thăm viếng đảo Réunion nơi thực dân Pháp lưu đày nhà vua yêu nước :Duy Tân

La Réunion est une île située dans l’Ouest de l’océan Indien, à l’est de l’Afrique, dans l’hémisphère sud. Elle constitue à la fois un département et une région d’outre-mer français.

D’une superficie de 2 512 km2, La Réunion est située dans l’archipel des Mascareignes à 172 km à l’ouest-sud-ouest de l’île Maurice et à 679 km à l’est-sud-est de Madagascar. Il s’agit d’une île volcanique créée par un point chaud : culminant à 3 071 m au piton des Neiges, elle présente un relief escarpé travaillé par une érosion très marquée. Le piton de la Fournaise, situé dans le Sud-Est de l’île, est un des volcans les plus actifs du monde. Bénéficiant d’un climat tropical d’alizé maritime et située sur la route des cyclones, La Réunion abrite un endémisme exceptionnel.

Vraisemblablement repérée dès le Moyen Âge par les Arabes sous le nom de « Dina Morgabin » (l’île couchant)2, La Réunion n’a été habitée qu’à compter du milieu du XVIIe siècle, soit environ 150 ans après son apparition sur les portulans des navigateurs portugais. Jusqu’alors connue sous le nom d’île Mascarin, elle devient sous celui d’île Bourbon, une escale de la Compagnie française des Indes orientales sur la route des Indes puis, à partir des années 1710, une véritable colonie pratiquant la culture du café. Devenue une société de plantation, elle passe sous le contrôle direct du roi de France dans les années 1760 avant d’être réaffectée à l’industrie de la canne à sucre au terme des guerres napoléoniennes. Elle est définitivement rebaptisée de son nom actuel et l’esclavage y est aboli en 18483, remplacé jusque dans les années 1930 par la pratique de l’engagisme.

L’île connaît une crise économique rampante à compter des années 1870. Elle devient département français en 1946 (code départemental 974) Elle est, depuis 2003, la collectivité territoriale d’outre-mer la plus intégrée à la République4. En dépit de son appartenance à la zone euro, son tissu productif reste structurellement fragile et fortement dépendant de la France métropolitaine. On y relève un taux de chômage particulièrement élevé, de l’ordre de 29 %, dont 60 % chez les jeunes5. Le premier secteur économique de l’île est aujourd’hui le tourisme. Le PIB est estimé à 14,5 milliards d’euros, le revenu moyen par habitant étant d’environ 18 000 euros par an.

D’après le dernier recensement, la population était, en janvier 2018, de 855 961 habitants6, principalement concentrés sur les côtes où se situent les principales villes dont Saint-Denis, le chef-lieu.

La démographie locale se caractérise par la jeunesse des habitants et leurs origines variées, à la fois européennes, ouest-africaines, est-africaines, malgaches, indiennes, annamites, malaises et chinoises. Cette diversité influence la culture réunionnaise caractérisée notamment par sa langue, le créole réunionnais, sa cuisine ou encore sa musique (séga, maloya…).

Phụ đính

Công Chúa Suzy Vĩnh San,Trưởng nữ của vua Duy Tân,tại đảo Réunion thuộc Pháp

· by lequangchac · in Tài liệu. ·

Công chúa Suzy Vĩnh San, Trưởng nữ vua Duy Tân

Mathilda Tuyết Trần

Image may contain: 1 person

Suzy Vĩnh San,trưởng nữ (công chúa ) của vua Duy Tân

Một ngày đầu thu, lá vàng bắt đầu rơi, dọc đường các rặng cây đổi mầu từ xanh sang muôn sắc lả úa vàng cho đến đỏ thẫm, tiết trời thay đổi từ lạnh (9°) cho đến dễ chịu (19°), trong cơn mưa tầm tã, tôi lên đường đi thăm công chúa Suzy theo lời “kêu gọi” của bà. Bà bảo tôi gọi thế cho thân mật, cũng như đến thăm bà cho đỡ buồn. Tên của bà, cũng như hoàn cảnh của bà, là cả một sự rắc rối lịch sử. Bà là một trong những con số ít ỏi công chúa triều Nguyễn còn sống, và là trưởng nữ của vua Duy Tân. Cuộc đời của bà, dù muốn dù không, mang dấu ấn của vua Duy Tân, gắn liền với những trang sử Việt Nam. Bà sinh ngày 06.09.1929, năm nay tròn 87 tuổi, tại Saint Denis đảo Ile de la Réunion, nơi vua Duy Tân bị Pháp đày đi từ năm 1916, lúc vua mới được 16 tuổi, giữa khi Đại chiến thứ nhất đang bùng nổ.

