Khái Hưng trong Tự Lực Văn Đoàn xây dựng truyện ngắn hiện đại-khảo cứu của Bà Thuỵ Khuê(Paris)

Thụy Khuê

Thụy Khuê

Khái Hưng xây dựng truyện ngắn hiện đại

Tự Lực văn đoàn chủ trương đổi mới văn học. Nhưng tiến trình ấy đã diễn ra như thế nào? Ai trong văn đoàn là người chủ động? Khảo sát sự hình thành truyện ngắn và tiểu thuyết trên Phong Hóa Ngày Nay, chúng ta sẽ tìm được câu trả lời.

Có thể nói rằng: Phong Hóa là đất thực nghiệm, Ngày Nay là nơi dấn thân, và hệ thống truyện ngắn và tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn được dựng nên từ hai nền móng ấy.

Đại cương

Trong hai năm đầu 1933-1934, Hoàng Đạo và Thế Lữ chưa có đóng góp quan trọng về tiểu thuyết và truyện ngắn trên Phong Hóa, còn Thạch Lam viết phóng sự văn chương.

Hoàng Đạo, trong thời kỳ này, viết 3 truyện ngắn: Nùng Chi Lan, Bông hoa thủy tiên và Cánh buồm trắng[1]Đáng giá nhất là Bông hoa thủy tiên và loạt Tuồng Cổ Tân Thời[2] mà chúng tôi đã giới thiệu trong chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam.

Thế Lữ là nhà văn có tay nghề, nhưng sau tuyệt tác Vàng và máu, đăng trên Ngọ Báo, ông không có tác phẩm nào nổi bật. Chín truyện ngắn: Thây ma xuống gácCon châu chấu maCô Bụt, Giòng máu đứt quãng, Cái ví da đenHai lần chết, Cái xác đuổi người, Bên đường Thiên Lôi[3], đăng trên Phong Hóa trong khoảng 1933-1934, không có gì đặc sắc. Để tạo không khí ghê sợ, Thế Lữ hay dùng câu chữ, chi tiết rùng rợn, đưa đầu lâu, xác chết và ma vào, rồi tìm cách giải thích một cách “khoa học”, nên truyện của ông thường giả tạo, khó tin. Ông nổi tiếng về trinh thám, nhưng trinh thám thuộc địa hạt giải trí. Về mặt truyện ngắn, Thế Lữ không chịu tìm hiểu kỹ về con người, mà thường chú ý đến động tác bề ngoài, nên truyện ngắn của ông ít khi để lại ấn tượng sâu xa trong lòng độc giả. Cho nên, Thế Lữ không có vai trò quan trọng trong truyện ngắn trên Phong Hóa Ngày Nay, mặc dù ông viết đều đặn.

Thạch Lam là một cây bút quan trọng về truyện ngắn, nhưng phải đến Phong Hóa số 63 (8-9-33), mới có truyện ngắn đầu tiên Một cảnh quê, ký Việt Sinh, chưa có gì đặc biệt. Một năm sau mới có bài tùy bút Sóng lam cát trắng ký Thạch Lam (Phong Hóa 109, 3-10-34) và tới Phong Hóa 117 (28-9-34) lần đầu tiên có truyện ngắn Cung Hằng lạnh lẽo ký bút hiệu Thạch Lam. Nhưng những sáng tác này chưa có gì nổi trội. Trong thời kỳ Phong Hóa, Thạch Lam, dưới bút hiệu Việt Sinh đã tạo ra thể loại phóng sự văn chương, và phải đến Ngày Nay số 7 (9-4-35) Thạch Lam mới viết Đói, truyện ngắn hay đầu tiên, chúng tôi sẽ đề cập đến phóng sự và truyện ngắn của Thạch Lam trong phần viết về Ngày Nay.

Truyện ngắn Nhất Linh

Về hành trình tìm kiếm của Nhất Linh, tôi đã viết khá rõ trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, ở đây chỉ xin nhắc lại: Nhất Linh trong thời kỳ đầu của Phong Hóa viết bốn truyện trinh thám, ký tên Ngô Tâm Tư: Giết chồng… báo thù chồng, Tiếng chó sủaCái hoa chanhTiếng gọi cõi âm[4]Rồi ngừng. Từ Phong Hóa số 24 (2-12-32) đến số 62 (1-9-33), ông viết 13 truyện ngắn, ký tên Bảo Sơn: Con hai bố, Vết máuNước chảy đôi giòng, Cô áo tím, Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng), Ngọc có vết, Hồn hoa, Bóng người trên sương mù, Gái vùng Lim, Nắng mới trong rừng xuân, Đầu đường só chợ, Tháng ngày qua, Ngày thu[5].

Sau đó ông ngừng sáu tháng để viết chung hai tiểu thuyết với Khái Hưng: Gánh hàng hoa và Đời mưa gió[6]rồi viết thêm bốn truyện ngắn ký tên Nhất Linh: Thế rồi một buổi chiều, Cô hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh), Nắng thu và Lan rừng[7].

Trên Ngày Nay, Nhất Linh viết bảy truyện ngắn nữa:

Nghèo,Hai buổi chiều vàngTối tăm,số 23, (30-8-36), Chết dởHai chị emVết thương,Con đường quê[8].

Để giải thích qua cách viết của Bảo Sơn trong những truyện ngắn trên đây, tôi xin lấy thí dụ Bóng người trên sương mù.

Bóng người trên sương mù là một truyện ngắn hay, được Bảo Sơn bắt đầu như sau:

“Ở ngoài đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Đỗ Thạch, một người bạn cũ, tình cờ gặp nhau vì đi một chuyến xe lửa. Mười năm trước, bạn tôi còn là người cầm lái xe hỏa, cũng hàn vi như tôi, mà bây giờ lại gặp nhau trong toa hạng nhì, nên hai người càng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.

Lúc nói chuyện, tôi thấy bên cạnh bạn có một cái hộp khảm rất đẹp, liền cầm lấy xem…”

Ta thấy Bảo Sơn chưa bỏ được kiểu kể chuyện và giới thiệu nhân vật theo lối cổ điển. Nếu đoạn này viết trực tiếp theo lối mới, lối hư cấu, sẽ ngắn gọn hơn nhiều: “Trời đêm tối như mực, trong toa hạng nhì, Đỗ Thạch ngồi cạnh một cái hộp khảm…” không còn những giải thích dài dòng của nhân vật xưng tôi, người kể chuyện. Phải tới Thế rồi một buổi chiều,Nhất Linh mới dứt hẳn được lối kể chuyện này.

Khuynh hướng xã hội tả chân cũng được Nhất Linh thử nghiệm nhưng chưa thành công, thí dụ truyện Đầu đường só chợ:

Đầu đường só chợ(Phong Hóa số 51, 16-6-33) viết theo lối hiện thực xã hội, bắt đầu như sau:

Đầu đường só chợ!

Từ năm thầy tôi mất, anh chị tôi rời bỏ chốn quê nhà đi tha phương cầu thực, đến ở một túp nhà tranh ở ngay đầu chợ C… Bắt đầu từ đó, tôi bỏ cái đời cũ là cái đời một cậu con quan ăn sung mặc sướng mà bước chân vào một cuộc đời riêng mới cho tôi: tôi gọi là cái đời đầu đường só chợ. Năm ấy tôi mới 13 tuổi“.

Lời mở đầu trên đây cho thấy sự vụng về của tác giả: Ông không biết rằng khi một ông quan mất đi, gia đình vẫn được hưởng một số ruộng đất và giữ nhà riêng để ở, tuy có nghèo đi vì không được lĩnh lương nữa, nhưng nếu chịu khó làm việc, cày cấy ruộng vườn, thì không ai phải đi “tha phương cầu thực” hoặc ra ở túp nhà tranh đầu chợ cả. Sau đó ông lại đưa ra một nhận xét chủ quan “Thật là một cái xã hôi xấu xa, mà xấu xa vì nghèo khổ quá“,trước khi trình bày nhân vật chị Hiên, quá nghèo phải ăn cắp gà và tấm lòng tốt của cậu bé 13 tuổi đối với người đàn bà cùng khổ ấy, đều là những chi tiết giả tạo. Sau đó Nhất Linh viết thêm một truyện nữa là Nghèo trên Ngày Nay số 17 (19-7-36) về một gia đình rất giàu, sau bị khánh kiệt, anh chồng phải đi làm thợ sửa xe, cũng không tự nhiên. Cùng đề tài: gia đình con quan sau bị sa sút, Khái Hưng trong Hai cảnh trụy lạc, viết hay và chính xác hơn nhiều. Truyện ngắn Tối tămtrên Ngày Naysố 23(30-8-36), viết về tình cảnh chị Dậu, người đàn bà nhà quê dốt nát bị chết oan trong cảnh tối tăm vô học, cũng vậy.

Thế rồi một buổi chiều là một trong những truyện ngắn hay nhất của Nhất Linh, tôi đã giới thiệu trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, có mấy đặc điểm sau đây:

Đánh dấu việc Nhất Linh thoát khỏi lối viết cũ (bỏ cổ điển để bước vào hiện đại). Tác phẩm bắt đầu như sau:

“Lê Dũng rảo bước trên con đường làng.

