đọc tiếp truyện dài “Khi loài sâu biết khóc ” của Hoàng Thị Bích Ti-(chương 15, 16 và 17)

Hoàng Thị Bích Ti

KHI LOÀI SÂU BIẾT KHÓC !!

CHƯƠNG MƯỜI LĂM

Helen ngồi vắt hai chân trên mặt bàn. Những móng chân xinh xinh được tô vén khéo dưới một lớp móng sơn đỏ óng. Con Poncho nằm cuộn trong lòng nàng. Helen một tay ôm lấy đầu con mèo đen xám, tay kia không ngừng vuốt ve trên lớp lông dày mướt của nó. Trong căn phòng khách xinh xắn, đầy kín cây xanh, hai người bạn ngồi im lặng bên nhau. Tiếng hát của người ca sĩ da đen không ngừng kêu lên những lời vật vã. Tình yêu và thân phận con người chỉ là một phản ảnh rất nhỏ nhoi, rất tồi trong một điệu Blues ai oán. Bầy mèo của Helen tản mác khắp phòng. Con khoanh tròn dưới bàn ăn. Con nằm dài bên lò sưởi. Trong đám mèo, chỉ có con Poncho và con Cụt là đặc biệt hơn cả. Ngâu không biết con Poncho là loại mèo gì. Nó to gấp ba con mèo bình thường. Lông màu đen xám. Cặp mắt sắc lẻm. Hai con ngươi đen lánh như hai viên ngọc quí, đính lên hai tròng mắt màu vàng tươi. Bên cạnh vẻ cù mì, buồn bã của con Cụt, Poncho có phong cách tự tin của một chàng dũng tướng. Uy nghi. Lẫm liệt. Helen nuôi nó đã lâu, cưng chiều nó như con mọn. Con Cụt mình trắng toát, mập tròn như cục bột. Lần nào tới chơi với Helen, Ngâu cũng thấy nó leo lên cái bục gỗ chưng đầy những chậu lan và cây kiểng của Helen bên thành cửa sổ, đứng lặng lẽ bằng ba chân; mắt nhìn ra vườn cây. Trông nó cô đơn và tư lự như chàng thi sĩ bất chí, lúc nào cũng vật vã với những cơn thịnh nộ của tâm hồn. Helen mang nó về từ một phòng mạch thú y, nơi mà nó bị bỏ rơi vì người chủ cũ không thanh toán nổi tiền cho ông thầy thuốc. Chú mèo khốn khổ bị cưa mất một chân vì chứng ung thư. Không còn leo trèo, chạy nhảy như trước nên Cụt lúc nào cũng ưu tư, buồn bã. Nó không hề mè nheo, nhõng nhẽo như các con mèo khác trong nhà. Không những thế, cái chân cụt tạo thêm cho nó một vẻ khá đặc biệt, vừa kiên cường, vừa cam chịu với số phận.

Tiếng chuông điện thoại reo vang. Con Poncho giật mình vùng dậy, luống cuống làm xướt một đường trên cánh tay Helen. Helen la oai oái nhưng hai tay vẫn ôm chặt con mèo, bước nhanh về phía điện thoại. Giọng nàng hấp tấp:

“Jack? Anh đấy à? Oh, xin lỗi! Jack không có ở nhà.”

Helen gác điện thoại, trở về chỗ ngồi. Miệng quát con Poncho. Con vật sợ hãi phóng xuống ghế, lủi mất. Helen duỗi chân, phủi những sợi lông mèo đang bám đầy áo quần:

“Ở lại ăn cơm tối nghe Ngâu. Tớ đang nướng quiche trong lò. Jack mê món này lắm! Chắc Jack cũng sắp về tới rồi!… Mà không về cũng chả sao, mình cứ ăn trước .”

“Dạo này Jack ra sao Helen?”

“Cũng vậy thôi.. Jack là Jack!”

“Ổng còn lái xe buýt học sinh không ?”

“Còn, anh chàng thích công việc đó lắm! Gần mấy đứa con nít cũng vui! Một việc làm part-time không phải tốn nhiều đầu óc.”

Ngâu im lặng. Helen ngã người xuống ghế, nhìn bạn mơ màng:

“Ngâu có thích mèo không?”

Ngâu lắc đầu, thành thật:

“Không! Ghét cái tiếng kêu của nó ghê lắm!”

Helen cười nhẹ:

“Dâm quá phải không ?”

“Ban đêm nghe mèo kêu giống như tiếng khóc của mấy đứa bé chết oan!”

“Vậy sao?”

Helen cười khanh khách, vói tay lấy gói thuốc loay hoay mồi một điếu:

“Tớ thì thấy tiếng kêu ấy rất dâm. Rất tội nghiệp! Rất thống thiết và cô đơn. Như…một người lang thang suốt đêm, kêu gào, tìm kiếm một tình nhân. Có thể là chưa quen. Và cũng có thể đã chia tay rồi! Tìm hoài, tìm mãi. Canh này sang canh khác. Đêm này sang đêm khác. Những mối tình đầy lang chạ kia không làm sao lấp đầy được nỗi cô đơn trong tâm hồn của con mèo đó. Đêm xuống, nó gọi tình nhân. Tha thiết. Tuyệt vọng và đầy thống hận. Chắc hẳn đêm tối là một nỗi sợ hãi vô bờ của chúng nó.”

Ngâu cười:

“Nhà nuôi một đống mèo nhu vậy, nửa đêm nó kêu cho mà điên luôn.”

