta có bao nhiêu điều suy nghĩ về đất:  Đất nước tôi; từ đất tôi sinh ra, tôi lại về với đất; đất lề quê thói; một tấc đất, một tấc vàng; đất là mẹ ta, đất là cha ta; đất cung cấp thực phẩm, đất nuôi ta sống.

Đất là nơi ta trở về tìm, đất là nơi ta gửi xương gửi thịt. Thậm chí khi ở xa  biết có người cùng quê sắp đến, cũng nhắn xin mang hộ tôi một nắm đất quê nhà. Giữ một nắm đất quê hương trong ngôi nhà trên xứ lạ mà có cảm tưởng như mình giữ được cả hồn thiêng sông núi của xứ sở mình.

 Ta sống với đất, vì trên mảnh đất cho ta một mái nhà, một nơi cư trú, sinh con cái, cha truyền con nối, dòng tộc đời nọ qua đời kia. Dưới mái nhà đó đã cho ta một gia đình với bao yêu thương đầm ấm, bao khó khăn vất vả để gìn giữ. Khi ta chết cũng đất là nơi tổ tiên ta gửi xương gửi thịt, nơi con cháu về vun xới những nấm mồ.

Trên mặt đất đó bốn mùa mưa nắng cho chúng ta Xuân, Hạ, Thu, Đông như tặng phẩm của Trời.

Ta gom góp công sức để mua sắm cho gia đình, cho dòng họ mình một miếng đất nhỏ, cất lên một mái nhà hay mua một thửa ruộng, một khu vườn để khai thác trồng trọt. Có những ngôi nhà, những thửa ruộng chuyền từ đời ông, đời cha, đời con, đời cháu. Họ sống trên đó và chết cũng được chôn xuống đó. Nên bằng mọi cách họ gìn giữ mảnh đất đó thật chặt, như ôm khư khư vào lòng. Hàng xóm thân thiết đến đâu, nếu tỏ lòng tham lam tìm cách lấn qua hàng giậu là mất lòng ngay, có khi đem tới chỗ kiện cáo nhau vì một thước đất. Họ sẵng sàng sống chết với ai đến giành hay cướp đất của họ. Của gia phả để lại, anh em chia nhau không đều là mất cả tình anh em. Cha mẹ trước khi qua đời, chia đất chia nhà cho con phải hết sức công bằng vì không muốn các con sau này oán hận, không nhìn mặt nhau chỉ vì một chéo vườn hay một góc ruộng hoang. Như vậy đất với người là một, không thể tách rời nhau ra.

Nhưng nếu con dân mà bị những bậc phụ mẫu (chính quyền) đến lấy đất thì chuyện gì sẽ xẩy ra. Không biết phải suy nghĩ và nói như thế nào cho đúng. Người dân Việt hầu như ở các thành phố, các tỉnh, ai ai cũng có thể lâm vào cảnh nhà đất bị nhà nước thu hoạch. Bao nhiêu xung đột giữa người dân và những vị lãnh đạo đã xẩy ra. Sự phẫn nộ, bắt bớ, đánh đập….Có khi dẫn tới cái chết.

Kinh hoàng hơn nữa khi nghĩ đến việc chính những nhà lãnh đạo đất nước lại mang đất nước cho ngoại bang thuê dài hạn cả thế kỷ. Chín mươi chín năm (99 năm) tức là 4 thế hệ: Ông Bà, Cha Mẹ, Con cháu, Chắt. Ai là người sẽ đứng ra để thu lại được mảnh đất người lạ đã làm chủ bốn đời. Ngôn ngữ của quốc gia mình cũng chẳng giữ được nói chi đến đất. Những chủ mới trong 99 năm đó đã biến “Xứ sở gốc” thành nước thứ hai của họ. Họ đến, họ ở lại và họ chiếm đoạt.

Ở đất nước Việt Nam xa xôi của tôi, nơi có những người dân bị chết, bị tù, bị mất nơi cư ngụ trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Thảm kịch lớn nhất xẩy ra vì “Đất” đã gây ra 4 cái chết (1 người dân, ba viên chức nhà nước) và 29 người bị kêu án nặng, từ tử hình đến chung thân. Vụ án đó có tên là thảm kịch Đồng Tâm mới xẩy ra gần đây (ngày 9 tháng 1.2020) Người chết, đã chết vì đất và người sống thì bị tù đầy nhiều năm cũng vì đất.

Mùa xuân đang đến, hoa lá rực rỡ từ thành thị đến thôn quê, vườn đất nào hoa cũng đua nhau hoa nở, nhưng trên mảnh đất Đồng Tâm đã nhuốm máu và nước mắt này liệu hoa còn nở, cỏ cây còn đơm lộc. Có ai tìm về nơi đó, đặt tay lên mặt đất nghe đất khóc dưới những ngón tay mình.

Mùa Xuân đến rồi, bạn có ngửi thấy hương thơm xông lên từ mặt đất, truyền vào hoa cỏ, trái cây và vào tận hồn mình. Hãy tận hưởng và cám ơn Thượng Đế, gọi nhau làm những điều tốt lành cho nhau, cho đất.

Trần Mộng Tú

Xuân Tân Sửu-2020

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.