Ban trưa, đường vắng, tiếng gió thổi kẽo kẹt trong những rặng tre già lẫn với một vài tiếng gà gáy xa xa đưa lại và tiếng trong trẻo của mấy đứa trẻ nô đùa dưới ánh nắng ấm áp. Dũng cắm đầu bước liều, tuy chàng vẫn biết rằng lần này khó lòng mà thoát được: từ nửa đêm đến giờ chàng đã chồn chân, đi hết làng này sang làng khác, nhưng không có một nơi nào để chàng tạm ẩn.”

Nhất Linh đã bỏ được cái tôi kể chuyện trong Bóng người trên sường mù và Đầu đường só chợ.

Nhất Linh đã tạo được một không khí hiện thực lãng mạn riêng: tình yêu thầm kín dưới mái chùa, với những nhận xét tế vi, văn phong tuyệt đẹp, thơ mộng và giản dị.

Nhất Linh đã cấu tạo Dũng: sẽ là nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông, trở thành mẫu người lý tưởng cho thanh niên thời bấy giờ: Dũng theo cách mạng, bị lùng bắt, chạy về một làng quê yên bình thơ mộng; trên bước đường cùng, dừng lại ở cửa thiền, chàng được ni cô giấu vào gác khánh sau chùa. Một mối tình câm nở giữa hai người.

Tất cả những yếu tính trong truyện Nhất Linh hầu như đã hiện rõ trong tác phẩm này: Ông dùng chính mình để tạo nên Dũng, và ông đã thành công, bởi vì không có sự thực nào hiển nhiên bằng cách dùng nội tâm của mình để diễn tả ý nghĩ của nhận vật. Tác phẩm cũng xác định lần đầu tiên phong cách Nhất Linh: hướng nội.

Nắng thu ra sau nhưng nghệ thuật thua kém Thế rồi một buổi chiều, viết về cuộc tình giữa Phong và Trâm, một cô gái câm, mồ côi. Trâm đẹp, nết na nên bị mọi người trong gia đình mẹ nuôi ganh ghét, muốn đuổi đi. Phong yêu Trâm, dạy Trâm chữ quốc ngữ, biết rõ nỗi khổ của Trâm, vậy mà chỉ cần vài lời dèm pha của Viễn (anh nuôi, đã có vợ, mê Trâm, dùng bạo lực chiếm đoạt nhưng bị cự tuyệt) và bà mẹ nuôi độc ác, buộc tội nàng chửa hoang, là Phong tin ngay. Đã câm, làm sao biện hộ? Bao thư nàng viết để giảng giải nỗi oan, Phong đều không thèm đọc, xé đi… Nắng thu văn phong thực vững vàng, nhưng chi tiết giả tạo, vô lý, đọc rất bực mình: Tại sao Phong lại có phản ứng dã man hơn bọn gia đình mẹ nuôi tàn ác? Phong không một lần tìm hiểu nỗi oan của người yêu? Đến cái kết có hậu: Viễn bị bệnh nặng, trước khi chết, thú tội với Phong, nên Phong đi tìm Trâm: châu về hiệp phố. Lại càng giả tạo nữa.

Tóm lại, về truyện ngắn, Nhất Linh viết không nhiều, nổi trội trong đề tài tình yêu lãng mạn, như Thế rồi một buổi chiều,Lan rừng,Hai buổi chiều vàng, Câu chuyện mơ trong giấc mộng… và vài truyện ngắn hay như Cái tẩy, Vết thương, chiếu vào nội tâm nhân vật, đều được in lại trong tập Hai buổi chiều vàng.

Riêng loại hiện thực xã hội nghèo khổ, ông không thành công. Phải đến cuối đời, trong trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, được cấu trúc như những truyện ngắn ghép lại, ông mới đạt tuyệt đích: mô tả xóm Cầu Mới với những gia đình nghèo ở quê hương ông, và ông đã khắc họa được những chân dung hiện thực tuyệt bút. Còn trong thời kỳ Phong Hóa Ngày Nay, những truyện ngắn hay nhất của ông đều thuộc khuynh hướng tình cảm lãng mạn.

Lực viết của Khái Hưng

Trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, tôi đã nói qua về nghệ thuật Khái Hưng trong hai truyện ngắn đầu mà nhân vật chính là người Nhật: Kong-Ko Đai-Jin và Ada Kwaben, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-32) và Phong Hóa số 19 (27-10-32). Và dưới đây ta cũng sẽ thấy, Khái Hưng, có lẽ là người đầu tiên dịch Trà Đạo của Okakuza Kakuzo sang tiếng Việt.

Với sức viết phi thường, trên Phong Hóa Ngày Nay, chưa kể truyện dài, Khái Hưng đã viết khoảng 122 truyện ngắn, 24 vở kịch, 36 truyện vui, và 8 bản dịch.

Xin kê khai danh sách dưới đây để làm tư liệu:

Phong Hóa

– 67 truyện ngắn trên Phong Hóa, gồm: Kong-Ko Đai-Jin, Đi Nam Kỳ, Cái thù ba mươi nămSóng gió Đồ Sơn, Cái thống đời TốngTình tuyệt vọng, Ada Kwaben,Lãng mạn,Bạn…! Chỉ là bạn!..Dưới bóng hoa đào (viết chung với Bảo Sơn), Lên sĩ xuống sĩ, Hai linh hồn, Bên giòng sông HươngÝ LanVéo von tiếng địchNghiã cái cườiAnh phải sống, Hai cái áo quan, Tình điên, Con lợn lài, Hất báo, Lời thề, Giọc đường gió bụiYêu, Con số 08430, Ai đẹpBên đường dừng bướcTình lưu luyến, Hoàng Oanh, Yên lặng, Cô hàng nước (viết chung với Nhất Linh), Gói bạc rơi, Một tập thưChúa Thao, Con MánHương gây mùi nhớMột nhà thông tháiCái đồng hồ đeo tay, Linh hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ Thị Kim Dung, Một nhà hiền triết, Bắt trộm, Giặc bể, Con chim vành khuyênTiệc tranhKhông BẢ..A..Án, Trăng suông, Tình yêu thứ nhất (viết chung với P.N.Thọ), Cầm vườn, Cái áo đan, Lá rụngHoa thuỷ tiênHoa anh đàoNgày xuân lễ chùaTrong rừng mai, Chén trà mạn senÔ Quy Hồ, Trúng số và Bãi sậy vườn camBiến đổiCháu Tạ, Vú KimTrong nhà thương, Hai cảnh trụy lạc, Có đi có lại, Thưa chịCái máy ảnh.[9]

– 23 truyện vui: Ba Ếch Vô HuếMột đám ma, Quýt ngọt, ruốc ngon, Gật, gật hoài, Hảo hớnVõ Thái HàĐể của bí mật, Yêu đời, Đãng tríCai thuốc phiện, Những bóng người trên bãi biển, Ông cứ giã cho nó! Chụp gà hóa cáoThả vỏ quýt ăn mắm ngấu,Liều thuốc độc, Mãn đình hồng (Nhị Linh), Ăn miếng trả miếngBảng công tyChơi ô tôTờ giấy bạcBàn việc làng, Cờ quạng, Bảo hiểm.[10]

– 15 vở kịchKiêng 1, Tôi là Khái Hưng, Ghen, Nửa cái thỏ bò, Ông Đồng PhươngKiêng 2, Tục Lụy, Con mèoChữ nhoBói KiềuKhông hề gì mà, Kiêng, Ở hiền gặp lànhQuần tiên tụ hộiKịch không người.[11]

Ngày Nay

– 55 truyện ngắn: TrênNgày Nay, Khái Hưng viết khoảng 55 truyện ngắn:

Đợi chờBến đò năm xưaPhong lan và Nước hoa phong thổCái veLòng tốt, Linh hồn, Trăng thu,Người vợ mùDưới ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu), Nhà phê bìnhĐồng xuĐêm giao thừaCô áo trắng, Vui tính, Hội kín, Tống tiền, Nguồn thơ, Ngày giỗBến Hòn Gay, Cháu nhà quanSung sướngCô dâu, Cây tre trăm đốtVợ cóc, truyện cổ tích, Ai mua hành tôi, truyện cổ tích, Mười năm yêu dấuNgười hầu sáng,Sếnh Sáng,Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa), Đào MơTập ảnh, Thời xưaChùa Hương, Xanh cà bung, TVBAVOKVVEAV tức Tiếng khèn, Điếu thuốc lá, Lưu Bình Dương LễMột buổi chầuHai người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó hiểu (số 148, 4-2-39), Chàng thi nhân (số 149, 15-2-39), Gán vợTình địch, Tế thành hoàng, Cái duyên của Tản ĐàVài truyện vui về thi sĩ Tản ĐàÔng ĐồngThời chưa cướiTương triHai người bạn, Sư TuệHai con mắtBiểnÁi tình, Nghiện [12]

– 9 vở kịch: ChếtCờ điên thoạiCậu Cả, TiềnNgười chồngKiêng VĐồng bệnhChén trà đầu nămKhông đènKhúc nghê thường.[13]

– 13 Truyện vui: Hổ, Thâm nhoTrả thùThoátBà chủ nhà của tôiBá cáo việc riêng, Cách choChợ trờiĐi ra thôiCây “Thần tiên”Người bán dầuLỡ quá ga, Nghỉ mát.[14]

– 8 bản dịch: Mưa của Somerset Maugham. Cô gái thành Arles của A. Daudet. Bệnh việncủa Somerset Maugham. Trà đạo của Okakuza Kakuzo. Ý nghiã nghệ thuật của Okakuza Kakuzo (Trà thư). Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên). Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), trích dịch. Các trà sư của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), trích dịch.[15]

Khái Hưng xây dựng truyện ngắn hiện đại

Tuy Khái Hưng phải viết những truyện vui, kịch ngắn, để trám chỗ tờ báo, nhưng những thứ này đều đọc được, chứ không dở. Đó là những mẩu truyện, kịch ngắn, có duyên, không vô lý, bởi vì Khái Hưng nắm chắc những yếu tố: văn hay, đối thoại điêu luyện, cấu trúc chặt chẽ. Truyện của ông không sa vào tình tiết lâm ly, thường “chẳng có chuyện gì” tức là rất mô-đéc.