Gặp lại bà, tay bắt mặt mừng, bà hỏi chuyện về chuyến thăm nhà vừa qua của tôi, khi nào tôi lại về lần tới, thời tiết ở Việt Nam, nhất là sự ngập lụt vừa qua ở thành phố Hồ Chí Minh và rồi đến bão lụt ở miền Trung. Bà nhắc nhở Tết Việt sắp đến và phong tục Tết, lì xì, chúc Tết, và hỏi tôi Tết năm nay rơi vào tháng nào, tháng một hay tháng hai.

Bà ở một mình trong căn hộ nhỏ, có hai phòng, gần một thành phố cảng nhỏ ở vùng phía bắc biển Đại Tây Dương Pháp. Nơi này khí hậu ôn hòa hơn là ở sâu trong lục địa, ấm áp hơn, nhiều ngày nắng hơn, lại có ít nhiều du khách ghé thăm nên đông đúc nhộn nhịp hơn. Xưa kia, xuất phát từ những cảng biển của vùng Bretagne, tàu thuyền của nước Pháp đi chinh phục thế giới. Những thành phố ở Bretagne vì thế giầu có lên tột bực nhờ vào kỹ nghệ hàng hải, buôn bán nô lệ, gia vị, trà, cà phê, gỗ, ngà voi, vàng bạc…chiếm được với giá rẻ từ những nước kém phát triển.

Căn nhà được trang trí xinh xắn, trên vách là các tấm ảnh của vua Duy Tân, của mẹ, của gia đình, các bức tranh sơn mài cẩn xà cừ. Trong một góc phòng khách được dùng làm bếp, chất chứa những đồ vật kỷ niệm từ đảo Réunion.

Giọng bà trầm, vang rõ nội lực. Bà đi đứng còn vững, tuy phải chống gậy, nhưng chỉ đi được hai, ba trăm thước là mệt, phải nghỉ. Tinh thần còn minh mẫn, nhưng với thời gian nhiều kỷ niệm đã bị quên lãng. Cách đây hai năm, bà bị đột quỵ, bởi vậy nên con cháu mới đưa vào chung cư cho người già ở, thường xuyên có người gác để phòng khi. Phải rời căn nhà ấm cúng có vườn hồng thật đẹp ở trước nhà bà tiếc nuối lắm, căn nhà chứa đựng bao nhiêu là kỷ niệm của một gia đình lớn với 9 đứa con, và người chồng yêu quí đã qua đời.

Bà kể:” Mấy tháng đầu tôi buồn lắm, chưa quen ở đây, nhưng mà cuộc đời đã sang một giai đoạn mới, phải không cháu ! Bây giờ tôi lại thấy thích ở đây, cảm thấy được nhẹ gánh nặng. Những công việc hàng ngày, chợ búa, cơm nước, quét dọn, giặt giũ…tôi không phải lo nữa.”

Chúng tôi đi ra bến cảng, nơi những chiếc thuyền du lịch đậu mùa đông. Gió biển thổi lạnh ngắt ! Tôi đã nhỏ người, bà lại còn nhỏ hơn tôi, bà bám chặt tay tôi, bước từng bước một, thật chậm. Chúng tôi co ro, dìu nhau đi vào một quán bên cạnh bến càng, mọi người đang ngồi trong gió lạnh sát cạnh vào nhau để cho ấm.

Câu chuyện xoay quanh chủ đề Việt Nam có những gì mới, những gì vui, rồi lại trở về quá khứ, về chuyện cũ, chuyện của vua Duy Tân và của bà.

