vẫn chuyện “vớ vẩn”(bâng quơ) của đại đức thich lon Vo Nhat Thu: Tam Văn Lé

Thich lon Vo Nhat Thu

Chuyện Tam Văn Lé

May be a cartoon of fire

Anh Tam Văn Lé, có người bảo là Tam Văn Lế, nhưng tra theo chứng minh nhân dân cũ thì ko phải, tên ảnh là Lé chứ ko phải Lế vì ảnh thứ ba, mắt bị lé nên gọi ảnh là Tam Văn Lé.

Khi còn thiếu nhi anh Lé đã là người yêu nước. Hằng ngày ảnh đi bán vé số, cực lắm! Không mua nổi xe máy nên ảnh chỉ mua xăng, uống để chạy bộ.

Hồi nớ tụi thực dân Pháp ác kinh lắm! Chúng độc quyền ngành xăng dầu, muốn tăng thì tăng, muốn giảm thì giảm. Lần nớ chúng tăng tới 3 lần trong một tháng rưỡi, cộng lại tăng đến gần 4 đồng bạc (đông dương) một lít. Dân tình chạy xe ôm, Grab điêu đứng, anh Tám cũng rứa!

minh hoạ nhe bé-Thương lắm(ngày xưa ôn cũng rứa)

Bữa nớ, tức quá không chịu được, anh Tám đến chỗ cây xăng Thị Nghè, dùng hết tiền vốn bán vé số, mua xăng uống đầy một lít chạy bộ. Ảnh lấy trớn, há mồm, bật cái quẹt ga. Lửa bắt, cháy vô bụng. Xăng mới đổ một lít nhưng đít thì một lỗ nên khi cháy, khói xì ra lỗ đít làm cháy lớp quần, khi ảnh nhào về phía trước, vô tình thân mình ảnh như hình mũi tên, xăng cháy trong bụng xịt khói ra lỗ đít tạo nên một động cơ phản lực, đầy cây tên người bay vèo về phía cây xăng.

Tụi Pháp không cách chi chạy theo kịp để ngăn chặn được “cây đuốc sống” đang phụt lửa ở lỗ miệng, xì khói ở lỗ đít, tông mạnh vô cây xăng. Cây xăng bốc cháy ngùn ngụt rồi nổ đùng đùng (riêng chi tiết nổ ni, ông Quảng Bphone nghiên cứu, so sánh mức độ nổ, ổng bảo đó là tiếng đánh rắm do hiện tượng xì khói vì đổ một lít chứ ko phải do cây xăng bị nổ. Chuyện còn tranh cãi lắm nên tui nói để biết thôi chứ ko phải là chuyện chính)

Ngày hôm sau, tụi Pháp đau lắm! Nhưng vì sự phản kháng của cây đuốc sống í mà chúng phải lên báo Thanh Niên tuyên bố là Nhà Nước bảo hộ giảm mạnh giá xăng với mức giảm đến 0,1 đồng so với lần vừa rồi (nên nhớ lần gần nhứt chúng tuyên bố nhà nước bảo hộ tăng nhẹ giá xăng lên mức gần… 1 đồng bạc!)Dẫu sao ngọn lửa Tam Văn Lé, đã làm cho bọn Thực dân Pháp rã rời chân tay luôn!

Nhưng sau đó, ông Niệu (giọng Hà Lam (hay Nam) gọi niệu nhưng ko biết ổng là Liệu hay là Niệu) thấy chuyện hay, nhân lên làm hình ảnh điển hình cho tinh thần yêu nước rồi viết thành gương anh hùng.

Chuyện qua biên tập, gặp ông tổng biên tập dân Quảng Nôm ổng sửa mắt lại cho hết Lé thánh Lế, tức Tam Văn Lế, rồi làm căn cước công dân cho ảnh có tên là Tám.

Từ đó anh Tám ngang nhiên hóa thân thành Ngọn đuốc sống rồi ngẫng cao đầu, mỉm cười đi vào lịch sử và văn học.