Sở dĩ truyện ngắn của Khái Hưng chưa được khám phá và đánh giá đúng mức bởi vì phần lớn các nhà phê bình đều chỉ dựa trên những sách đã in, mà phần truyện ngắn của ông in thiếu rất nhiều, kể cả những sách của nhà Đời Nay cũng vậy. Một thí dụ, tập Tiếng suối reo, chỉ in những truyện, kịch vui nhỏ, loại ông viết trám chỗ trên báo, tuy không dở, nhưng cũng không có gì là tiêu biểu. Tập Đợi chờ, tái bản ở miền Nam, bỏ hẳn hai truyện ngắn vào loại hay nhất của Khái Hưng: Điếu thuốc lá và Tiếng khèn. Vì vậy, nhiều truyện hay của Khái Hưng vẫn còn nằm ngủ trên Phong Hóa-Ngày Nay, chưa mấy ai đọc.

Khái Hưng viết đủ loại đề tài, loại nào ông cũng rành, vì đã khảo sát môi trường qua sách vở hoặc nhờ nhận xét thực tế đời sống, vì thế ông nhập truyện rất tự nhiên, nói giọng ai cũng được. Ông lại có óc tưởng tượng và óc quan sát tinh vi không bỏ sót một cử chỉ, dáng điệu của bất cứ loại người nào, từ cô công chúa đời Hùng Vương đến người thợ mộc đời nay, từ mặt trái cuộc chơi cờ người (Lên sĩ xuống sĩAi đẹp), đến tâm lý phức tạp của kẻ nhặt được tiền (Gói bạc rơi), từ lời khóc giả vờ trong đám ma ở miền Bắc (Một đám ma) đến tâm sự thầm kín của người con gái hát rong (Giọc đường gió bụi).

Trước khi viết Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưngđãsáng tác ba truyện ngắn dã sử hay:

Véo von tiếng địch (Phong Hóa số 42, 14-4-33) viết về công chúa Ly Nương con vua Hùng Vương thứ mười bốn, phỏng theo truyền thuyết Trương Chi.

Hoàng Oanh (Phong Hóa số 97, 11-5-34)công nương Chiêm Thành họ Số, đợi chờ thái tử Chế Mân, đang bị làm con tin ở Thăng Long, trở về làm lễ cưới. Nàng thêu đôi chim nhạn. Hai năm sau, Thái tử hồi hương với Vương phi Huyền Trân Công Chúa, nàng trao đôi chim nhạn làm quà cưới vương phi, những giọt nước mắt đã rơi vào trong mừng chồng vui duyên mới!

Chúa Thao (Phong Hóa số 122, 2-11-34), tức hoàng tử Mạc Thao, con thứ năm vua nhà Mạc, thường được gọi là Hoàng Năm hay Chúa Thao, đẹp trai, anh dũng, cầm quân đương đầu với chúa Trịnh ở trận Đồ Sơn, thua, bị bắt. Công chúa họ Trịnh đem lòng yêu mến rồi ốm tương tư.

Ba truyện dã sử này, như ba bản nhạc dạo dầu, thử bút trước khi Khái Hưng vào Tiêu Sơn tráng sĩ, đã ngỏ cho ta thấy cách ông tạo không khí lịch sử và kết cấu bi đát như thế nào.

Véo von tiếng địch, trước tiên là văn Khái Hưng:

“Dưới chân rặng đồi, con sông Bạch Hạc quanh co lượn khúc, ẩn hiện dưới những chòm cây rườm rà lả ngọn.

Ly Nương tỳ lan can, rời cảnh vật bao la, cúi nhìn xuống cái hồ bán nguyệt mới thấp thoáng nhô lên một vài nõn sen mềm mại.

Bỗng nàng hé cặp môi mỉm cười, vì nàng vừa nhìn thấy bóng xinh đẹp của mình in trên mặt nước trong xanh im lặng. Nàng giơ tay trắng nuột vin cành liễu xanh bẻ mấy chiếc lá, thong thả sẽ bỏ rơi xuống hồ. Mặt nước rung động, hình công chúa cũng rung động, gợn nước vòng tròn, rộng lan mãi ra, rồi dần dần biến đi như chìm xuống đáy nước mà trả lại hình cho công chúa. (…)

Mấy giọt nước mưa đọng trên lá liễu từ từ rơi bám vào mái tóc búi lỏng để chĩu xuống gáy trông lấp lánh như những ngôi sao ló trong đám mây đen”.

Khái Hưng đi từ cái vĩ mô: cảnh vật bao la vùng núi đồi Bạch Hạc nơi Hùng Vương dựng kinh thành, chuyển dần sang cái vi mô: mấy chiếc lá Ly Nương xé ném xuống nước, đánh tan hình mình; rồi những vòng tròn nước tự tan đi, trả lại tấm hình xinh đẹp cho công chúa nguyên vẹn dưới đáy hồ. Ống kính tinh vi ấy quay lại chiếu vào mấy giọt sương lấp lánh đọng trên mái tóc búi lỏng chĩu xuống gáy nàng. Không dùng một chữ nào có âm hưởng hoàng gia, nhưng tất cả những chữ bình dân họp lại, tạo thành hình ảnh tuyệt vời của nàng công chúa cao sang quyền quý. Đó chính là nghệ thuật: nhà văn không tả mà để thiên nhiên tả hộ. Bút pháp thơ cũng ở đó: Khái Hưng luôn luôn làm thơ mà không dùng đến âm, vận.

Kết thúc bi đát, là một sở trường khác: văn Khái Hưng trong sáng, vui tươi, hồn nhiên, nhưng thường dẫn đến cái chết.

Anh phải sống (Phong Hóa số 45, 5-5-33) là truyện hiện thực xã hội đầu tiên của Khái Hưng. Truyện khá ngắn. Mở ra trên cảnh đê Yên Phụ trời bão, nhưng khác với những lần trước ông thường dừng lại tả cảnh, ở đây tất cả đều vắn tắt:

Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy như muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng đi”.

Rồi: “những cành khô trôi ở rừng về, nổi lềnh bềnh giống như những chiếc thuyền chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến”.

Cơn bão chỉ được tả bằng hai câu ngắn, nhưng sự dữ dằn đã rõ: “lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng” và “những thân cây, cành khô như những chiếc thuyền chạy thực nhanh về nơi không bờ không bến”.

Đối diện với một tạo hóa vĩ đại và hung hãn như thế, hai vợ chồng Thức, nhỏ nhoi, đứng trên bờ đê, thèm thuồng “nhìn theo những cây gỗ đương trôi phăng phăng ở giữa giòng nước đỏ“.

Bỗng Thức bảo vợ: “Liều! Vợ lắc đầu không nói.”

Tất cả đều nhanh, ngắn, gọn, hai vợ chồng đã có sự đồng nhất tư tưởng, không cần nói mà hiểu nhau. Toàn bộ tác phẩm dựa trên sự đồng nhất tư tưởng này. Hết gạo. Cả nhà đói. Không ai cho vay. Những khúc củi này vớt lên bán, là của trời ban.

Thức đánh lừa “đuổi” vợ về nhà trông con trước, anh sẽ về sau. Rồi người vợ cũng lại hiểu rất nhanh rằng chồng mình đang làm gì, chị đặt đứa con vừa thiu thiu ngủ xuống giường, trở lại bờ sông. Thức quay lại nhìn thấy vợ, gắt:

“Lạc! Sao mày không ở nhà với con?” Tất cả xoay quanh chữ mày. Từ chữ mình, anh vừa âu yếm nói với vợ: “Này! Mình về nhà, trông thằng Bò” ban nãy, anh chuyển sang chữ mày, độ giận đã lên tới cực điểm. Nhưng chị Thức nhất định không về, chị khóc “em không sợ, em biết bơi”, Thức mềm lòng. Đành chịu.