Bỗng dưng, bà nói, như vẫn nghĩ trong đầu:

“Cháu biết không ? Chưa chắc gì cha tôi, nếu về được Việt Nam, lại thành công !”

Cuộc đời nổi trôi đã đưa bà từ đảo Réunion, sang Madagasca, rồi về Pháp định cư. Sau những lần dọn nhà như thế là những sự mất mát đồ đạc và kỷ niệm. Bà cho tôi xem vài tấm ảnh của gia đình, phần lớn là ảnh sau khi vua Duy Tân đã qua đời. Trong thời gian ở đảo Réunion, hầu như không có mấy, có lẽ vì cuộc sống yếu kém vật chất.

Lúc sinh ra đời, bà mang họ mẹ là Antier. Cho đến khi vua Duy Tân tử nạn máy bay trên bầu trời nước Cộng hòa Trung phi, sau cuộc gặp gỡ với tướng De Gaulle vào ngày 14.12.1945, trên đường từ Paris trở về đảo Ile de la Réunion để thăm gia đình vào dịp lễ Giáng Sinh, máy bay rớt xuống ngày 26.12.1945 tại làng Bossako, thuộc vùng M’Baiki, La Lobaye, trên lãnh thổ Oubangui-Chari.

Ngày 22.07.1946 tòa án Saint Denis nhìn nhận những người con này là con đẻ của vua Duy Tân, và cho phép được mang họ cha. Nhưng vì sự không thông hiểu phép tắc đặt tên trong triều đình nhà Nguyễn nên trong sổ hộ tịch Pháp chỉ ghi tên vua Duy Tân là Hoàng tử VINH-SAN, chức vị là Hoàng tử An Nam, cho phép các con vua Duy Tân mang họ Vinh-San, lại không kèm theo chức tước, khiến cho bà và các em không được mang chức vị công chúa và hoàng tử nhà Nguyễn.

Vì thế, bà buồn bã nói:

” Năm tôi lên tám, một hôm cha tôi hỏi tôi rằng: “Con có muốn được cha nhìn nhận không ?” Với sự ngây thơ của một đứa trẻ con tám tuổi, tôi đâu biết phải trả lời cha tôi như thế nào ?! Bây giờ hối tiếc thì đã muộn.”

Trong thời gian ở đảo, vua Duy Tân lần lượt có 3 người vợ, không hôn thú, đó là các bà Anne-Marie Viale, bà Fernande Antier và bà Ernestine Yvette Maillot, khiến cho tất cả các con đều mang họ mẹ. Phong tục “Nạp phi” của triều đình nhà Nguyễn là lễ cưới của các vua, sau đó các bà vợ được tấn phong Đệ nhất giai phi (Hoàng quí phi), đệ nhị giai phi…, và phải được Tôn nhơn Phủ , Hội đồng Phụ chính, các bà hoàng mẹ và Cơ mật viện công nhận. Hoàng quí phi lúc bấy giờ của vua Duy Tân là bà Mai thị Vàng, con gái quan phụ đạo Mai Khắc Đôn.Sau khi cuộc khởi nghĩa chống Pháp thất bại vì bị Võ An, Trần Quang Trứ và Trùm Tồn tố giác, khiến cho các quan Thái Phiên, Trần Cao Vân…và nhiều người nữa bị Pháp xử tử hình, vua Duy Tân khẳng khái nhận tội cầm đầu cuộc khởi loạn, được quan đại thần Hồ Đắc Trung cứu khỏi tội tử hình, nhưng bị Tôn Nhơn Phủ, Cơ Mật Viện và Pháp xử phải bị truất phế và bị đi đày biệt xứ cùng với cha là vua Thành Thái.