(Tb có sửa chữa)

thich lon Vo Nhat Thu

Về câu chuyện Lê Văn Tám 

24/12/2009

May be a cartoon of fire

Trần Huy Liệu tác giả của anh hùng Lê Văn Tám

Bấy giờ là vào đầu những năm 60 của thế kỉ trước, tôi có nhiều dịp làm việc với GS Trần Huy Liệu trong công trình khoa học do GS chủ trì và tôi được mời tham gia. Lúc đó, GS Trần Huy Liệu là phó chủ nhiệm Uỷ ban khoa học xã hội, kiêm Viện trưởng Viện sử học. Ngoài những buổi họp ban biên soạn ở cơ quan, tôi có một số buổi làm việc với GS tại nhà riêng. Ngoài công việc biên soạn công trình, GS thường trao đổi một cách thân tình nhửng vấn đề thời sự sử học trong và ngoài nước, kể lại một số chuyện trong đời hoạt động cách mạng của mình. Trong những năm 1954-1956, khi tôi đang học ở trường Đại học sư phạm Văn khoa Hà Nội, GS Trần Huy Liệu có đến giảng một số bài về cách mạng Việt Nam. 

Về câu chuyện Lê Văn Tám, tôi xin được tóm lược một cách đầy đủ lởi kể và lời dặn của GS Trần Huy Liệu mà tôi đã lĩnh hội như sau: nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10-1945 và loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh, nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã dựng lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét. GS còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay và hôm sau bình luận là một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì gục ngay tại chỗ hay nhiều lắm chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS tự trách là thiếu cân nhắc về khoa học nên có chổ chưa hợp lý. Đây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ  để xác nhận thêm. 

Tôi nhấn mạnh là GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thỉ Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên”, theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẫm xăng đốt cháy  kho xăng địch. GS giải thích là thời Nam Bộ kháng chiến, có bao nhiêu tấm gương hi sinh vì Tổ quốc, nhưng “dựng” chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ dến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách Mạng tháng Tám. Lúc bấy giờ GS Trần Huy Liệu đang giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng  anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta. Cũng xin lưu ý là GS Trần Huy Liệu giữ chức Bộ trưởng Bộ thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời từ ngày 28-8-1945 đến ngày 1-1-1946, rồi Bộ trưởng Bộ tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp lâm thời từ ngày 1-1-1946 cho đến khi thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại kỳ họp Quốc hội ngày  2-3-1946, nghĩa là trong thời gian xãy ra sự kiện Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy, chứ không phải trong thời gian “1946-1948? “ sau sự kiện trên. 

Điều căn dặn của GS Trần Huy Liệu là: sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Trong câu chuyện, GS có tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Đây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí tôi mà tôi coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử. GS Trần Huy Liệu là một con người rất trung thực, không muốn để lại một sự ngộ nhận trong lịch sử do mình tạo ra trong một bối cảnh và yêu cầu bức xúc của cuộc kháng chiến và tôi lĩnh hội lời dặn của GS như một trách nhiệm phải thực hiện một cách nghiêm túc. 

Trên dây là tôi trình bày tóm tắt nội dung câu chuyện Lê Văn Tám theo lời kể và lời dặn của GS Trần huy Liệu. Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học. 

Ngày nay, từ đầu thế kỷ 21 nhìn lại, trong hoàn cảnh chiến tranh đã lùi xa vào qúa khứ hơn 30 năm, đất nước đã giành lại độc lập, thống nhất, tôi xin đặt ra hai vấn đề sau đây dể thế hệ chúng ta cùng bàn luận : 

-Xác minh rõ sự kiện Kho xăng địch bị đốt cháy trong tháng 10-1945. 

-Thái độ ứng xử đối với biểu tượng Lê Văn Tám. 

Vấn đề thứ nhất là cần cố gắng sưu tầm các tư liệu đáng tin cậy để xác định rõ hơn sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy trong tháng 10-1 945. 

Tôi nói tư liệu đáng tin cậy trong trường hợp này không phải là các sách báo viết về sau nầy mà là tư liệu gốc khai thác từ nhân chứng lịch sử hay những thông tin trực tiếp từ sự kiện thời bấy giờ và dĩ nhiên đều phải đối chiếu, xác minh một cách khoa học. 

Về nhân chứng lịch sử, tôi đã có dịp hỏi GS Trần Văn Giàu lúc đó giữ chức Chủ tịch UBKC Nam Bộ thì GS khẳng định có sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy và trong tình hình lúc đó là do ta đốt, nhưng không biết ai tổ chức và người nào thực hiện. 