Khi chiếc thuyền đã bị đánh chìm, hai vợ chồng cố gắng bơi vào bờ, người vợ đuối sức dần, Thức một tay bơi, một tay xốc vợ. Tay anh rã rời, bảo vợ bám vào mình. Một lúc, anh lại hỏi: Lạc ơi, Mày liệu có cố bơi được nữa không?

Hai lần Thức gọi vợ bằng mày. Hai thái cực: lần đầu là sự tức giận cực điểm, lần sau là sự tuyệt vọng, cả hai đều là tình yêu tột đỉnh.

Và cuối cùng, chỉ một câu: “Thằng Bò, cái Nhớn, cái Bé !… Anh phải sống!” đủ diễn tảsự hy sinh tối hậu. Sự kiệm chữ này là nền móng của nghệ thuật bội phân bi đát trong giây phút cuối mà chỉ Khái Hưng nắm rõ bí quyết.

Anh phải sống là kiệt tác truyện ngắn đầu tiên của Khái Hưng và của truyện ngắn Việt Nam.

Hai cái áo quan(Phong Hóa số 46, 12- 5-33) được viết một tuần sau, bộ mặt bi đát lần này hoàn toàn đổi khác: trong khung cảnh nhộn nhịp của một căn nhà đang xây dở: thợ thuyền tấp nập, cười nói ồn ào, ông phó Cả âm thầm vuốt nước mắt, cúi xuống bào nắp quan tài cho con trai vừa chết để lại cho ông thằng “Cu con”, cháu nội. Chôn con hôm qua, hôm nay cất nóc, phó Cả phải có mặt. Mọi người chờ đợi. Ông phó già đến trễ, mặt đỏ gay tiến vào, cười nói ha hả, lảo đảo bước lên thang… Rồi một tiếng rầm…

“- Con đấy à!.. Thế mà cha cứ tưởng con chết!

Rồi ông tắt thở.

Ánh nắng vẫn gay gắt. Trong làn không khí hoàn toàn tịch mịch, buổi giữa trưa ở nơi thôn dã, thằng Cu con, vận quần áo đại tang, núp dưới bóng cái phên nứa, lúi húi bào gỗ để đóng săng cho ông nó.

Nét mặt nó thản nhiên như đang làm các việc hàng ngày mà người ta trả nó năm xu một công nhật.

Rồi bỗng như hôm qua, con gà trong xóm cất tiếng gáy. Nhưng thằng Cu con nó chẳng giật mình như ông nó, chỉ lẳng lặng quỳ gối bào cho thật nhẵn. Khi nó ướm cái nắp lên trên cái áo quan thấy vừa vặn ăn khớp, thì nó lạnh lùng nói một mình:

Thế là xong!”

Câu kết này làm ta rùng mình. Vì sao? Vì sự vô cảm của thằng bé 12 tuổi. Sau hai cái chết, nó chai đi, không còn cảm giác. Nó không khóc như ông nó, nó không cười ha hả như ông nó, nó không nghe tiếng gà gáy mà giật mình như ông nó, nó hoàn toàn vô cảm.

Còn lại một mình trên đời, thằng bé không phản ứng. Điều đó mới thật dị kỳ và làm ta kinh sợ nghệ thuật của Khái Hưng, bậc thầy.

Con lợn làixuất hiệnbốn tuần sau, trên Phong Hóa số 50 (9-6-33), truyện này cho thấy nghệ thuật châm biếm-bi đát, sở trường thứ ba của ông.

Khái Hưng chỉ chép lại lời kể của một anh phu xe, kể rằng anh hầu nhà quan Hàn, từ năm 10 tuổi: “Ông chủ tôi là một quan Hàn bệ vệ, oai nghiêm, hách dịch như một ông quan lớn, một ông quan thật ấy. Thế mà so với bà chủ tôi thì sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch ấy, còn kém xa. Giá ông trông thấy bà Hàn tôi ngồi xếp bằng trên sập gụ, một tay tì lên chiếc gối xếp nhiễu, một tay bắt cong cái xe điếu ống xuống hút lách tách rồi vừa thở khói, vừa lên giọng lè dè mà gọi: “Có đứa nào đấy không, mày?” thì ông cũng phải kính cẩn chắp tay mà chào: “Lạy bà lớn ạ”. Vì thế nên những quân con, đệ tử, dân sự, nghiã là những người đến vay nợ kính sợ ông tôi mười phần thì kính sợ bà tôi đến trăm phần.

Mồng năm ngày tết họ tới tấp đến trước mặt bà tôi, họ đặt buồng cau, con cá, hoặc thùng gạo, mâm cam xuống đất, họ khúm núm gãi đầu, gãi tai, rồi sẽ run run bẩm báo:

– Bẩm bà lớn chúng con vi thiềng.

Bà tôi liền lên giọng dõng dạc gọi người nhà:

– Có đứa nào đấy không, mày. Cất đi cho nó.

Một tiếng dạ vang nhà, tôi vội vàng ra cất lễ. Có lắm bác lại khéo nịnh hót, khom lưng lậy hai lậy cẩn thận rồi kính bẩm cụ lớn chững chạc nữa kia, tuy bà lớn tôi chỉ là một bà vợ lẽ của quan Hàn tôi, mà xin ông đừng cười, chỉ xuất thân là một con ở hầu bà Hàn cả tôi, và nhẩy lên thay chân chánh thất, sau khi bà cả tôi đã về chầu trời.”

Vẫn giọng ấy kể: ông chủ rất tốt, nuôi thằng nhỏ từ lúc nó mới 10 tuổi, ở không công. Nó không hé môi phàn nàn nửa lời vì được ông chủ tin cậy, mỗi năm may cho một bộ cánh trắng và hai bộ cánh nâu, thỉnh thoảng nó có dăm ba xu, một hào, tiền “chè lá” của những người đến khất nợ đút lót để được nó đưa vào hầu.

Rồi bà lớn gả con sen cho thằng nhỏ, hai vợ chồng ở không công. Con sen suốt đêm phải hầu quạt và đấm bóp cho bà lớn, còn thằng nhỏ, chồng nó, ngủ dưới bếp. Mùa xuân năm ấy được mùa, tổ tôm kéo dài mấy tháng, tiền hồ[16] có đến linh trăm bạc[17], nhưng nhà quan, ai lại lấy tiền hồ, nên bà lớn chia cho bọn người làm. Lại sợ chúng nó tiêu bậy, nên bà lớn cất dùm, mua lợn lài, là thứ lợn quý có chấm đen, để gây vốn cho chúng nó. Thế là bao nhiêu tiền“chè lá” thằng nhỏ dốc hết ra mua cám, vỗ béo lợn. Bốn con lợn lài lớn như thổi, một năm sau bán được ba bốn trăm bạc như chơi.

Một hôm, bỗng dưng mất đứt một con: hóa ra bà lớn “vay” để làm cỗ thết làng, rồi con thứ hai, bà lớn “mượn” để biếu cụ lớn thân sinh, hai con sau cùng bà lớn bán lấy tiền giữ hộ chúng nó. Con sen xui chồng lên xin trước bà lớn chút đỉnh để mua cho nó bộ xà tích[18]. Thằng nhỏ lên kêu van khóc lóc bị bà lớn tống ra cửa, thế là mất việc, mất vợ, mất tiền, phải đi kéo xe.

Giọng người phu xe kề cà, giống như giọng khàn khàn của ông Toà trong truyện La Chute (Sa đọa) của Albert Camus. Lối kể của anh ta, theo một tiến trình, mà tôi gọi là tập kích giật lùi, cũng thấy trong truyện của Camus, dù Khái Hưng viết trước Camus mấy chục năm và hai người ở xa nhau vạn đặm.

Đầu tiên, anh phu xe tả chân dung bà chủ: Từ sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch, xác định tư cách bà lớn, bà tiến lên cụ lớn, rồi đùng một cái, cụ lớn lộ chân tướng con ở. Đó là lối đột kích tụt hậu. Truyện của Camus cũng thế: đường đường là ông Tòa xử tội, quyền sinh sát trong tay, bỗng một đêm qua cầu sông Seine, có tiếng người rớt xuống nước, kêu cứu, nhưng ông lờ đi như không nghe thấy… ông trở thành kẻ sát nhân vô cố.

Toàn truyện Con lợn lài, Khái Hưng đều dùng lối tập kích giật lùi như thế: bà lớn luôn luôn đi từ tấm lòng tốt rồi lùi dần tới lúc lộ ra bộ lòng xấu. Giọng anh phu xe mới tuyệt diệu: anh ta không kết án bà lớn mà lại bào chữa cho bà bởi anh luôn luôn tin tưởng vào lòng tốt của bà:

“Ông phải biết mấy anh em chúng tôi vui mừng, sung sướng cảm ơn bà chủ biết chừng nào, thi nhau xuất lực ra mà hầu hạ để được sứng với cái lòng tốt ấy.” Cái bi đát là ở chỗ đó.