Bà Suzy kể rằng:

” Gia đình cha mẹ tôi sống thanh bạch. Con cái không được hưởng quyền lợi gì cả. Cha tôi luôn từ chối tất cả hậu đãi của người Pháp. Chúng tôi không sống trong lâu đài, nhà chỉ là nhà thuê. Khi cha tôi chết, là cả một bầu trời sụp đổ. “Ngày 03.11.1916, chiếc tàu Pháp mang tên “Guadiana” đem hai vua, Thành Thái và Duy Tân cùng với người thân, đến đảo La Réunion đi đày, và cặp bến Points des Galles (Réunion) ngày 20.11.1916.

Khác với sự đối đãi với vua Hàm Nghi, đi đày ở Alger (Algérie) vào năm 1889 cho đến khi vua Hàm Nghi qua đời ở Alger năm 1944, vua Hàm Nghi được xã hội Algérie và người Pháp trọng vọng, tuy ngài cũng bị hạ xuống thành Hoàng tử An Nam, như Thành Thái và Duy Tân. Vua Hàm Nghi sống trong biệt thự, lâu đài, cưới con gái của ông chánh án tòa thượng thẩm Alger là bà Marcelle Laloe làm chánh phi, các con của vua đểu mang tước vị hoàng tử, công chúa, cuộc sống sung túc, đầy đủ, đem lại cho vua Hàm Nghi nhiều cảm hứng vẽ tranh, điêu khắc. Vua Hàm Nghi lại còn được phép đi Pháp, đi Paris. Mỗi năm, vua Hàm Nghi được Pháp cấp dưỡng 80.000 quan, trong khi vua Thành Thái chỉ được 30.000, còn vua Duy Tân bị ngược đãi nhất, vua chỉ nhận được 12.000 quan Pháp. Những số tiền ấy lấy ra ở ngân sách thuộc địa Đông Dương.

Cùng đi đày với vua Duy Tân, có mẹ là bà Nguyễn thị Định, em gái là công chúa Lương Nhàn (Mệ Cưỡi) 10 tuổi, và bà hoàng quí phi Mai thị Vàng. Nhưng bà Mai thị Vàng không chịu nổi cuộc sống xa quê hương, khí hậu của đảo và cuộc đời nghèo khó. (Theo Hồ sơ Duy Tân, Hoàng Trọng Thược). Nhà vua xin cho bà, mẹ và em gái hồi hương, chỉ sau mấy tháng, cả ba bà về Huế.

Vua Duy Tân ở lại một mình trên đảo, tách ly với cha là vua Thành Thái. Vua Thành Thái sống biệt lập với hai bà vợ, và các con, nhất quyết cự tuyệt mọi quan hệ với người Pháp, mặc dù trên quan điểm chính trị, hai cha con Thành Thái-Duy Tân đều cắt tóc ngắn theo phương Tây, chứng tỏ ý chí “thoát Hán”, truyền bá chữ quốc ngữ. Vua Thành Thái là người đã ký đạo dụ, cho giảng dạy chữ quốc ngữ ở các trường học.

Vua Duy Tân, khi ở Huế đã được giáo dục bằng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp, tiếp tục học hết bậc trung học ở trường Leconte de Lisle trên đảo, thi đậu bằng Tú tài Pháp, và tiếp tục theo học về Hiến pháp Luật và Dân luật.

Nhưng để đương đầu với nghịch cảnh, vua Duy Tân, trở thành chuyên viên vô tuyến điện, mở một cửa hàng sứa chữa, buôn bán dụng cụ vô tuyến điện, điện thoại, radio…ở số 41 đường Labourdonnais…

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Pháp Wateblet, vua Duy Tân nói ” Bị đày đến đảo Réunion khi mới 17 tuổi, tôi rất bỡ ngỡ, lạc lõng, không hạp thủy thổ nên bị sốt hoài, đã ba lần tôi bị chứng tiểu tiện ra máu, nhưng lần lần rồi cũng qua khỏi. Người dân bản xứ đối với tôi rất tốt. Phong cảnh của Réunion đẹp tuyệt, tôi đã đi viếng tất cả các thắng cảnh. Nhưng tất cả các thứ ấy không thể nào làm cho tôi quên được quê hương Việt Nam của tôi.” (trích Thái Văn Kiểm)

Bà Suzy thở dài:

“Cha tôi có quan hệ với những người luật sư, thi sĩ, quan lại hành chính Pháp. Raoul Nativel, một nhà thơ, là bạn của cha tôi. Mỗi buổi chiều cha tôi đều dành để tiếp khách…

Tôi thích nhất là cha tôi đàn vĩ cầm cho một mình nghe. Lúc cha tôi chết, tôi được 16 tuổi…Giáng sinh năm ấy chờ mãi không thấy cha tôi về, mãi sau mới được tin dữ. Giấy báo tử chính thức được gửi về cho Prince Bửu Lân ( Vua Thành Thái.). Gia đình không còn thu nhập của cha tôi cấp dưỡng. Tôi phải bỏ học ngay, tìm việc làm. Mà lúc ấy lương một tháng của tôi chỉ có 5 quan Pháp, một tháng, cháu biết không, 5 quan ! Gia đỉnh rất túng quẫn.

“Công chúa Lương Nhàn (Mệ Cưỡi), em gái vua Duy Tân, con của vua Thành Thái và Bà Nguyễn thì Định. Ảnh chụp năm 1947, sau khi vua Duy Tân bị tử nạn, bà sang đảo La Reunion đem ba đứa con trai của vua Duy Tân về Saigon ăn học (Georges, Claude, và Roger). Ngồi dưới chân bà trong ảnh là một cô con gái nuôi và Claude. MTT

Vua Duy Tân

Bà Fernande Antier, khi gặp vua Duy Tân thì mới có 14 tuổi (năm 1927). Trong khoảng 18 năm chung sống với vua Duy Tân bà hạ sinh tổng cộng 8 người con: Thérèse, Solange, André, Ginette, Suzy, Georges, Claude, và Roger, nhưng chỉ còn sống có 4 người con, mà Suzy là trưởng nữ.

Bà Suzy kể:

” Tôi tên là Rita Suzy Georgette Vinh-San, khi lấy chồng thì mang họ chồng là Rita Beauval theo hành chánh. Vua Thành Thái đặt tên Việt cho ba người con trai, không đặt tên cho tôi, nhưng tôi lấy tên Việt Nam là Nguyễn Phúc Lương Bình, vì tôi thích cười, thích hòa bình, hòa hợp. Các em tôi được ông nội đặt cho tên là Bảo Ngọc (Georges), Bảo Vàng (Claude) và Bảo Quý (Roger).

Bây giờ, hoàn cảnh đã làm cho mỗi người một nơi, cha tôi an nghỉ ở Huế, mẹ tôi được chôn cất ở Ruffec (Pháp). Claude vừa mới qua đời ở đảo Réunion. Lần thứ nhất tôi về Việt Nam là lần đưa hài cốt cha tôi về Huế, tôi được làm quen với Huế và Việt Nam. Sau đó, tôi có về Việt Nam bốn lần nữa, kể cả với chồng tôi. Tôi đã được đi thăm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Huế, thăm mộ cha tôi, ngôi mộ đã phủ rêu đen ngòm…

Tôi yêu Việt Nam, muốn về thăm lần nữa, nhưng không thể đi được nữa rồi, tuổi đã lớn, các con tôi không cho đi xa. Cha tôi đã trở về Huế, trở về với lịch sử Việt Nam, còn chúng tôi thì ở Pháp….”

Vua Duy Tân được an táng cùng với những người tử nạn máy bay tại nghĩa trang M’Baiki. Bốn mươi hai năm sau, năm 1987, hài cốt của vua Duy Tân được bốc từ nghĩa trang M’Baiki để chuyển về Huế, thể theo nguyện vọng của Vua và gia đình.

Một buổi lễ cầu siêu cho Vua Duy Tân được tổ chức tại chùa Vincennes ngày 28.03.1987 với sự tham dự đông đảo của nhiều nhân vật Pháp, Việt. Ngày 06.04.1987 vua Duy Tân an nghỉ vĩnh viễn tại An Lăng, Huế, cùng với cha là vua Thành Thái và ông nội là vua Dục Đức.