Nhà Cách Mạng lão thành Dương Quang Đông trong hồi ký viết rằng : người đốt Kho đạn Thị Nghè ngày 1-1-1946 không phải là Lê Văn Tám mà là tổ chức đánh mìn của công nhân nhà máy đèn Chợ Quán ( tạp chí Xưa & Nay số 154 (202 ) – 2003. 

Còn tư liệu báo chí bấy giờ thì tại Thư viện quốc gia Hà Nội lưu giữ đươc rất ít, các số báo lại không đủ. Bước đầu tôi mới tìm thấy thông tin liên quan với Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy trong báo Quyết Chiến là “cơ quan ủng hộ chính quyền nhân  dân”, tòa soạn đặt ở phố Nguyễn Tri Phương, Thuận Hóa; báo Cờ Giải Phóng là “cơ quan tuyên truyền cổ động trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương” và báo Thời Mới do Nguyễn Văn Luận làm chủ nhiệm, nhưng các số không liên tục, không đủ.Báo Quyết Chiến số ngày thứ sáu?-10-1945 đưa tin dưới tít lớn Một chiến sĩ ta tẩm dầu vảo mình đốt cháy kho dầu Simon Piétri với nội dung như sau : “Một gương hy sinh vô cùng dũng cảm. Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình tự làm mồi lửa đã đốt được kho dầu Simon Piétri, lửa cháy luôn hai đêm ngày. Đài Sài Gòn trong buổi truyền thanh  17-10 công nhận rằng kho dầu này đã hoàn toàn bị thiêu ra tro, sự thiệt hại đến mấy chục triệu đồng. Ngày phát hành số báo, in ra ngày “thứ sáu”, số ngày không rõ và có người viết thêm bút mực con số 7, tiếp theo là tháng “10-45”. Theo lịch năm 1945, trong tháng 10 có ba ngày thứ sáu là 12, 19 và 26. Trong bản tin có nhắc đến buổi phát thanh của Đài Sài Gòn ngày 17, vậy ngày thứ sáu của tờ báo phải sau ngày đó và có thể xác định là ngày 19-10-1945. 

Báo Thời mới số 6 ngày 28-10-1945, nhân lễ khai mạc Ngày Cứu quốc do Tổng hội sinh viên cứu quốc tổ chức, đăng bài Những chuyện cảm động của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến ở Nam bộ, có đoạn kể lại câu chuyện đốt kho xăng ở Sài Gòn theo lời kể của một người từ Nam Bộ ra Hà Nội ngày 21-10-1945 như sau: “Một người bạn tôi ở Nam bộ vừa ra đây hôm hai mươi mốt kể cho tôi nghe nhiều điều tai nghe mắt thấy ở Nam Bộ để chứng cho cái tinh thần kháng chiến anh dũng đó. Thứ nhất là chuyện anh dân quân tẩm dầu vào người, đốt cháy kho ét-săng và cao su sống ở Sài Gòn. Có người nói rằng nhà chiến sĩ tuẫn quốc này tự nguyện xin mặc áo bông giầy tẩm săng rồi lấy lửa tự châm mình như một cây đinh liệu, xông vào kho cao su sống kia. Không phải thế. Làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại khi chưa tới cửa kho. Thực ra thì nhà chiến sĩ của chúng ta đã phải dùng mưu nhiều lắm. Trước khi vào, anh em mọi Pleiku của chúng ta lừa lúc giặc Pháp canh phòng không cẩn thận trèo lên những cái cây to ở xung quanh kho cao su, bắn tên độc vào những người gác ở bốn bề. Nhà chiến sĩ, nhằm chính lúc cơ hội thuận tiện đã đến, tẩm dầu vào người, đeo súng liên thanh, bò qua tường vào trong khu cao su tìm bắn những người Pháp. Chúng bâu lại như đàn ruồi. Chiến sĩ Việt Nambiết không thể làm hơn được nữa, bắn lia lịa vào những thùng ét-săng ở hai bên, ét-săng tràn ra cả nhà. Chiến sĩ ta châm một mồi riêm vào người, nhảy lên đám thùng rỗng, chửi rủa giặc Pháp tàn tệ. Trong lúc đó, cả mình mẩy anh bừng bừng lên. Anh vẫn chửi rủa giặc Pháp cho đến khi gục nằm xuống như một đấng thiên thần hiện ra rồi mờ đi trong giấc mơ dữ dội. Những người đứng xa ngoài ba mươi cây số còn trông thấy ngọn lửa đám cháy này trong hai ba ngày đêm liền. Giặc không thể nào rập tắt”. 