Con lợn lài là truyện ngắn đầu tiên của Tự Lực văn đoàn chống lại sự bóc lột của bọn phú hào ở thôn quê. Nhưng Khái Hưng không viết theo lối hiện thực xã hội phê phán, nên tác phẩm của ông không thể bị lỗi thời. Giọng văn này, bây giờ đọc lại, và có lẽ muôn đời đọc lại, ta vẫn thấy lạ, vẫn mô-đéc: nó pha trộn bi-hài một cách toàn bích. Khái Hưng vẫn làm ta giật mình ở câu kết.

“Anh xe mỉm cười nói tiếp:

– Nhưng thế mà lại sướng ông ạ. Từ nay đến ngày xuống lỗ, chắc chả bao giờ phải mất công không nuôi lợn lài cho nó béo nữa”.

Một giọng triết lý tự nhiên của người không có học. Hiểu thế nào cũng được: Người phu xe không thèm chấp những thấp hèn bỉ ổi mà anh đã trải qua, hay anh không có một chút ý thức nào về tấm thân nô lệ của mình?

Tôi cho rằng Khái Hưng muốn nói trường hợp thứ nhì, và không chỉ riêng cho người dân quê, mà cho cả dân tộc mình, dưới thời Pháp thuộc.

Giọc đường gió bụi (Phong Hóa số 65, 22-9-33), một truyện tình lãng mạn, nhưng dưới ngòi bút Khái Hưng, chuyện tình này khác hẳn những gì ta thường thấy. Đào Mơ yêu tha thiết, yêu say mê yêu không thể dứt ra được, đêm nào nàng cũng phải hiến hồn xác cho người yêu: hát chèo. Thủa bé, Mơ hát hay, theo cha mẹ hát xẩm ở bến đò Tân Đệ, được bác Hai Truyện mua về, nuôi dạy nghề ca hát. Mơ trở thành đào chính của gánh hát rong và cái nghiệp cũng nhập vào nàng. Một ngày kia, tới ấp Đông Hà, chủ ấp là một trang thanh niên tài hoa lỗi lạc, đủ nghề cầm kỳ thi họa, yêu hát chèo và say đắm Mơ. Mơ đáp lại tình yêu của chàng, bỏ gánh hát ở lại. Nhưng đêm sau, tiếng chầu lại vang lên ở làng bên, Mơ choàng dậy, khoác vội tấm áo vào mình, lẻn bước ra đi, người như còn mê man trong giấc ngủ “tiếng địch véo von, rền rĩ, làm rung động lòng Mơ, làm tiêu tan cả ái tình mới mẻ. Ngồi xẹp xuống đất Mơ bưng mặt khóc hối hận. Tiếng địch vẫn sang sảng, khi lên bổng, lúc xuống trầm như miả mai, như chế giễu kẻ lià phường phản bạn. Mơ đứng phát dậy lau nước mắt hốt hoảng chạy một mạch vào trong rạp”. Khái Hưng đã viết không phải một chuyện tình mà hai chuyện tình lồng một, một đoá hoa kép đẹp và đau, kết hợp tình yêu và nghệ thuật, và nghệ thuật đã chiếm thế thượng phong trong trái tim Mơ: tính chất bi đát đã đạt đỉnh của cái đẹp.

Đào Mơ (Ngày Nay 89, 12-12-37): Năm năm sau, Khái Hưng viết lại truyện đào Mơ dưới dạng tự thuật:

“Năm năm, cứ sang xuân, trong thời còn được nghỉ học, tôi lại mong nhớ Mơ, sự mong nhớ âm thầm buồn bã của một tâm hồn ngây thơ. Quả nhiên, trong mấy tháng sau Tết, những phường chèo kế tiếp nhau đến, tựa bày chim én trở về cùng với những ngày quang đãng, ấm áp, vui tươi. Tim tôi hồi hộp khi thấy những gánh hòm vuông sơn đen, sơn đỏ qua cổng huyện tiến vào trong sân“. Mơ đã vào đời cậu bé con quan như thế. “Rồi sau một, hai hay ba hôm, Mơ lại theo phường bạn rời đi nơi khác… Tôi ngơ ngẩn như người mất linh hồn. Anh tôi thấy thế cười bảo tôi:- Dễ Linh nó ốm tương tư cái Mơ đấy“.

Rồi phải ra tỉnh học, Linh không còn gặp Mơ nữa. Mười năm sau, tình cờ gặp lại người kép hát cùng với Mơ năm xưa, Linh mới hay: Mơ lấy lẽ một ông chủ đồn điền, rồi quen nghề cũ, Mơ không ở được lâu với ai, sau cùng với người chồng mù, Mơ đi lang thang hát xẩm Mơ đã đi một vòng đời và trở về chốn cũ của ngày thơ. “Từ đó mỗi lần xuống phà hay qua hè phố, gặp một cặp vợ chồng, chồng kéo nhị, vợ hát chèo, tôi lại tưởng nhận được tiếng Mơ”.

Đào Mơ là một trong những hình tượng đẹp nhất trong văn học Việt Nam về hát chèo, về nếp sống tự do, nghệ sĩ. Sau đào Mơ, Khái Hưng cùng với Nhất Linh tạo ra Tuyết trong Đời mưa gió, một tuyệt tác khác. Nhưng hình ảnh đào Mơ hay phong thái cụ tú Sầm Sơn (trong Tương tri)… sẽ lung linh trong các nhân vật của Nguyễn Tuân, Mai Thảo, qua cái đẹp của một ván cờ, một nét chữ, một sự đợi chờ, một vết chém treo ngành…Tất cả đều chịu ảnh hưởng Khái Hưng, nhưng có lẽ tác giả của nó, cũng không biết là mình chịu ảnh hưởng, bởi chính họ cũng là những thiên tài.

Hương gây mùi nhớ

Khi Hồn bướm mơ tiên chấm dứt trên Phong Hóa số 29 (6-1-33), gần một năm sau, Khái Hưng viết Hương gây mùi nhớ in trên Phong Hóa số 127 (7-12-34), đề tặng chú Lan. Hương gây mùi nhớ chỉ là lá thư của người con gái tên Nga, trốn cuộc hôn nhân áp đặt, đi tu mong “tìm quên trong lòng phật Tổ”. Chú tiểu Nga, tưởng đi tu là lánh được cuộc đời trần tục. Nhưng không. Chú đã lầm. Chú viết thư cho người yêu cũ:

“Một hôm, hôm ấy, phút ấy, chỉ vì trong một phút ấy, tâm hồn em đã thay đổi khác hẳn, nghiã là đã trở nên nồng nàn với tình yêu, nồng nàn gấp trăm gấp nhìn lần khi em chưa dấn thân vào đời tôn giáo, khi em chưa từng nếm qua mùi thiền (…) Em tưởng tượng đức Như Lai ra một chàng trai trẻ, có tấm lòng tha thiết với tình yêu. (…) Em cầu cứu, em gọi đức Phật tổ, nhưng đức Phật tổ chỉ lãnh đạm thờ ơ. Mùi hương ngào ngạt em ngửi vẫn thấy khoan khoái, nhưng sự khoan khoái này là sự khoan khoái đầy nhục dục. Tiếng chuông em nghe như những lời thề thốt ái ân. (… )

Chẳng phòng khuê nào có thể so sánh được với một nơi am vắng đầy mùi hương và tiếng kệ nó nhắc ta mơ màng tưởng tới những nơi bồng lai tiên cảnh”. (Phong Hóa số 127, 7-12-34).

Lời chú tiểu Nga làm đảo lộn mọi nguyên tắc đạo đời và có lẽ xưa nay ở Việt Nam chưa nhà văn nào dám viết như thế, nghiã là dám cho rằng cửa Phật “gợi tình” hơn chốn khuê phòng, dám “tưởng tượng đức Như Lai như một chàng trai trẻ“, dám cảm thấymùi hương hoa, tiếng chuông, kinh kệ, “gợi sự khoan khoái đầy nhục dục“…

Hương gây mùi nhớ phản biện hoàn toàn Hồn bướm mơ tiên, đánh đổ mọi lập luận cho rằng Khái Hưng là nhà văn lý tưởng, và lộ ra một Khái Hưng đầy nhục cảm, đi trước thời đại, cho chú Nga yêu hoa, yêu hương và… yêu Phật. Khái Hưng muốn chứng minh “lửa tâm càng dập càng nồng“, chữ tâm ở đây không ứng vào cái ghen Hoạn Thư mà ứng vào tình yêu, ở chú Nga, bị dập vùi, dồn nén, đã lên tới cực điểm: sự đòi hỏi của thể xác làm tê dại tâm hồn, đốt cháy mọi cơ năng, nghiền nát lý trí. Khái Hưng đã đi tới dứt điểm khi khám phá được nội tâm con người, con người say mê cùng cực.