Sau khi người em gái cùng cha khác mẹ là Marie Gisèle Andrée Vinh San qua đời năm 2011 vì tai nạn đất sụp lở trên đảo Réunion, thì bà Suzy là người con gái ruột của vua Duy Tân duy nhất còn sống.

Tôi thấy bà và các con bà sinh ra đều có nét rất rõ của vua Duy Tân, nét Việt Nam, như một nửa của vua Duy Tân vẫn còn sống. Sau buổi trò chuyện, cuối cùng bà Suzy hỏi tôi về cách luộc gà của người Việt Nam, bà ở một mình, vẫn tự nấu ăn lấy mỗi chiều, và thố lộ món yêu thích nhất của bà là nem chua Huế.

Mathilde Tuyet Tran

:

Hoàng đế Duy Tân sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý 1900, là một trong những bậc quân vương nổi bật nhất của triều đình nhà Nguyễn. Mặc dù chỉ tại vị 10 năm nhưng ông đã đi vào lòng dân tộc như một vị vua trẻ thông minh thiên bẩm, có ý chí mạnh mẽ, và đặc biệt là có tấm lòng ái quốc yêu dân.

Dưới đây là một vài giai thoại thú vị kể về vị hoàng đế từ những ngày niên thiếu cho tới năm cuối đời, qua đó thể hiện khí phách anh hùng của một bậc đế vương.

7 tuổi:Một ngày lên ngai báu

Sau khi ép Thành Thái – vị hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn thoái vị, khâm sứ Pháp quyết định đưa một trong số những người con của Thành Thái lên ngôi. 

Hôm ấy, khâm sứ Fernand Ernest cầm danh sách các hoàng tử vào cung chọn vua, đến lúc điểm danh thì thiếu mất tiểu hoàng tử Vĩnh San. Thì ra cậu bé đang chui dưới gầm giường bắt dế, áo quần xộc xệch, mặt mày lem luốc. Thị vệ bèn vội vàng đưa Vĩnh San ra trình diện quan Pháp. Viên khâm sứ trông thấy tiểu hoàng tử có vẻ ngờ nghệch thì hài lòng lắm, ngay lập tức chọn cậu làm người kế vị ngai vua.

Nhưng người Pháp không ngờ là, tiểu hoàng đế mà họ tưởng rằng có thể dễ bề sai khiến kia đã đổi thay hoàn toàn ngay trong ngày đăng cơ. Cậu bé mới 7 tuổi nhưng lại tỏ ra chững chạc đường hoàng, nói tiếng Pháp với các quan Tây bằng một vẻ tự tin hiếm có. 

Sau này, thầy dạy tiếng Pháp cho nhà vua là tiến sĩ Ébérhardt cũng nhận xét: “Vị hoàng đế này sẽ là một nhân vật quan trọng”. Còn theo lời của ông Brieux thuộc Hàn lâm viện Pháp thì: “Cậu vua con nói tiếng Pháp cũng khá”, nhưng “đôi khi lại thốt ra những câu nói xấc xược”. Những câu nói ‘xấc xược’ ấy chính là những lần vua thể hiện thái độ cứng rắn và quyết tâm chống Pháp đến cùng.

8 tuổi: Ta chỉ nhận 200 đồng mà thôi

Năm 1908, ở Trung Kỳ nổ ra vụ kháng thuế, dân chúng chiếm cầu Tràng Tiền suốt nhiều ngày mà quân Pháp không sao dẹp được. Nhưng khi xe vua ngự giá ngang qua, mọi người lại kính cẩn lùi sang hai bên đường cho xe đi.