Báo Cờ giải phóng số ra ngày 25-10-1945, đưa lên trang đầu hình ảnh một người đang bốc cháy xông về phía trước kèm theo lời “Tinh thần anh dũng của đồng báo Nam Bộ muôn năm”. 

Báo Cờ giải phóng ngày 5-11-1945, trong mục Mặc niệm: “trích đăng một vài tấm gương xung phong anh dũng đã được nêu lên trên mặt báo chí miền Nam”, có đoạn đưa tin: “Trước kho đạn Thị Nghè có rất đông lính Anh, Ấn, Pháp gác nghiêm ngặt, khó bề đến gần phóng hoả. Một em thiếu sinh 16 tuổi, nhất định không nói tên họ, làng, tình nguyện ra lấy thân mình làm mồi dẫn hoả. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm sầm vào kho đạn. Lính Anh đứng trong bắn ra như mưa. Một lần trúng đạn, em ngã nhào xuống, nhưng rồi ngồi dậy chạy luôn vào. Lính Anh khiếp đảm bỏ chạy ra ngoài. Một tiếng nổ. Em thiếu sinh tiêu tán cùng kho đạn Thị Nghè của giặc”. Dưới bản tin có ghi chú “Kèn gọi lính, ngày 8-10-1945”. Như vậy báo đưa tin theo tin báo Kèn gọi lính ngày 8-10-1945 và theo đó, kho đạn bị đốt cháy phải trước ngày 8-10-1945, ít ra à ngày 7-10-1945. 

Trên đây là một số thông tin lấy từ báo chí ờ thời điểm gần nhất với sự kiện liên quan đến chuyện Lê Văn Tám. Tôi hi vọng là những người quan tâm đến chuyện này có thể tìm kiếm và thu thập thêm thông tin báo chí mà tôi chưa được tiếp cận. Còn sự kiện quân ta phá nổ kho đạn của địch ở Sài Gòn ngày 8-4-1946 mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến trong hồi kí Những năm tháng không thể nào quên thuộc giai đoạn sau, không liên quan đến chuyện Lê Văn Tám. 

Trong những báo trên, thông tin sớm nhất là Kèn gọi lính do Báo Cờ giải phóng trích đăng ngày 5-11-1945. Rất tiếc là tôi không tìm thấy báo Kèn gọi lính mà căn cứ theo đoạn trích của Cờ giải phóng. Theo thông tin này thì “một em thiếu nhi 16 tuổi” đốt kho đạn Thị Nghè trước ngày 8-10-1945, chứ không phải kho xăng Thị Nghè trước ngày 8-10-1945. Báo Quyết chiến ngày 19-10-1945 lại đưa tin “kho dầu Simon Piétri” bị “một chiến sĩ ta” đốt cháy vào trước ngày 17-10-1945. Kho đạn ở Sở thú và kho xăng ở Thị Nghè là hai địa điểm gần nhau. Như vậy theo những thông tin gần thời điểm xảy ra sự kiện thì vẫn còn phải tìm thêm cứ liệu để xác định là kho đạn hay kho xăng và thời điểm là ngày nào, chắc hẳn trước ngày 17-10-1945. Rồi người thực hiện là “em thiếu nhi 16 tuổi” (Kèn gọi lính) hay “một chiến sĩ ta” (Quyết chiến) hay “anh dân quân tẩm dầu vào người” (Thời mới). Việc tẩm xăng vào người, lúc đó cũng đã gây sự bàn luận. Thời mới đã bác bỏ chuyện người chiến sĩ  tẩm dầu xông vào kho xăng vì “không phải thế, làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho” và cho rằng người chiến sĩ “dùng mưu nhiều lắm” để lẻn vào gần kho xăng rồi mới “tẩm dầu vào người”, dùng súng bắn thủng các thùng xăng và châm diêm vào người, nhảy vào đám thùng xăng. Không biết tác giả dựa trên căn cứ nào về tính khách quan, cách trình bày này hợp lí hơn. 

