Nhà văn Mỹ John Steinbeck-Nobel văn chương 1962- và chiến tranh Việt Nam-Ngô Thế Vinh

chuyện xưa tích cũ(nhân ngày 30/4)

BS Ngô Thế Vinh

NHÀ VĂN JOHN STEINBECK TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

May be a black-and-white image of one or more people and beard

Nhà văn John Steinbeck được trao giải Nobel văn chương cho toàn sự nghiệp văn học vào năm 1962. Ông có 2 con trai với bà vợ thứ hai: Thomas Myles Steinbeck, là con cả sinh năm 1944 và John Ernst Steinbeck IV là con thứ sinh năm 1946. Tới giai đoạn Mỹ tham chiến ở Việt Nam, cả hai con trai Steinbeck đều tới tuổi quân dịch và bị động viên.

May be an image of one or more people and people standing

Khi John IV, đứa con thứ 2, vừa xong lớp tập huấn quân sự và sắp lên đường sang Việt Nam, Steinbeck hãnh diện dẫn con tới thăm và bắt tay TT Lyndon B. Johnson tại Phòng bầu dục, Tòa Bạch Ốc. John IV, tới Việt Nam trong vai trò phóng viên chiến tranh, làm cho đài phát thanh và truyền hình quân đội Mỹ, trấn đóng ở Pleiku. Rồi tới đứa con trai cả Thomas Myles Steinbeck cũng nhập ngũ trấn đóng ở Fort Ord, California và có thể cũng sẽ phải sang Việt Nam.

Khi Mỹ quyết định ồ ạt đưa quân qua tham chiến ở Việt Nam (1965), Steinbeck tuy không còn trẻ nữa ở tuổi 63, giữa cao điểm cuộc chiến tranh đang leo thang, ông có ý định sang thăm Đông Nam Á trong vòng 5 tháng. Steinbeck không xa lạ gì với chiến tranh, từng là phóng viên chiến tranh trong Thế chiến II. Lần này Steinbeck đến Việt Nam, vẫn như một phóng viên chiến tranh cho tờ báo Newsday, Long Island, New York. John Steinbeck đã đi khắp miền Nam Việt Nam, trong vòng 6 tuần lễ [từ tháng 12-1966 tới đầu năm 1967].

Từ lâu, Steinbeck đã có thái độ khinh mạn các nhóm phản chiến, xem họ như thành phần bạc nhược khi so sánh với những người lính Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam. Ông không chỉ lên án họ, Steinbeck còn có ý tưởng kỳ lạ là phải đem bọn phản chiến này thả vào đường mòn Hồ Chí Minh để xem bọn chúng sống ra sao. Do danh tiếng của Steinbeck với giải Nobel và cả mối liên hệ quen biết với TT Johnson, Steinbeck được đối xử rất đặc biệt, di chuyển với máy bay riêng thường cùng đi với cấp chỉ huy quân sự cao cấp Mỹ, kể cả với tướng William Westmoreland, và Steinbeck cũng thường xuyên được “briefing – tường trình” về tình hình chiến sự với bức tranh màu hồng về tương lai thắng lợi của Mỹ ở Việt Nam.

May be an image of 1 person and text

Thường ban ngày có mặt nơi chiến trường, nếu không quá xa Sài Gòn và không phải ở lại qua đêm, buổi tối Steinbeck trở về khách sạn Caravelle, dùng bữa tối trong một nhà hàng sang trọng trên lầu 9, từ nơi đây vẫn có thể thấy ánh hỏa châu và cả tiếng trọng pháo từ xa vọng về. Đặt chân tới Việt Nam, ngay từ đầu, Steinbeck bị mê hoặc với những vũ khí tối tân của quân đội Mỹ, điều mà ông chưa từng được thấy trong Thế chiến thứ II. Như khi ông chứng kiến những chiếc máy bay DC3 “Hoả Long – Puff the Magic Dragon” trang bị những cỗ đại liên với hỏa lực khủng khiếp, chỉ trong vòng vài giây có thể nhả đạn 50 ly bao trùm khắp một sân banh rộng lớn khi lâm trận như một con rồng phun lửa. Steinbeck rất chủ quan cho rằng, “với trang bị vũ khí tối tân như vậy làm sao mà Mỹ có thể thua cuộc chiến tranh trước đám địch quân quê mùa ấy”.

Steinbeck cũng từng đeo súng M-16 ra bãi tập bắn. Có điều mà Steinbeck không được cho biết là, khác với khẩu AK của VC, súng M-16 trang bị cho lính Mỹ lúc đó thường bị hóc đạn ngoài trận địa; scandals chết người đó đã không bao giờ được Steinbeck ghi lại trong những lá thư viết từ Việt Nam cho tờ Newsday.