Helen cười dòn tan:

“Ấy! Mấy con này bị …kế hoạch hoá gia đình hết rồi, cho nên chúng đằm lắm! Tánh tình thay đổi hẳn đi. Vậy mà hay! Đàn bà không bị vướng chữ “Tình” thì chắc chắn cũng đằm như mèo …thiến vậy!”

Ngâu cười nhăn mặt:

“Chưa chắc! Sao Helen có lối so sánh gì mà kinh vậy? Mấy người …lãnh cảm có…đằm tí nào đâu? Nhiều bà cũng quạu quọ bỏ xừ!”

Helen càng cười lớn hơn:

“Ừ nhỉ!”

Con Poncho lủi đi chưa được vài phút lại thập thò đứng xa xa nhìn cô chủ nhân bằng ánh mắt …âu yếm.. Thoáng thấy nó, Helen vỗ tay xuống chỗ ngồi, kêu như con mọn:

“Tới đây cưng.”

Chỉ chờ có thế, chú mèo phóng tới nhanh như chớp, ngoan ngoản nằm dài bên cạnh Helen. Helen cười hiền:

“Thấy thương không Ngâu? Chúng nó là những đứa con của tớ đấy. Trời ơi! Thèm có con quá Ngâu ơi!…”

Ngâu ái ngại nhìn bạn. Đôi mắt Helen long lanh ướt. Nụ cười cô độc. Ngâu hiểu vì sao Helen như vậy. Một người chồng hiền lành, chịu đựng như Jack không thể nào lấp đầy những nỗi cô đơn và nghi ngại của Helen. Jack yêu Helen bằng một thứ tình cảm của một người cha dành cho một đứa con yếu đuối. Nhẹ nhàng. Rộng lượng. Chỉ vậy thôi! Không chút gì nồng nàn, đắm đuối. Sống với nhau cả chục năm nhưng Jack không hề muốn có con. Mỗi lần Helen nhắc đến con cái lập tức Jack liền gạt đi, bảo xã hội bây giờ không phải là môi trường tốt để nuôi con. Trừ việc con cái, những chuyện khác Jack đều chiều chuộng Helen. Chia sẻ như một người cha, người anh. Có thể, vì Helen chỉ hơn đứa con trai riêng của Jack chừng ba, bốn tuổi. Hoặc có thể, vì Jack quá mỏi mệt trong việc đi tìm hạnh phúc. Mặc dầu không còn chung chăn gối, nhưng họ vẫn ở với nhau. Cả hai đều như quá đuối sức để làm lại từ đầu, từ tinh thần đến vật chất. Với số lương về hưu khá cao của Jack và một việc làm part time , luôn cả tiền lương của Helen mới cho họ được một đời sống khá tươm tất. Căn nhà của họ nằm trên một ngọn đồi xinh xắn của một khu thượng lưu nhất ở thành phố. Có một dạo, Jack mang một người bạn về ở chung. Anh chàng cũng tên Jack. Trẻ hơn. Ấm áp hơn. Cả hai đều gọi đùa anh chàng này là “little Jack”. Jack lớn nghiêm chỉnh chừng nào thì Jack nhỏ vô tư và sốt sắng chừng ấy. Tiền nhà chia ba. Họ đùm bọc lấy nhau mà sống. Ba người thay phiên nhau làm việc nhà. Mỗi buổi tối họ ăn tối và uống rượu với nhau. Kể cho nhau từng mẩu chuyện nhỏ trong ngày. Và mỗi buổi tối, mọi người lặng lẽ rút vô phòng mình. Bình thản. Vui vẻ. Không lâu, Jack nhỏ âm thầm xách gói ra đi. Tiền nhà lại chia ra làm hai, một cách sòng phẳng.

Cuộc đời của Helen gắn bó với những con mèo hoang từ những ngày mới còn là đứa con gái mới lớn của một gia đình nông dân, sống êm ấm trong một nông trại hiền lành với ba cô em gái xấp xỉ tuổi mình. Ngày ngày cắp sách đến trường, chiều về lo việc đồng áng. Chủ nhật đi nhà thờ. Đêm đêm quây quần bên bố mẹ. Rồi đùng một cái, Helen bỏ nhà ra đi. Cô gái quê chọn ông chồng lớn hơn mình hai mươi sáu tuổi, trôi theo đời sống phố thị; cố quên hết những gì bỏ lại sau lưng. Ông bố của Helen chết hồi năm ngoái. Ngâu theo Helen về dự đám tang. Phần mộ của ông đã được mua sẵn trong một nghĩa trang nhỏ gần nông trại. Helen cương quyết bắt bà mẹ không được chôn cha ở đó. Vì sao? Chỉ có mình Ngâu và Jack lớn biết! Người mẹ hiền từ chiều theo ý con gái. Xác ông già được đốt thành tro, rải trên khắp những mẫu đất mà ông đã cấy cầy suốt cả một đời.

Chiều hôm đó, Helen đưa Ngâu tới một quán rượu. Hai đứa đi bộ qua một con dốc dài. Lúc ấy gần hết mùa bắp. Những luống bắp xanh um, cao hơn đầu người đang đơm lứa trái cuối mùa. Giữa cơn dốc, xen trong những cánh đồng là một nghĩa trang nhỏ bé. Những tấm mộ bia dễ chừng đã trăm tuổi, mọc lô nhô; cái cao, cái thấp chen lấn bên những ngôi mộ mới lấp. Mùa hè vừa ra đi. Không khí âm u, hoang dã đến chạnh lòng. Chiều xuống. Nắng lê thê trên đầu ngọn bắp. Mặt trời xuống thật thấp bên đồi cỏ. Những tia nắng vàng từ từ chuyển sang một màu tía bầm rồi lịm dần, lịm dần trong áng mây xám. Như nắp áo quan vừa khép lại; che kín tầm nhìn., lấp chôn sự sống. Con bò đen mở đôi mắt nâu to nhìn suốt ra phía đồng cỏ xanh, cất lên một tiếng kêu não nuột. Vài cánh chim bay vút vào khu rừng nhạc nắng , mất hút.