 Vua Duy Tân thấy cảnh dân chúng đói khát đang đòi được giảm thuế, ngài ứa nước mắt nói với triều thần: “Trong nước hay có loạn là vì dân thiếu thốn. Lương của ta 500 đồng mỗi tháng, từ nay ta chỉ nhận 200 đồng thôi, còn 300 đồng ta giao cho các thầy đem giúp

12 tuổi: Vương Tam – Tây Tứ

Năm 1912, viên khâm sứ Mahé của Pháp mở chiến dịch ráo riết tìm vàng. Mahé lấy tượng vàng đúc trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào mộ lăng vua Tự Đức tìm bảo vật, sau lại cho người đào xới trong cung điện để tìm kho báu. Vua Duy Tân bèn ra lệnh đóng cửa hoàng cung phản đối người Pháp, sẵn sàng tuyệt giao với các quan Tây. Cuối cùng, Pháp phải triệu quan toàn quyền Albert Sarraut từ Hà Nội vào Huế giải quyết, vua mới hạ lệnh cho mở hoàng thành.

Cũng cùng năm ấy, Duy Tân được mời tới dự tiệc ở tòa khâm sứ Trung Kỳ. Một viên cố đạo Pháp vừa thông thạo tiếng Việt lại rất giỏi chữ Hán đã đề nghị cùng nhà vua đối chữ. 

Viên cố đạo viết vào mẩu giấy hai chữ: “Vương Tam” (王三), ý muốn nói: “Rút ruột vua, tam phân thiên hạ”. Chữ “Vương” là vua, nếu rút đi nét sổ dọc ở giữa sẽ tạo thành chữ “Tam”, ngụ ý chia nước ta thành ba kỳ Bắc, Trung, Nam để dễ bề cai trị.Vế ra khá hiểm hóc lại xoáy vào nỗi đau của dân tộc, nhưng vua Duy Tân không nao núng liền phê vào đó hai chữ: “Tây Tứ” (西四), như một lời khẳng định: “Chặt đầu Tây, tứ hải giai huynh”. Chữ “Tây” gồm chữ “Tứ” cùng với hai nét dọc và một nét ngang ở trên đầu. Nếu bỏ đi phần đầu sẽ tạo thành chữ “Tứ”, ý là tứ hải giai huynh, bốn bể đều là anh em, chỉ khi đánh đuổi kẻ xâm lăng mới có thể có được tình giao hảo bốn phương.Thoạt trông cứ ngỡ nhà vua cùng với viên cố đạo đang chén trà đối ẩm, nhưng kỳ thực lại là cuộc đấu trí thông qua ngôn từ. Và bằng vế đối sắc sảo của mình, vị vua trẻ An Nam đã dõng dạc thể hiện quyết tâm chống Pháp.

16 tuổi: Lấy giúp tôi, nhưng phải lấy cho trọn bộ!

Năm 1916, vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp cùng với Việt Nam Quang phục Hội. Kế hoạch bại lộ, vua bị người Pháp bắt giam ở đồn Mang Cá. Mặc cho cả quan khâm sai và viên toàn quyền hết lời thuyết phục ngài trở lại ngai vàng, ngoan ngoãn làm một vị vua bù nhìn cho Pháp, nhưng vua vẫn kiên quyết chối từ. Ngài nói: “Các ông muốn tôi làm vua nước Nam thì phải coi tôi là vị vua trưởng thành và có quyền tự do hành động”. 

Theo báo L’Echo Annamite (Tiếng vọng An Nam), vị vua trẻ chỉ chấp nhận trở lại ngai vàng khi được “nắm giữ đầy đủ các quyền hành của một quốc vương tự do và vĩ đại”. Quyết định ấy của nhà vua sau này được sử sách triều Nguyễn mô tả là: ‘Vứt bỏ ngôi báu như chiếc giày rách, dấn thân vào gió bụi bôn ba’.Trước ngày vua lên tàu để bắt đầu hành trình đi đày tới đảo La Réunion ở Ấn Độ Dương, đại diện tòa khâm sứ Pháp đến thăm và hỏi: “Hiện kho nội vụ vẫn lưu trữ quỹ tiền riêng của nhà vua, vậy ngài có cần lấy ra một ít để mang theo không?”. 

Vua khẳng khái đáp: “Tiền đó là để dành cho ông vua cai trị nước Nam, chứ không phải của tôi – một người tù. Tôi không cần có tiền riêng”.

Đại diện tòa khâm sứ lại hỏi: “Tôi biết ngài đam mê đọc sách, tủ sách của ngài chất đầy rất nhiều sách quý. Ngài có muốn lấy một bộ nào đọc cho khuây khỏa không?”.