Sư Tuệ(Ngày Nay số 182, 7-10-39): Năm năm sau Hương gây mùi nhớ Khái Hưng viết Sư Tuệ.Sư Tuệ chùa Hàm, một trang thanh niên khôi ngô tuấn tú, thân hình vạm vỡ, yêu thể thao, học vấn uyên thâm, thích đọc sách triết học và thần học, thông bác tư tưởng đông tây. Khánh, tên tục nhà sư, đã từng sống cuộc đời trần, yêu say mê trong tuyệt vọng vợ một người bạn thân, yêu trong yên lặng. Một hôm Khánh điên cuồng ngỏ lời với nàng, mới hay người ấy cũng cùng cảnh ngộ. Đã thấu lòng nhau, họ quyết định hy sinh: gắng quên nhau, và Khánh chọn lánh xa người yêu, lánh xa hẳn, lánh xa trong một thế giới khác. Thế giới ấy, nếu không phải là thế giới của người chết; thì chỉ có thể là thế giới của người thế phát quy y. Và chàng trở thành một vị chân tu, Sư Tổ hy vọng chàng sẽ cảm hóa được phái trẻ, tân học mà Người ví như cây không rễ một ngày kia linh hồn sẽ héo uá. Sư Tổ muốn cứu vớt linh hồn họ, đưa họ tới cõi niết bàn, công cuộc đó chỉ Sư Tuệ là có khả năng làm nổi.

“Nhưng một đêm giữa lúc đương tụng kinh, sự Tuệ ngước mắt nhìn lên bàn thờ và bỗng chú ý đến khuôn mặt pho tượng Ngọc Nữ. Cả một thời dĩ vãng vụt lờ mờ hiện ra trong ký ức kẻ tu hành. Sư Tuệ sợ hãi vội cúi xuống quyển kinh và cất cao giọng, gõ mạnh tiếng mõ như cố xóa lấp cái hình ảnh quá khứ. Nhưng vẻ mặt tươi cười, đôi mắt sắc sảo, cặp môi đỏ thắm của pho tượng mà sư ông nhớ từng nét vẫn như vẽ ra trên trang giấy chữ lớn. Sư ông nhắm mắt lại và tụng thuộc lòng luôn mấy trang kinh; cái khuôn mặt xinh tươi càng rõ rệt hơn và sau cùng, sáng lòa một cái tên chữ quốc ngữ, tên người đàn bà xưa”.

Từ đấy, bất kể làm gì, tụng niệm, ngồi thiền, cuốc xới, trồng cây, nhà sư chỉ nghĩ đến nàng, khi mệt quá thiếp đi, nàng xuất hiện lại trong mộng. Người ấy như thành yêu quái ngày đêm hiện về ám ảnh… Chịu đựng cực hình trong một tháng. Rồi một hôm bỗng sư Tuệ bỏ chùa trốn đi

Tác phẩm hoàn tất khái niệm lửa tâm càng dập càng nồng, mà Khái Hưng đã đưa ra năm năm trước đấy trong Hương gây mùi nhớ, để phản bác lại Hồn bướm mơ tiên, viết cách đấy 11 năm.Ông cũng là một trong những nhà văn đầu tiên không tin và nói ra vấn đề tìm quên trong đạo, với câu trả lời dứt khoát: Cửa thiền không phải là nơi giải thoát, chỉ là một ngục tù mới, trói buộc con người một cách giả trá và khốc liệt hơn.

Ô Quy Hồ (Phong Hóa số 175, 21-2-36) ở trong không gian núi rừng mạn ngược, hẻm núi Chapa. Quang và Ray trốn xuyên rừng về Lao Kay. Lao Kay nghiã là yêu Kay. Ta Cao, đã xin cưới Kay nhưng nàng không thuận, đuổi theo.

Hai người đã đến gần Ô Quy Hồ:

“Trăng trong lẩn vào ngọn một cây pê-mu, thân to đế, năm, sáu người ôm và cao chót vót như chọc thủng da trời màu xanh nhạt. Ánh sáng chiếu xuống một đám mây mỏng vắt ngang sườn núi bên kia như một tấm lụa trắng bay theo chiều gió vướng vào rừng sặt, ngọn tua tuả đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng.

Quang kìm ngựa lại ngắm nghía bảo Kay:

– Chúng ta đi trên mây.

Kay cười khanh khách. Bỗng nàng rùng mình im bặt, vì tiếng cười vang đáp lại làm cho nàng kinh hoảng, nhớn nhác, trông trước trông sau. Tiếng vang nàng vẫn thường nghe thấy, nhưng lần này nàng nhận ra như tiếng chế nhạo khiêu khích của ma quỷ.”

Văn Khái Hưng cực kỳ điêu luyện: không bỏ sót một chi tiết nào, tất cả đều như đã được sắp xếp từ trước để tạo không khí cạm bẫy, rùng rợn bằng mấy chữ: với cây pê-mu, chọc thủng da trời, rừng sặt ngọn tua tuả đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng; hoặc khiKay cười, nghe núi vọng lại một thứ tiếng chế nhạo khiêu khích của ma quỷ.

Chúng ta trót theo Quang, Kay đến đây, không biết cây pê-mu là cây gì, chỉ biết nó vĩ đại, năm sáu người ôm. Rồi cậy sặt cũng vậy, nhọn như gươm giáo, lại cả một rừng sặt, ta đã lạc vào một rừng gươm. Rồi chính tiếng cười của Kay cũng bị ma quỷ nhái lại.

Ô Quy Hồ là hồ rùa đen mang một huyền thoại dữ. Kay nằm mơ bị rùa đen khổng lồ chặn đường, tát chết ngựa, bóp cổ nàng. Nàng vụt quất ngựa phóng nước đại. Là người của núi rừng, nàng phi như gió trên hẻm núi cheo leo. Quang phi theo sau, chàng trai thành thị… Một tiếng rầm… nàng quay lại, đã trễ, và như ngọn gió, ngựa nàng phi thẳng xuống vực…

Về truyện đường rừng, Lan Khai và Thế Lữ là hai cây bút chuyên nghiệp, nhưng họ không thể nào sánh với Khái Hưng.

TVEAVQKVVEAV (Ngày Nay số 112, 29-5-38) sau in thành sách đổi tên là Tiếng khèn, một truyện lạ lùng nữa trong khung cảnh kỳ dị của núi rừng:

“Ba gian nhà rộng. Ở gian giữa, trên một cái dá [giá] cao và dài kê sát vách, người chết- một người thiếu phụ- nằm ngửa, hai tay buông xuôi, mặt che miếng vải xanh. Khách trịnh trọng lại gần, cầm cái phất trần lông gà phe phẩy; tức thì đàn ruồi đen bay tản ra. Tôi ghê sợ lùi lại một bước, đầu chạm vào một vật nhũn. Ngửng lên nhìn thì đó là một miếng thịt lợn sống, máu còn nhỏ giọt, mà họ buộc vào cái sào gác ngang từ cửa tới chỗ cái thây ma.

Cặp mắt mờ lệ của người Mèo trẻ tuổi đưa nhìn từ đầu đến chân thiếu phụ. Rồi từ từ, run run, tay hắn nhấc miếng vải che mặt người chết ra. Một lần nữa đám ruồi bay lên tua tủa, khiến tôi kinh hoảng lảng ra phiá cửa.

Trong lúc người trẻ tuổi vừa khóc vừa kể lể từng đoạn rất lâu, giọng lên xuống như lời ca than vãn, thì một người Mèo lom khom nhảy và thổi khèn ở trước linh sàng, và một người nữa cầm dùi gỗ nện vào cái mặt trống căng chùng để gõ nhịp.”

Người trẻ tuổi chính là anh chàng thổi khèn trong phố đêm Chapa, mà tác giả -đây là một tự truyện- mấy lần lên Chapa đều được nghe tiếng khèn của anh ta trong đêm khuya, lần này anh ta đi đám ma, bèn xin đi theo. Đêm ấy, trời mưa không trở về được, tác giả dù đã ớn lắm, đã nổi da gà, cũng đành ở lại, ngủ nhờ một người trong xóm. “Bên nhà tang, tiếng khèn, tiếng trống vẫn gióng một kéo dài: “tsè tsè tsè…phình! tsè tsè tsè phình!” như không bao giờ sẽ dứt”.

Ngủ chung với con lợn, trên miếng da ngựa hôi hám, tác giả thiếp đi, bỗng tỉnh dạy vì “một thứ âm nhạc rất lạ lùng, rời rạc và mọi rợ: “Ưn, … Ưn ưứt!… Ưn…ưn ưứt!…”

Tất cả những khủng khiếp tác giả đang trải qua, chứng tỏ sự khác biệt kinh hồn giữa người kinh và người thượng, giữa “văn minh” và “mọi rợ”.

Nhưng cuối cùng, như Khái Hưng thường có ma thuật, giao hòa hai đối tác, để hợp lại trong giác ngộ, đưa đến tình yêu và sự giao cảm giữa người và người, dù sự khác biệt văn hóa có sâu xa là chừng nào: trên đường về, qua cái lều cối giã gạo, mới hay “tiếng ưn ưứt chỉ là tiếng cái cần mà sức nặng của nước làm rơi xuống và tiếng cái chày gỗ giã trong không“.

“Và từ đó, tiếng khèn trong chiều tà, tôi nghe như ai oán, như than khóc của một linh hồn trơ trọi“.