Quán rượu nghèo nàn, chỉ có vài cái bàn nhỏ thô sơ. Người chủ quán đứng sau quày nhận ra Helen, mừng rỡ:

“Oh, my sweet Helen! Vào đây, vào đây đi!”

Helen chồm lên quày gửi một cái hôn thật kêu lên má người đàn ông, rồi chỉ Ngâu:

“Chào bác, đây là cô bạn của cháu!”

Người đàn ông xua tay, miệng cười tía lia:

“Biết rồi! Đã gặp nhau ở nhà quàn rồi mà.”

Ngâu cười gật đầu. Ông chủ quán niềm nở:

“Ngồi đi, uống gì nào?”

Helen quay sang Ngâu, nheo mắt:

“Hai ly rượu đỏ đi bác!”

Ngâu nhăn mặt:

“Thôi Helen! Ngâu không biết uống đâu.”

Helen lấy điếu thuốc gắn lên môi, nói như nài nỉ:

“Tập uống cho quen! Chẳng lẽ, những thứ cay đắng như vầy mà bắt tớ uống hết một mình hay sao? Hôm nay tớ không muốn uống một mình đâu Ngâu ơi! Uống đi, rồi tớ sẽ kể chuyện cho nghe.”

Người chủ quán đẩy hai ly rượu trên quầy trước khi bỏ vào trong. Ánh đèn vàng chiếu xuống màu rượu long lanh. Gương mặt Helen lầm lì. Cô đưa mắt nhìn từng góc quán. Đôi mắt buồn vời vợi. Hai người con gái nâng ly. Một ly. Hai ly. Đôi má Ngâu đỏ hườm như quả dâu vừa chính. Khói thuốc từ đôi môi người đàn bà bay chập chờn dưới ngọn đèn chụp xuống, bay mênh mông trong vùng ánh sáng le lói. Cả hai ngồi trong im lặng. Chập lâu, Ngâu nhìn bạn lo lắng:

“Nghĩ gì vậy Helen?”

Helen cười nhẹ. Giọng nói nhừa nhựa như người mới thức dậy:

“Nghĩ chuyện ngày xưa. Ngày xửa ngày xưa…tớ đã vì một thằng con trai mà leo cửa sổ phòng để hẹn với hắn ở cái quán này! Cái giá mà tớ phải trả cho ngày hôm sau là một trận đòn đầy nước mắt, là một tuần lễ không được ăn cơm chung với gia đình, và hai chục trang giấy chép phạt, bưng bít những câu kinh. Lúc đó…mình chưa biết uống rượu. Và hắn, chỉ mới tập tành uống mấy chai bia. Ngày xưa, cái quán rượu rất tồi này là một thế giới quyến rũ. Tới đây, ngồi bên một thằng con trai và nghe nó nói toàn những chuyện ngu si nhưng dễ thương ra phết. Tới đây nghe nhạc, nghe những người đàn ông nói những điều không thể nói vào những sáng chủ nhật. Và để thấy mình không phải là một con bé nhà quê; cù mì và ngốc nghếch như một củ khoai tây.”

Helen uống cạn hết giọt rượu cuối cùng, đẩy cái lay không qua một bên. Ngâu nắm nhẹ cườm tay bạn, khẩn khoản:

“Về thôi Helen, bà cụ đang buồn lắm. Đừng say nghe. Mọi người đang chờ mình ở nhà.”

Helen gật đầu, móc ví thẩy tờ giấy bạc lên mặt quầy, ngoan ngoãn đứng dậy. Ông chủ quán trong bếp ló mặt ra chào, đôi mắt đầy ái ngại. Hai người im lặng đi ngược trở lại con đường nhỏ. Mặt trời chìm lỉm cuối cánh đồng. Chiều le lói. Màu nắng đã biến thành những tia tím bầm yếu ớt, lướt thướt cuối dãy ruộng bắp xanh ngút ngàn. Hoàng hôn mênh mông. Gió lay cành bắp. Cành lao xao. Lá lao xao. Người đàn bà đi bên cạnh Ngâu bước chênh vênh trên con đường đất gập ghềnh. Nàng đang khóc bằng đôi mắt khô ráo. Môi cười hư hao. Những lọn tóc nâu rớt xuống, đong đưa trên vai. Gió lướt thướt trên đầu cỏ. Ngang qua bãi tha ma, Helen tần ngần đứng lại nhìn. Đôi cánh cổng rỉ sét, khép hời hợt. Helen run rẩy mồi một điếu thuốc, quay lại nhìn Ngâu thật nhanh, nét mặt lạnh như băng thép:

“Vào đây Ngâu; bao nhiêu năm nay, mỗi lần về thăm nhà tớ đều không dám nhìn cái nghĩa địa này. Khốn nạn! Chẳng lẽ, mỗi lần đi ngang qua đâu tớ cứ phải cúi đầu, sợ hãi.”