Chỉ 6 tuần lễ sống trong vùng chiến, được bảo vệ an toàn, làm sao John Steinbeck hiểu được rằng: quân cộng sản Bắc Việt lúc ấy cũng đã được trang bị với những vũ khí tối tân nhất của Liên Xô và Trung Quốc, và ngay ở lãnh thổ miền Bắc lúc đó đã có hàng sư đoàn quân chí nguyện Trung Quốc giả dạng quân Bắc Việt với những dàn hỏa tiễn phòng không tối tân sẵn sàng nghênh chiến với hàng đoàn phản lực cơ Thần Sấm từ Hạm đội 7 bay vào oanh tạc miền Bắc.

May be an image of outdoors

Sự kiện lớn lao và quan trọng như vậy mà trong bộ chính sử mới nhất của Hà Nội cho đến nay vẫn không nhắc đến, đó là trong cuộc chiến tranh để đối phó với Mỹ và miền Nam, giữa giai đoạn 1965 và 1970, thể theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông đã đưa sang miền Bắc VN 320.000 Hồng quân Trung Cộng. Tới 1968, Mao đưa thêm sang Lào 110.000 quân nữa (tổng cộng: 430.000 quân). Những sư đoàn “chí nguyện quân” ấy đã ẩn náu ở rất nhiều nơi trong các hang động như ở Lạng Sơn, Hà Nam, hay sống trong các khu rừng biệt lập, sinh hoạt kín đáo và không được phép tiếp xúc với dân chúng. Nhiều chi tiết về “đạo quân ma” ấy cũng được viết ra trong cuốn “The Dragon in the Jungle, The Chinese Army in the Vietnam War” của Lý Tiểu Bình / Xiaobing Li do Oxford University Press xuất bản 2020. Đến nay (2021) vẫn còn tìm thấy những khu hang động trong núi rừng miền Bắc đã bỏ hoang ấy với các khẩu hiệu chữ Hán lưu dấu trên vách đá như: “Trung Việt hữu nghị vạn tuế, Hồ chủ tịch vạn tuế, Đả đảo Mỹ đế”…

May be an image of 1 person and text that says 'THE DRAGON IN THE JUNGLE 庆祝越南人民 反美斗爭的伟大胜利! The Chinese Army in the Vietnam War Xiaobing Li'

Steinbeck được xem như phe “diều hâu/ hawk” công khai ủng hộ sự tham chiến của quân đội Mỹ ở Việt Nam mà ông coi đó một cuộc dấn thân anh hùng/ heroic venture, thái độ hiếu chiến của Steinbeck đã gây nhiều phản cảm trong công luận Mỹ và ngay chính trong gia đình ông lúc bấy giờ. Ở Mỹ, Steinbeck lúc đó không chỉ bị căm ghét bởi giới trí thức cánh hữu, ngay cả phe tả có người không ngần ngại gọi ông là “phản bội/ betrayal”.

May be an image of map and text

John Ernst Steinbeck IV [1946-1991], hết thời gian quân dịch, được giải ngũ ngày 07-12-1967. Chỉ một thời gian ngắn về Mỹ, năm 1968 John IV trở lại Việt Nam như một nhà báo với khuynh hướng phản chiến – hoàn toàn đối nghịch với quan điểm của cha mình. John IV đã hợp tác với Sean Flynn [con của tài tử Errol Flynn] cùng làm tại Dispatch News Service, cung cấp cho truyền thông Mỹ những thông tin một chiều hết sức bất lợi cho Washington như vụ Thảm sát Mỹ Lai, câu chuyện Chuồng Cọp của trại giam Côn Sơn…

Trong khi John Steinbeck Cha vẫn còn sống, ngày 05-03-1968, sau Tết Mậu Thân, John IV đã ra điều trần trước một ủy ban Thượng viện Mỹ, nói ra những điều mà không một chính giới Hoa Kỳ nào muốn nghe, rằng: có tới 60% lính Mỹ tuổi từ 19 tới 27 nghiện cần sa/ Marijuana, và chính cơ quan MACV cũng khuyến khích tình trạng nghiện ngập này bằng cách cung cấp thuốc gây nghiện như Amphetamines/ hay còn được gọi là pep pills cho lính Mỹ. Như một scandal trên báo chí lúc bấy giờ và đã có một đụng độ công khai giữa Lầu Năm Góc và John IV.

Sự phân hóa “Của Cha và Con – Of Father and Son” trong gia đình Steinbeck cũng là hình ảnh bi kịch phân hóa của nước Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.

“Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War” (Steinbeck ở Việt Nam: Những thông điệp từ cuộc chiến), (University of Virginia Press, 2012), có thể xem là những trang sách cuối đời gây chấn động của Steinbeck. Ông sinh năm 1902, mất tại New York ngày 20-12-1968.

Ngô Thế Vinh

17Quyen Vinh and 16 others3 Comments3 SharesLikeCommentShare

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.