Điếu thuốc lá (Ngày Nay số 114, 12-6-38), Khái Hưng đã đạt tời đỉnh cao nghệ thuật tả chân.

Mỗi chữ đều có phận sự của nó và mỗi câu đều có thể diễn vài ý khác nhau:

Thỉnh thoảng cặp môi mỏng và thâm của ông ta lại bỏ rơi nụ cười hầu bất tuyệt để kéo một hơi thuốc lá, rồi khi điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son, nụ cười lại trở về đậu trên cái miệng hé mở, tựa con chuồn chuồn trên mặt ao không bao giờ chịu rời hẳn bông hoa muống sau mỗi cái giật mình bay đi.”

Đấy là nụ cười của ông thày bói Cửu Thầy. Mù. Mù một trăm phần trăm. Vì cậu bé tác giả đã nhìn thấy: “Hai con mắt ông ta không có con ngươi và lõm hẳn vào, hai mép mi như khâu liền lại nhau“.

Đây cũng là một tự truyện, tác giả (hồi đó) là cậu bé độ chín mười tuổi, bị lôi cuốn vì đôi mắt mù thánh của ông Cửu Thầy: không cái gì qua “mắt” ông được. Câu bé tinh nghịch muốn thử: khi điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son; bèn giấu điếu thuốc là đi xem ông ta có biết không, nhưng vụng về không làm kịp nên phải bỏ lại, đặt ngược cái đầu có lửa cháy quay vào trong. Ông Cửu Thầy không để ý, đưa lầm đầu có lửa vào môi, suýt bỏng. Nhưng nụ cười của ông không vì thế mà héo rụng. Và ông đã quyết trả thù đứa bé bằng nụ cười. “Cái mỉm cười lặng lẽ, bí mật, ghê sợ nữa”, theo thằng nhỏ ngày đêm, làm cho nó kinh hoảng không ngừng. Hôm ấy, Cửu Thày quyết định ra tay, ông gọi thằng con ruột có lỗi lại gần. “Thằng con chừng biết mình có lỗi, rụt rè chưa dám vâng lời ngay. Nhưng về sau như bị đôi kính đen của cha thôi miên, nó mon men lại gần… Ông Cửu Thầy vẫn mỉm cười, đợi. Bỗng nhanh như con bói cá, bàn tay trái ông bổ xuống nắm lấy cái đầu tóc rối trong khi bàn tay phải tát hai cái cực mạnh trên hai má thằng con khốn nạn”.

Sự trả thù “hàm thụ” của Cửu Thầy tàn ác và kinh rợn hơn sự trả thù trực tiếp, vì cậu bé con quan suốt đời sẽ không bao giờ quên được hai cái tát trên má đứa bé khốn nạn kia.

Khái Hưng luôn luôn thay đổi bối cảnh và cách viết, nhưng ông thường chỉ nhắm vào một đối tượng duy nhất như một vật, một đáng điệu, một thói quen, một âm thanh… rồi chiếu vào thực thể ấy bằng sự thôi miên xuyên suốt, cho tới khi nào nó “thua”, nó phải hạ màn. Đó là kỹ thuật truyện ngắn của Khái Hưng.

Các nhà phê bình của ta, thường có lối nhận định đầy mặc cảm bị trị: cái gì hay cũng học Tây, ví dụ Vũ Ngọc Phan, đọc truyện Đồng xu thấy hay, bèn khen: Gravoche! Rồi Điếu thuốc lá, ông bảo gần bằng Cain! Cung Giũ Nguyên thấy Hai vẻ đẹp của Nhất Linh hay, thích lắm, nhưng ông lên giọng kẻ cả, khen rằng Nhất Linh có giọng một trăm phần trăm giống Gide, trong cuốn Nouvelle Nourriture. Khiến Khái Hưng phải chú thích: nỗi băn khoăn ấy Nhất Linh đã có từ bốn năm trước khi đọc Gide[19] [ý nói từ khi Nhất Linh học trường mỹ thuật, đã có ý so sánh cái đẹp trong tranh với đời thực khốn cùng, vì thế ông bỏ mỹ thuật] Tiêu Sơn tráng sĩ cũng được người ta cũng khen rằng sắp theo gót Ba người ngự lâm pháo thủ!

Lối phê bình tự hạ này rất kỳ cục, bởi ta nên biết: nền văn chương của một nước, như văn chương quốc ngữ của chúng ta, không phải vì ra đời sau mà nó kém văn chương Tây phương. Văn chương không phải là văn bằng, cũng không phải là cái ô tô hay một phát minh khoa học. Tác phẩm văn chương khi ra đời nó không có bố mẹ, mà có giá trị riêng của nó, độc nhất, không giống ai, trước sau cũng vậy. Tôi ở Pháp đã lâu, mà nghiệm thấy mình ít có may mắn được đọc những nhà văn Pháp viết truyện ngắn như Khái Hưng Nguyễn Huy Thiệp.

(Còn nữa)

Thụy Khuê

thuykhue.free.fr


[1] Nùng Chi Lan ký Tống Lương (Phong Hóa số 14, 22-9-32); Bông hoa thủy tiên ký Tứ Ly (số 31, 24-1-33) và Cánh buồm trắng, ký Tứ Ly (số 34, 17-2-33).

[2] Tuồng cổ tân thời đăng trên Phong Hóa, từ số 38 (17-3-33) đến số 42 (14-4-33).

[3] Thây ma xuống gác (Phong Hóa số 27, 23-12-1932), Con châu chấu ma(số 30, 13-1-1933) Cô Bụt (số 44, 28-4-1933), Giòng máu đứt quãng (số 53, 30-6-1933), Cái ví da đen (số 60, 18-8-1933) Hai lần chết (số 63, 8-9-1933), Cái xác đuổi người (số 66, 29-9-1933) Bên đường Thiên Lôi (số 70, 27-10-1933) Ngây thơ (số 103, 22-6-1934) và cũng trong số bào này bắt đầu phóng sự Lê Ta làm báo.

[4] Giết chồng… báo thù chồng, số 14, 22-9-32, Tiếng chó sủa, số 15, 29-9-32, Cái hoa chanh, số 16, 6-10-32, Tiếng gọi cõi âm, số 17, 13-10-32.

[5] Con hai bố (Phong Hóa số 24, 2-12-32); Vết máu… (số 26, 16-12-32); Nước chảy đôi giòng (số 28, 30-12-32); Cô áo tím (số 29, 6-1-33); Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng) và Ngọc có vết (số 31, 24-1-33), Hồn hoa và Bóng người trên sương mù (số 32, 3-2-33), Gái vùng Lim (số 33, 10-2-33), Nắng mới trong rừng xuân (số 37, 10-3-33), Đầu đường só chợ, (số 51, 16-6-33), Tháng ngày qua (số 52, 23-6-33), Ngày thu… (số 62, 1-9-33).

[6] Gánh hàng hoa từ Phong Hóa số 66 (29-9-33) tới số 88 (9-3-34); Đời mưa gió từ số 89 (16-3-34) tới số 112 (24-8-34).

[7] Thế rồi một buổi chiều, phụ trương số 91 (30-3-34), Cô hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh) số 107 (20-7-34), Nắng thu từ số 113 (31-8-34) đến số 122 (2-11-34), Lan rừng, số 162 (15-11-35).

[8] Nghèo,Ngày Nay số 17 (19-7-36) Hai buổi chiều vàng(Ngày Naysố 19, 2-8-36), số 20, 9-8-36, số 21, 16-8-36 và số 22, 23-8-36, Tối tăm,số 23, (30-8-36), Chết dở, số 24 (6-9-36), Hai chị em, số 34 (15-11-36), Vết thương,số 35 (22-11-36), Con đường quê,số 138 (20-11-38).