Ngâu chưa kịp có phản ứng gì, đã bị Helen nắm cườm tay kéo băng băng vào nghĩa địa. Len lỏi qua những dãy mộ bia, những luống cỏ cắm đầy bình hoa nilon sặc sỡ, rẻ tiền, Helen đứng trước một ngôi mộ lớn khuất sau một hàng phong. Tấm bia cao sừng sững như một bức tường con. Helen thẩn thờ buông tay Ngâu ra, gương mặt trắng bệch, chỉ vào ngôi cỗ mộ:

“Chỗ này đó Ngâu!… Đêm hôm ấy trăng sáng lắm! Lạnh lắm! Sương mù trắng lắm! Thằng con trai đưa đứa con gái về, và lôi cô tới đây. Ban đầu bằng những lời van xin, nài nỉ. Sau là một cuộc dằng co và những cái tát tai ghê gớm. Lúc đó, nghĩa trang không có một bóng người, trên con dốc cũng thế! Hoang vu lắm! Dễ sợ lắm. Những ngôi mộ này nhìn thấy hết. Cả con mèo đen nữa. Con mèo đen khốn khổ bị hắn đá văng vào góc mộ bia. Và người con gái bị hắn đè xuống cỏ. Đứa con gái nằm đó, nghe tiếng khóc của mình đang hoà chung trong tiếng ai hoài, nỉ non của loài côn trùng. Ngâu có bao giờ được nghe tiếng khóc của loài sâu không hở Ngâu? Những con sâu ẩn mình trong lá cỏ. Chắt chiu từng chút thân phận của mình, từng những ngày tháng ngắn ngủi, đầy sợ hãi của mình. Mơ. Mơ một ngày hoá bướm. Một ngày được thoát kiếp sâu tằm, không bị cuộc đời dẫm nát. Chúng sẽ tung mình ra khỏi vỏ kén. Chấp cánh bay. Bay . Bay. Bay tới vườn địa đàng. Đường bay dài dịu vợi và biết đâu chúng sẽ không bao giờ tới được. Nhưng ít ra, chúng có được những ngày hạnh phúc trong nắng ấm. Khi loài sâu biết khóc là khi nỗi đau khổ của con người đã trở thành vô biên, vô vị. Thượng Đế ở trên cao làm sao nghe được tiếng kêu của chúng nó phải không Ngâu? Tiếng kêu thấp lắm…nhỏ nhoi lắm Ngâu ơi! Cúi xuống! Cúi xuống đi! Cúi xuống! Ngâu sẽ nghe được tiếng khóc của nó! Cúi xuống, Ngâu sẽ nghe được cả tiếng khóc câm lặng của chính mình.

Ngâu biết không? Giữa những tiếng khóc âm thầm kia, đứa con gái nghe nghịp thở của thằng con trai hồng hộc, hổn hển trong tiếng vỗ cánh của bầy dơi đêm. Và tiếng cười của hắn khoan khoái bên tai. Càng lúc càng vang dội trong trí não. Như tiếng tru của một con sói dại. Man rợ và độc ác. Cuối cùng hắn bỏ đi. Con mèo đen ở lại với đứa con gái nằm tênh hênh trên vạt cỏ dầm sương. Lệ chan hoà. Máu chan hoà. Lệ rơi xuống đất. Máu nhỏ xuống đất. Đêm hôm ấy, đất chôn cất hết tất cả những huyết lệ của người con gái kia. Gọn gàng. Cẩn trọng. Như đã từng vùi chôn hết bao nỗi nhọc nhằn và xương thịt của con người, của cây cỏ.

Đất. Một nơi mà con người làm chỗ dung thân khi mới chào đời và khi vĩnh viễn nằm xuống. Đất, một chỗ mà cha mẹ tớ đã bám víu lấy suốt cả một cuộc đời.

Sáng hôm sau, cha mẹ nhìn thấy những vết bầm; đứa con gái phải nói dối là bị té vì leo cửa sổ. Đứa con gái bỏ nhà ra đi. Phá thai. Thằng con trai lớn lên, trở thành một tên đàn ông. Và những lần về thăm nhà, tớ vẫn thấy nó đưa vợ con đi lễ trong ngày chủ nhật. Và đứa con gái; trong những lúc ân ái với chồng, nó chỉ đạt được sự khoái cảm khi nghĩ tới một ngày nào đó sẽ có thật nhiều tiền. Nó sẽ mua bãi tha ma kia.., cuốc lên từng ngôi mộ. Những ngôi mộ câm điếc này, vô dụng này đã nhìn thấy nó kêu cứu, nhưng không giúp gì được cho nó. Bãi tha ma này đã chôn sống nó. Bao nhiêu năm nay, nó đã âm thầm đau đớn. Nhiều lúc , tưởng như không còn chịu đựng được nữa, nó muốn ngã vào lòng người cha yêu, khóc kể một lần cho hả hê. Nó là đứa con gái được cha nó yêu nhất. Yêu như yêu từng nắm đất, từng ruộng bắp, người hàng xóm, ngôi nhà thờ, người linh mục, những trang kinh và tất cả những gì mang ý nghĩa đến cho cuộc đời nông dân hiền hoà của ông. Nhưng nó không hề mở miệng được . Làm sao ông có thể chịu đựng nổi hở Ngâu? Ông đã yêu đời sống này biết chừng nào. Ông đã trân quý từng con người, từng cọng cỏ. Ông sung sướng khi nhìn thấy những luống hoa màu đâm hoa, kết trái dưới bàn tay chăm sóc của ông. Vậy mà đứa con gái yêu của ông lại bị đời quật ngã không chút thương xót. Phản trắc! Những gì tốt đẹp nhất, trong sáng nhất mà ông mong đợi ở đời sống này chỉ là một sự bất công, phản trắc. Làm sao ông có thể chịu đựng được khi thấy rõ mặt trái của cuộc đời. Và làm sao đứa con gái có thể nhẫn tâm để cho bố nó được an nghỉ ở cái chỗ khốn nạn này …phải không Ngâu? Khi màn đêm buông xuống, và những con ma bắt đầu thì thầm kể chuyện; ông sẽ đau khổ đến dường nào khi biết rằng đứa con gái mà ông yêu qúi nhất đã một lần chết tại đây. Và chính bãi tha ma này đã chôn cất những giọt máu đầu đời, chôn cả cuộc đời của đứa con ông.”