Với những thông tin đã tập hợp, tuy chưa đủ và còn một số khía cạnh chưa xác minh được (kho xăng hay kho đạn, thời điểm, người đốt) nhưng sự kiện kho xăng (hay đạn) của địch ở Thị Nghè (hay gần Thị Nghè) bị ta đốt cháy là có thật. Ngay lúc đó, trên báo chí đã xuất hiện những thông tin khác nhau về người đốt và cách đốt kho xăng, tuy nhiên có điểm chung là gắn với hình ảnh một chiến sĩ tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch và không có tên Lê Văn Tám hay tính danh của người chiến sĩ đã hi sinh. Điểm lại những tư liệu đã thu thập được thì càng thấy rõ, trên cơ sở sự kiện có thật và cả dư luận về hình ảnh người chiến sĩ tẩm xăng thời đó, GS Trần Huy Liệu tạo dựng nên biểu tượng “ngọn đuốc sống” gắn với tên tuổi thiếu niên Lê Văn Tám. 

Vấn đề thứ hai là cách ứng xử đối với biểu tượng “Ngọn đuốc sống của Lê Văn Tám”. 

Trong bàn luận cũng có người nghĩ rằng, “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” đã đi vào lòng dân rồi, các nhà sử học không cần xác minh nhân vật đó có thật hay không, làm ành hưởng tới một “biểu tượng”, một “tượng đài” yêu nước. Tôi quan niệm hoàn toàn khác. 

Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Dĩ nhiên, với trách nhiệm công dân, có những sự thật trong một bối cảnh cụ thể nào đó liên quan đến bí mật quốc gia hay ảnh hướng đến lợi ích sống còn của dân tộc, nhà sử học chưa được công bố. Về nguyên lý, mọi kết quả nghiên cứu sử học càng khách quan và trung thực, càng có tác dụng tích cực xây dựng nhận thức lịch sử đúng đắn và không có gì mâu thuẫn với các biểu tượng lịch sử, các tượng đài yêu nước có già trị được nhân dân tôn vinh. 

Ngay đối với những biểu tượng mang tính huyền thoại, truyền thuyết như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Con Rồng-Cháu Tiên, Phù Đổng Thiên Vương, nỏ thần An Dương Vương, vua Lê trả gươm thần ở Hồ Hoàn Kiếm …, kết quả nghiên cứu khoa học chỉ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cốt lõi lịch sử của biểu tượng. Ví du những phát hiện khảo cổ học về đồ sắt trong Văn hoá Đông Sơn, kho mũi tên đồng ở Cổ Loa và gần đây, hệ thống lò đúc mũi tên đồng ngay trong thành Nội của thành Cổ loa, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn cốt lõi lịch sử của hình ảnh ngựa sắt của Thánh Gióng, vai trò của nỏ thần của An Dương Vương. Chuyện vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm vẫn nguyên giá trị thiêng liêng, không hề bị ảnh hưởng bởi việc nghiên cứu giống rùa và tuổi thọ của rùa Hồ Gươm. 

Biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” thực sự đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu vào tâm thức của nhân dân, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý chí xả thân vì nước của quân dân ta trong buổi đầu của Nam kỳ Kháng chiến. Một số đường phố, trường học, công viên hiện nay đă mang tên Lê Văn Tám. Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám. Đó không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật, nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hi sinh vì tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng. Trả lại nguồn gốc thật của biểu tượng này là để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám. Tôi nghĩ rằng tất cả các đường phố, trường học, công viên… mang tên Lê Văn Tám vẫn để nguyên, vẫn được tôn trọng như một biểu tượng với nội dung giải thích đúng sự thật và ngăn chặn mọi ý đồ dựng lên lý lịch Lê Văn Tám như một nhân vật có thật rồi có ngừơi lại nhận là hậu duệ của nhân vật này. 

Đến đây, tôi đã làm tròn trách nhiệm đối với lời dặn của cố GS Trần Huy Liệu, kèm theo một số đề xuất để xử lý câu chuyện Lê Văn Tám. Tôi hoàn toàn không coi đấy là việc làm trái với phẩm chất trung thực hay lương tâm của nhà sử học, cũng không ảnh hưởng đến uy tín của GS Trần Huy Liệu và càng không làm đổ một biểu tượng hay tượng đài yêu nước. Tôi nhấn mạnh, theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.