Vua vui vẻ gật đầu: “Sách tôi rất thích. Vậy phiền ông lấy giúp tôi bộ ‘Lịch sử cách mạng Pháp’ (Histoires de la Révolution Française) của Michelet, nhưng phải lấy cho trọn bộ!”.

Viên đại diện tòa khâm sai mặt biến sắc, không ngờ ngay trước cuộc đi đày tưởng chừng như vô vọng, vua vẫn nung nấu quyết tâm chống Pháp tới

.25 tuổi: Còn nhiều vận hội giữa năm châu

Trong những năm đi đày trên đảo La Réunion, cựu hoàng Duy Tân sống một cuộc đời thiếu thốn, phải chật vật kiếm sống từng đồng, nhưng vẫn không ngừng nuôi hy vọng trở về cứu nước: Khi thì ông gửi thư đến báo L’Humanité bày tỏ nguyện vọng nước Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia độc lập như mọi quốc gia châu Âu khác, khi lại gửi đơn lên Bộ Thuộc địa Pháp xin được ân xá, lúc lại tình nguyện gia nhập quân đội để được rời La Réunion, thoát khỏi cảnh đi đày…

Bên cạnh đó, vua âm thầm học hỏi và nghiên cứu kỹ thuật vô tuyến điện, thiết lập một trạm truyền phát tin để theo dõi tình hình chiến sự trên thế giới. Nhờ đó ông có thể mở toang cánh cửa chật hẹp của hòn đảo heo hút giữa đại dương, liên lạc được với thế giới bên ngoài.

Năm 1925, nghe tin Khải Định qua đời, vua Duy Tân trên đảo La Réunion đã ngậm ngùi viết đôi câu đối:

“Ông vội bỏ đi đâu, bỏ tiền, bỏ bạc, bỏ vợ, bỏ con, bỏ thầy tu, hát bội, bỏ hết trần duyên trong một lúc.

 Tôi may còn lại đó, còn trời, còn đất, còn nước, còn non, còn anh hùng, hào kiệt, còn nhiều vận hội giữa năm châu”

.Khác với hai vị vua An Nam cùng buông xuôi chấp nhận kiếp sống lưu vong là Hàm Nghi và Thành Thái, hoàng đế Duy Tân lại thể hiện một ý chí mạnh mẽ và niềm tin không bao giờ thay đổi. Đảo La Réunion như chiếc lồng chật hẹp giam giữ cánh đại bàng muốn được vùng vẫy giữa thiên khung, nhưng vua vẫn lạc quan tin rằng: Chỉ cần còn sống là vẫn còn cơ hội.

Và quả thực cơ hội ấy cuối cùng cũng đến, vua được phê duyệt vào bộ binh Pháp, rời khỏi chốn lưu đày, lên đường sang châu Âu. Ngài đã trực tiếp gặp tướng De Gaulle ở Paris, và cùng ông thảo luận về kế hoạch thống nhất Việt Nam. Chỉ tiếc là kế hoạch ấy mãi mãi không thể thực hiện, một vụ tai nạn máy bay đã chôn vùi tất cả, khiến đại bàng vừa mới giang đôi cánh đã phải vùi thân dưới một nắm tro tàn.

10 năm tại vị, 45 năm cuộc đời, lịch sử không ưu ái dành cho vua Duy Tân phút huy hoàng trên ngôi báu, nhưng lại khiến ông sống mãi trong lòng dân tộc Việt. Cuộc đời ông vang vọng hai chữ “Tự do” – niềm khao khát mà cho tới ngày hôm nay, chúng ta vẫn không ngừng tìm kiếm, không ngừng ngóng chờ. Hai chữ ấy đã viết nên huyền thoại Duy Tân, mà sau này con trai ông – hoàng thân Claude Vĩnh San – đã ví như là: “Một khúc đoạn lịch sử, một chốc lát vĩnh hằng”.

Khuyết Danh

Mai thanh Truyết ‘s phê tê bốc

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.