CHƯƠNG MƯỜI SÁU

Khi Huệ và hai đứa con gái vừa ra tới cửa thì chiếc xe buýt màu vàng đã bò lên khỏi con dốc. Huệ thảng thốt hối con. Ba mẹ con hớt hãi chạy bừa lên những đụn tuyết cho kịp chuyến xe. Chiếc xe ngừng lại trước mặt đám trẻ nhỏ. Lũ học trò quấn người trong lớp khăn áo, ì ạch leo lên xe gần hết. Người đàn ông chạy băng ra khoảng sân trước nhà, ơi ới gọi người tài xế. Chiếc xe nằm im, chờ đợi. Lão Paul đứng lẩn quẩn bên trạm xe. Huệ mệt lả. Hơi thở bốc thành khói, cô khoát tay hối hai con leo lên xe. Jennifer ngoái đầu đưa bàn tay nhỏ bé lên vẫy vẫy. Huệ quay sang lão Paul nói cám ơn. Người đàn ông co ro trong chiếc áo len dày, nói lí nhí gì đó với dáng điệu cứng ngắt. Chiếc nón nỉ trền đầu trùm kín. Cả hai đưa mắt dõi theo chiếc xe buýt, màu vàng nhịp nhàng lăn xuống cơn dốc. Người đàn ông nói bâng quơ:

“Hôm nay xe buýt đến hơi sớm bà nhỉ?”

Huệ cười:

“Dạ, mấy cháu cũng dậy trể đấy bác! Sáng nay, phải hét lắm tụi nhỏ mới xong bữa ăn sáng! Không có bác, tụi nhỏ đã bị trể xe rồi!”

Lão Paul cười hiền hoà. Đôi má đỏ au vì lạnh:

“Có con nhỏ thì phải vậy thôi! Người làm cha mẹ nào cũng trải qua hết!”

Huệ nhăn mặt:

“Cực lắm bác ơi!”

Lão Paul ngập ngừng:

“Hình như… bà là người Việt Nam?”

“Dạ.”

Người đàn ông gật gù. Giọng chìm như gió thoảng:

“Thằng con rể của tôi đã từng đi lính ở đó!… Cả thằng cháu ngoại lớn nhất của tôi nữa!”

Huệ co ro đứng im. Người đàn ông hỏi tiếp:

“Bà còn người nhà bên đó không?”

Huệ lắc đầu, đút hai tay vô túi áo choàng:

“Dạ không! Ba má cháu qua đời từ lâu!”

Người đàn ông gật gù:

“Thế à! Vậy cũng tốt…! Nếu không thì bây giờ mỗi người mỗi nơi!”

Như chợt nhận ra có một điều gì không ổn trong câu nói của mình, ông bật cười:

“Tôi lẩn thẩn mất rồi! Sinh ly, tử biệt đều đau lòng giống nhau phải không bà?”

Huệ cười bao dung, đưa mắt nhìn lướt qua khoảng sân nhà của người đàn ông. Ngọn cờ nằm se mình bên những cành phong còn vương lớp bụi tuyết. Trên lối đi vào nhà ông Paul, những đụn tuyết đắp thành hai hàng trắng xoá như nến lụn. Những cây đào khô giăng kín dây đèn, sáng cả một góc vườn. Huệ chỉ cái máng cỏ với các thiên thân và ba vua đứng quanh, trầm trồ:

“Đẹp quá! Bác làm hết hả bác?”

Già Paul cười xoà:

“Cả nhà đều bận rộn. Tôi quanh quẩn cả ngày cũng chán nên bày ra làm cho vui!”

Rồi lão Paul ngập ngừng:

“Hôm nào cuối tuần rảnh rỗi, mời ông bà và các cháu sang chơi.”

Huệ cười, cám ơn. Người đàn ông xoay lưng dợm bước. Như chợt nhớ ra điều gì, ông đứng lại nhìn Huệ, nhíu mày:

“Hôm qua xuống phố, tôi có gặp một người ăn xin rất quen. Hình như tôi có gặp qua hắn ở đâu đây. Bà có biết hắn không? Hắn là người Việt Nam đấy. Nói hắn ăn xin thì cũng không đúng lắm đâu! Người ta tự động cho tiền, cà phê, thuốc lá cho hắn thì đúng hơn!”

Huệ giật mình sững sợ. Linh tính cho cô biết gã đàn ông đó chính là Lâm. Huệ vội vàng hỏi tới:

“Ở đâu vậy bác? Ảnh ra sao rồi?”

“Nơi góc đường Columbus ấy! Trời tháng hai buốt giá như thế này mà hắn lang thang thật tội nghiệp! Hôm qua tôi có dúi cho hắn mấy đồng, nhưng hắn không lấy! Còn bảo là có đủ rồi!”

Huệ bần thần cám ơn người hàng xóm rồi quày quả xoay lưng từ giã. Lòng rối bời. Cô nhanh chân về đến nhà. Và trong lòng chỉ nghĩ đến một điều duy nhất là phải đi kiếm Lâm…

Suốt một buổi sáng chạy lòng vòng quanh phố, hình bóng của Lâm vẫn biệt tăm. Xế trưa, Huệ mệt nhoài. Cô tấp xe vào một quán cà-phê, cần một chút caffein cho tỉnh táo. Buổi trưa, quán vắng ngắt. Mùi bánh nướng bốc lên thơm phức. Một hai người khách ngồi trầm ngâm bên ly cà-phê bốc khói. Mỗi người mỗi bàn. Mỗi người một nét mặt. Bàn ghế lặng câm. Người cũng lặng câm. Huệ pha ly cà-phê, mang đến quầy trả tiền, rồi cũng tìm một chỗ ngồi xoay mặt ra đường. Người đàn ông da đen đi ngang qua khung cửa, bước chân khập khiểng, nhún nhẩy. Tấm áo dạ nhàu bẩn như tấm mền cũ. Đẩy cửa bước vào, hắn ngước mặt cười hồn nhiên. Nụ cười trẻ thơ. Ánh mắt lém lỉnh. Hai tay xoa vào nhau cho đỡ rét cóng, hắn cất tiếng kêu lớn:

“Hey honey, I am home. Merry Xmas”

Người đàn bà bán hàng đang lui cui bỏ thêm bánh vào tủ kính, ngẩng lên cười như nắc nẻ, giọng nói ngọt nhu kẹo đường:

“Hi Jimmy! Home sweet home. Merry Xmas my love. Cà-phê như thường lệ nhé!”

Hắn xoay tròn. Miệng huýt sáo một điệu nhạc vui. Bước chân lướt theo nhịp nhún nhẩy. Đôi giầy bám đầy bùn tuyết:

“Dĩ nhiên! Không có cà-phê của cưng thì làm sao tôi sống nỗi!”

Người đàn bà điềm nhiên chìa tay:

“Mười xu!”

Hắn lục lọi trong túi quần, miệng huyên thuyên:

“Mười xu…! Chỉ có mười xu thôi à? Tuyệt qúa! Mưòi xu mua được nụ cười, một ly cà-phê và một chỗ ngồi thật ấm áp.”

Hắn bốc mớ bạc cắc để lên quầy, cẩn thận đẩy ra t2ưng xu đến trước mặt người đàn bà. Cầm ly cà-phê nói vài câu bông đùa rồi lê từng bước về phía dãy bàn. Hắn chọn một chỗ ngồi đối diện với Huệ. Ánh mắt Huệ chạm nhẹ trên gương mặt hắn. Hắn nghiêng người chào cô một cách trân trọng, liếng thoắng. Huệ gật đầu. Hắn ngồi xuống, chậm rãi hớp một ngụm cà-phê. Bên ngoài, tuyết bắt đầu rơi lất phất. Huệ tuyệt vọng đưa mắt nhìn theo con đường chạy suốt suốt ra phố. Những chiếc xe lao vút qua dưới lớp mưa tuyết đang nhẹ nhàng đổ xuống. Huệ ngồi nhu thế lâu lắm! Mãi đến khi quán chỉ còn lại một mình cô và gã đàn ông da đen. Sự im lặng của Huệ khiến cho người đàn ông ấy không dám gợi chuyện. Mặc dù, thỉnh thoảng hắn vẫn nhìn cô bằng ánh mắt thân thiết, môi lúc nào cũng chực hé mở. Cô uống thêm hớp cà-phê sau cùng, uể oải đứng lên. Ném mạnh cái ly vào thùng rác, cô xô cửa bước ra ngoài trời. Lạnh. Ánh sáng yếu đuối của một buổi trưa mùa đông như ngọn nến sắp tàn lụi. Ẻo lả. Thoi thóp. Trên mặt đường, những vệt nước đen kịt chảy ra từ mấy đụn tuyết đang tan chảy bên lề đọng thành những vũng bùn nhỏ. Tuyết, không cònlà một màu trắng nguyên thủy của trời đất. Tuyết, cũng bị màu trần gian làm cho hoen ố. Ngước mặt lên trời, mây vần xám đục. Tuyết rụng. Từng cơn, từng cơn. Mỗi lúc một nhiều hơn, dày hơn. Người đàn bà ngửa mặt, chờ đợi từng giọt giá băng đang đổ xuống từ trời cao. Những cánh hoa tuyết chạm nhẹ trên da thịt để lại một cảm giác se sắt đến chạnh lòng…

CHƯƠNG MƯỜI BẢY

Lúc ông Thanh đến thì mọi người đã có mặt đông đủ. Những người đàn ông đang quây quần nơi phòng khách. Khói thuốc quyện với mùi xào nấu trong bếp toả ra ngầy ngật. Vợ chồng người chủ nhà niềm nở tiếp đón. Những người đàn bà nhìn ông soi mói. Tuấn, anh chàng họa sĩ chưa bao giờ có tác phẩm đang ngồi ôm cây đàn guitar trong lòng đánh tưng tưng. Người con gái chăm chú lật từng trang tập nhạc tìm bài hát. Gương mặt gẫy gập. Đôi môi màu bạc bóng nhẫy. Diêm dúa. Màu son bạc thếch khiến cho hàng răng hơi ố của cô trông không được sạch sẽ cho lắm. Cô khe khẽ hát vài câu trong một bài nào đó. Giọng hát sượng sần cất lên, chưa dứt hết một hơi đã vội vàng tắt ngủm. Như con diều bay là đà trên bãi cỏ rồi xiểng niểng té nhào, không một lời trăn trối. Nhưng cô vẫn thản nhiên cười trừ, và bàn tay lại lật túa xua qua vài trang kế tiếp. Chiếc váy dài xuống tận đôi giày cao gót cao lêu nghêu. Người đàn bà khác ngồi trong một góc ghế ồn ào xem cuốn album trong khi Thu, người chủ nhà, không ngừng nói về những nhân vật trong ảnh. Hoàng hăm hở giới thiệu ông với từng người. Những cái bắt tay đầy máy móc. Những nụ cười đóng trong khuôn sáo. Ông Thanh vừa ngồi xuống ghế, Hoàng đã vồn vã:

“Anh uống gì nào? Làm một ly cho ấm nhé?”

Ông Thanh cười gượng:

“Anh em uống gì thì cho tôi cái ấy!”

Hoành xun xoe. Những ngón tay mở ra:

“Nhà có Budweiser, Heineken, rượu chát và có nước mắm! Nước mắm nhé?”

Không đợi ông Thanh trả lời, Hoàng với tay lấy chai cognac trên bàn, đổ vào cái ly thủy tinh đặt sẵn trước mặt khách. Những giọt rượu vàng óng, lấp lánh. Xong, hắn tíu tít chuyển cho ông Thanh một tạp chí mỏng, in vụng về:

“Đây anh xem, đẹp không? Tạp chí “Thân Hữu” số 3 đấy! Bìa bốn màu nhé! Tranh của họa sĩ Tuấn nhé!”

Ông Thanh cười cười, đón lấy xấp giấy. Ông lật từng tờ xem có vẻ chăm chú trong khi một thanh niên khác nói bô bô:

“Ông chủ bút nhà mình nhất rồi! Cả thành phố chỉ có tờ báo này thôi đấy! Chị Hoành có bài thơ hay lắm cơ! Anh Đạt còn …”chuyển ngữ” ra một bài thơ trứ danh của Tagore. Anh Tuấn ngoài vẽ bìa ra còn cống hiến một bài về Chagall nữa ấy! Số sau mình sẽ đi luôn một bài về đại văn hào Dostoievski.”

Ông Thanh cười gượng gạo:

“Ai viết vậy anh?”

Tuấn ngừng tay đàn, chắc lưỡi, chỉ ngay một người nhỏ thó ngồi bên ly rượu với gương mặt đỏ kè:

“Thì bác sĩ Đạt sẽ…”chuyển ngữ” ra chứ còn ai trồng khoai đất này!”

Ông Thanh ngơ ngác, lờ mờ tự phân tích cái động từ mới lạ kia. Cả căn nhà ùa vỡ trong tiếng cười. Chờ cho mọi người lắng xuống, Hoành mới đằng hắng, trịnh trọng lên tiếng:

“Hôm nay anh em “Thân Hữu” tới hội họp đông đủ thật là vui! Ngoài chuyện vui chơi với nhau, anh thủ quỷ của “Thân Hữu”, anh Khuê, xin có vài lời thưa chuyện với các anh chị, trong tinh thần “Thân Hữu”. Vâng, xin mời anh Khuê…”

Người đàn ông tên Khuê nãy giờ vẫn ngồi im với thái độ nghiêm trang, nôn nóng chồm dậy tới gần hơn. Hai tay đan vào nhau. Mắt nhìn xuống bàn. Giọng trầm trầm:

“Dạ vâng, thưa các anh chị! Hôm nay thì nhóm Thân Hữu của chúng ta đã có ba số báo rồi! Về hình thức tuy còn đơn sơ, nhưng phí tổn không phải là không có! Lâu nay, tất cả anh chị em không ít thì nhiều cũng góp tay vô việc in ấn. Nhưng sức người có hạn! Ngoài việc tờ báo ra, chúng ta phải có một tiến trình xa hơn, duy trì sự tồn tại của “Thân Hữu”. Lâu nay, vài người trong anh em chúng tôi có kế hoạch viết một cái dự án nho nhỏ và tiến hành việc xin quỹ của tiểu bang…Muốn thực hiện được điều đó, chúng ta cần phải hoạt động tích cực hơn… Chẳng hạn như bước thêm vào lãnh vực cộng đồng tị nạn, hướng dẫn những người thiếu nhu cầu như xin việc làm, thông dịch, xin trợ cấp v.v..”

Ông Thanh từ tốn ngắt lời:

“Ngân quỹ dành cho người Việt Nam tị nạn lâu nay đã bị cắt gần hết! Hơn nữa, những năm gần đây không còn bao nhiêu người Việt Nam ở cái thành phố nhỏ bé này nữa! Ở đây đâu còn lại bao nhiêu người.”

Lần này đến phiên Hoành hấp tấp nói nhanh:

“Anh nói vậy chứ, cũng có người vẫn còn chưa hội nhập với đời sống mới. Như tuần vừa rồi chúng tôi phải nhờ chị Hoa đưa dùm gia đình kia đi bác sĩ, và vài người khác đi xin việc làm. Bởi vì mình chưa thật sự có một tổ chức nào đứng ra làm việc này nên họ không có ai để nhờ vã.”

Ông Thanh trầm ngâm, nói bằng giọng điệu mệt mỏi:

“Thật ra cũng có người cần đấy chứ không phải là không …Qúi vị có biết hiện giờ có một người thanh niên Việt Nam nửa điên, nửa tỉnh đang lang thang khắp vỉa hè; cơm không có ăn, áo không có mặc không? Trời lạnh như vậy, không hiểu anh ta sống bằng cách nào?”

Người con gái ngồi bên Tuấn reo lên:

“A, có phải cái anh chàng lang thang dưới phố không ạ?”

Ông Thanh làm thinh không trả lời. Mấy người đàn bà thì thào:

“Hình như anh ta tên Lâm thì phải.”

Vừa lúc đó, cánh cửa xịch mở. Một bóng người ngỡ ngàng bước vào nhà. Đôi giày bám đầy tuyết. Mọi người quay lại. Vài ba tiếng chào cất lên trong đám khách:”Thưa bác!”. Người đàn ông đưa tay chào, môi nở một nụ cười. Thu khẽ nhắc:

“Ba, ba coi chừng tuyết vấy vào thảm kìa!”

Người đàn ông lớn tuổi luống cuống đặt tờ báo đang cầm trên tay xuống nền gạch, líu quíu tháo giầy. Miệng bối rối trả lời con dâu:

“Ừ, ừ…Ba biết rồi!”

Vài người đứng dậy chào. Mắt nhìn ông chăm chú. Hoàng vừa rót rượu vừa ngó cha, nói nhỏ với mọi người:

“Ông cụ tôi…”

Người đàn bà lớn tuổi có vẻ thân thiết với Thu tấm tắc khen:

“Ông cụ có phước nhỉ ? Qua đến Mỹ mà còn có dâu với con trai như vậy.”

Hai người đàn bà kín đáo trao cho nhau một cái nhìn khó hiểu. Tuấn lớn tiếng hỏi:

“Bác mới về ạ!”

Người đàn ông đưa tay vuốt mái tóc bạc đã gần hết, vui vẻ trả lời:

“Vâng, anh”

“Bác vẫn khoẻ, thưa bác?”

Ông cười:

“Cám ơn! Tôi vẫn khoẻ..”

Và ông vội vàng nói nhanh:

“Các anh ngồi chơi, tôi xin phép nhé!”

Tuấn lễ phép dạ vâng, rồi thì thầm với mấy người bên cạnh:

“Ông cụ chăm lắm! Lúc trước, vừa đi làm vừa đi học. Bọn sinh viên ở đây nhiều khi phải kiếm cụ nhờ viết bài dùm nữa đấy!”

Nhìn người đàn ông suýt soát tuổi mình, vai vế khác nhau, ông Thanh ngượng ngập không biết phải xưng hô như thế nào. Ông lặng lẽ ngồi im, không nói năng gì hết. Người cha chào hỏi mọi người xong rồi lủi thủi bỏ vào phòng, ở miết trong ấy. Bên ngoài phòng khách, Hoành vẫn ồn ào tiếp khách. Trên bàn ăn, chén đũa bắt đầu khua rổn rảng. Mọi người đã vào bàn nhưng Hoành không nhắc nhở gì đến cha. Ông Thanh ngại ngùng cất tiếng:

“Ông cụ đâu? Mời ông cụ ra dùng bữa chứ!”

Tuấn nói nhỏ:

“Anh Hoành, mời bác ra ăn cơm đi chứ!”

Hoành quay qua nhìn vợ thật nhanh.

Thu uể oải đứng dậy đi vào trong. Khi mọi người đã ồn ào ăn uống, người đàn ông mới bước ra bàn. Quần áo chỉnh tề. Ông ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh ông Thanh. Câu chuyện xoay vần hết đề tài này đến đề tài kia. Người cha âm thầm lắng nghe trong chịu đựng, thỉnh thoảng mím môi cười một mình. Nhũng mẩu chuyện trong bàn tiệc xoay vần về Lâm, một người đồng hương đáng thương. Họ dự trù sẽ kiếm Lâm. Vì tình đồng hương, vì lòng từ thiện. Sau bữa cơm, hai người đàn ông lớn tuối ngồi lại bên lò sưởi hồng ấm áp và bình trà nóng, nhắc lại từng con đường, từng địa danh của thành phố đã mất tên. Những người khác đã kéo ra phòng khách, vây quanh anh chàng nhạc sĩ. Cuộc chơi bắt đầu. giọng hát nhão nhoẹt của người con gái đang cố đuổi theo tiếng đàn của chàng hoạ sĩ. Đàn đi một đường, giọng hát đi một nẻo. Xập xình. Xập xình.

Bên ngoài; trời căm căm, rét mướt. Gió hung hăng, xới tung những lớp tuyết nhẹ như bông vừa vun từng lớp trên mặt đất. Trên bộ salon diêm dúa, có người nào còn nghĩ đến Lâm? Đêm nay, như nhiều đềm sẽ đi qua, người con trai Việt Nam kia đang kiệt sức vì đói cơm, rét áo. Không một đốm lửa hồng. Không một tấm chăn êm. Khi trời uống zero độ, anh có thể sẽ chết co quắp. Nỗi đau khổ sẽ tan đi. Không còn đau khổ, không còn bất hạnh thì không còn những nhà từ thiện. Và giấc mơ hoà bình đối với anh sẽ vĩnh viễn không còn cần thiết nữa!….

(còn tiếp)

Bích Ti

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.