[9] Kong-Ko Đai-Jin ký Trần Khánh Giư (Phong Hóa số 14, 22-9-1932); Đi Nam Kỳ ký T.K.G và Cái thù ba mươi năm ký T.Khái Hưng (Phong Hóa số 15, 29-9-1932); Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng (số 16, 6-10-1932); Cái thống đời Tống ký T. Khái Hưng ( số 17, 13-10-1932); Tình tuyệt vọng trong có bài thơ Tình Tuyệt Vọng (dịch thơ Arvers) (số 18, 20-10-1932); Ada Kwaben (Phong Hóa số 19, 27-10-1932); Lãng mạn ký Trần Khái Hưng, số 21 (11-11-1932); Bạn…! Chỉ là bạn!… (số 23,25-11-1932); Dưới bóng hoa đào của Khái Hưng và Bảo Sơn (số 31, 24-1-1933); Lên sĩ xuống sĩ (số 33, 10-2-1933); Hai linh hồn, số 35, 24-2-1933); Bên giòng sông Hương (số 40, 31-3-1933); Ý Lan (số 41, 7-4-1933); Véo von tiếng địch (số 42, 14-4-1933); Nghiã cái cười (số 43, 21- 4- 1933); Anh phải sống (số 45, 5-5-1933); Hai cái áo quan(số 46, 12-5-1933). Tình điên (số 48, 26-5-1933) và số 49 (2-6-1933); Con lợn lài (số 50, 9-6-1933); Hất báo số 56, 21-7-1933) số 57, 28-7-1933) và số 58, 4-8-1933); Lời thề(số 64, 15-9-1933); Giọc đường gió bụi (số 65, 22-9-1933); Yêu (số 77, 15-12-1933); Con số 08430 (số 78, 22-12-1933; Ai đẹp (số 79, 29-12-1933); Bên đường dừng bước (số 85, 11-2-1934); Tình lưu luyến (số 96, 4-5-1934); Hoàng Oanh (số 97, 11-5-1934); Yên lặng (số 106, 13-7-1934); Cô hàng nước của Khái Hưng và Nhất Linh (số 107, 20-7-1934); Gói bạc rơi (số 120, 19-10-1934); Một tập thư, (số 121, 26-10-1934); Chúa Thao (số 122, 2-11-34). Con Mán (số 125, 23-11-34), Hương gây mùi nhớ (số 127, 7-12-34), Một nhà thông thái (số 128, 14-12-34), Cái đồng hồ đeo tay (số 133, 18-1-35), Linh hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ Thị Kim Dung (số 134, số Xuân, 30-1-35), Một nhà hiền triết (số 139, 8-3-35), Bắt trộm (số142, 29-3-35), Giặc bể (số 144, 12-4-35), Con chim vành khuyên (số 154, 20-9-35), Tiệc tranh (số 158 (18-10-35), Không BẢ..A..Án (số 159, 25-10-35), Trăng suông(số 161, 8-11-35), Tình yêu thứ nhất của Khái Hưng và P.N.Thọ (số 164, 29-11-35), Cầm vườn (168, 27-12-35), Cái áo đan, Lá rụng, Hoa thuỷ tiên, Hoa anh đào, Ngày xuân lễ chùa, Trong rừng mai (số 171, Xuân 21-1-36), Chén trà mạn sen (số 174, 14-2-36), Ô Quy Hồ (số 175, 21-2-36), Trúng số và Bãi sậy vườn cam (số 176, 28-2-36), Biến đổi (số 177, 6-3-36), Cháu Tạ (số 178, 13-3-36), Vú Kim (số 181, 3-4-36), Trong nhà thương (số 185, 1-5- 36), Hai cảnh trụy lạc (số 187, 15-5-36), Có đi có lại (số 188, 22-5-36), Thưa chị, (số 189, 29-5-36), Cái máy ảnh ( số 190, 5-6-36).

[10] Ba Ếch Vô Huế, kýKhái Hưng(số 41,7-4-33); Một đám ma, ký Nhị Linhsố 46 (12-5-33); Quýt ngọt, ruốc ngon, ký Khái Hưng (số 49, 2-6-33); Gật, gật hoài ký Khái Hưng,số 50 (9-6-33); Hảo hớn kýNhị Linh, số 52 (23-6-33); những chuyện sau đây ký Khái Hưng: Võ Thái Hà, số 53 (30-6-33)Để của bí mật, số 54 (7-7-33); Yêu đời, số 73 (17-11-33); Đãng trí, số 89 (16-3-34); Cai thuốc phiện, số 91 (30-3-34); Những bóng người trên bãi biển, truyện phóng sự của Nhị Linh, số 109 (3-10-34); Ông cứ giã cho nó! ký Khái Hưng, số 118 (5-10-34). Chụp gà hóa cáo số 124 (16-11-34) Thả vỏ quýt ăn mắm ngấu (số 125, 23-11-34), Liều thuốc độc (số 129, 21-12-34) Mãn đình hồng của Nhị Linh (số 130, 28-12-34), Ăn miếng trả miếng (số 131, 4-1-35), Bảng công ty (số 152, 6-9-35), Chơi ô tô ( số 160, 1-11-35), Tờ giấy bạc (số 161, 8-11-35, Bàn việc làng (số 165, 6-12-35, Cờ quạng ( số 182, 10-4-36) Bảo hiểm (số 184, 24-4-36).

[11] Kiêng1 (Phong Hóa số 31, 24-1-33) ký Khái Hưng; Tôi là Khái Hưng (số 39, 24-3-33); Ghen, số 46 (12-5-33) ký Nhị Linh; Những vở kịch ký Khái Hưng: Nửa cái thỏ bò, số 51 (16-6-33), Ông Đồng Phương, số 81 (12-1-34); Kiêng 2, số 85 (11-2-34); Tục lụy; số 88 (9-3-34), 89 (16-3-34) và 90 (23-3-34); Con mèo, số 115 (14-9-34); Chữ nho, số 116 (21-9-34); Bói Kiều, số 119 (12-10-34); Không hề gì mà, số 120 (19-10-34), Kiêng (số 134, số Xuân, 30-1-35), Ở hiền gặp lành (số 172, Xuân II, 31-1-36), Quần tiên tụ hội, (số 185, 1-5-36), Kịch không người (số 190, 5-6-36).

[12] Đợi chờ, Ngày Nay số 17, 19-7-36), Bến đò năm xưa (số 21, 16-8-36), Phong lan và Nước hoa phong thổ (số 22, 23-8-36), Cái ve (số 23, 30-8-36), số 24, 6-9-36), số 25, 13-9-36) và số 26, 20-9-36), Lòng tốt (số 26, 20-9-36), Linh Hồn (số 28, 4-10-36), Trăng thu (số 29, 11-10-36), Người vợ mù (số 31, 25-10-36), Dưới ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu) (số 32, 1-11-36), số 33, 8-11-36) số 34, 15-11-36) và số 35, 22-11-36), Nhà phê bình (số 39, 20-12-36), Đồng xu, (số 41, 3-1-37), Đêm giao thừa, (số 46,7-1-37), Cô áo trắng (số 51, 14-3-37), Vui tính (số 53, 4-4-37), Hội kín (số 58, 9-5-37), Tống tiền (số 59, 16-5-37), Nguồn thơ và Ngày giỗ (60, 23-5-37), Bến Hòn Gay (số 63, 13-6-37), Cháu nhà quan (số 64, 20-6-37), Sung sướng (số 65, (27-6-37), Cô dâu (số 66, 4-7-37), số 67, 11-7-37) và số 68,18-7-37), Cây tre trăm đốt (số 70, 1-8-37), Vợ cóc, truyện cổ tích (số 71, 8-8-37), Ai mua hành tôi, truyện cổ tích (số 72, 15-8-37), Mười năm yêu dấu (số 76, 12-9-37), Người hầu sáng (số 86, 21-11-37), Sếnh Sáng (số 88, 5-12-37), Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa) và Đào Mơ (số 89, 12-12-37), Tập ảnh (số 96, 30-1-38), Thời xưa, (số 103, 27-3-38), Chùa Hương (số 109, 8-5-38), Xanh cà bung (số 110, 15-5-38), TVBAVOKVVEAV tức Tiếng khèn (số 112, 29-5-38), Điếu thuốc lá, (số 114, 2-6-38), Lưu Bình Dương Lễ (số 125, 28-8-38) số 126, 4-9-38) số 127, 11-9-38) và 129, 24-9-38), Một buổi chầu (số 146, 21-1-39), Hai người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó hiểu (số 148, 4-2-39), Chàng thi nhân (số 149, 15-2-39), Gán vợ (số 151, 4-3-39), Tình địch (số 154, 25-3-39), Tế thành hoàng, (số 156, 8-4-39), Cái duyên của Tản Đà (số 166, 17-6-39), Vài truyện vui về thi sĩ Tản Đà (số 167, 24-6-39), Ông Đồng (số 172, 29-7-39), Thời chưa cưới, (số 173, 5-8-39), Tương tri, (số 175, 19-8-39), Hai người bạn (số 181, 30-9-39), Sư Tuệ, (số 182, 7-10-39), Hai con mắt (số 205, 30-3-40), Biển, (số 209, 25-5-40), Ái tình, (số 216, 13-7-40), Nghiện, (số 218, 2-7-40).

[13] Chết và Cờ điên thoại (Ngày Nay số 16, 12-7-36),Cậu Cả (19, 2-8-36), Tiền (số 20, 9-8-36), Người chồng (số 36, 29-11-36), số 37 (6-12-36) và số 38 (13-12-36), Kiêng V (số 46,7-1-37), Đồng bệnh (số 80, 10-10-37), số 83, 31-10-37, số 84, 7-9-37) số 85,14-11-37), Chén trà đầu năm (số 96, 30-1-38), Không đèn (số 153, 13-3-39), Khúc nghê thường (số 198, 3-2-40, số 200, 24-2-40).

[14] Hổ (Ngày Nay số 145, 14-1-39), Thâm nho (số 151, 4-3-39), Trả thù (số 159, 20-4-39), Thoát (số 161, 13-5-39), Bà chủ nhà của tôi (số 164, 3-6-39), Bá cáo việc riêng (số 202, 9-3-40), Cách cho (số 203, 16-3-40), Chợ trời (số 204, 23-3-40) Đi ra thôi (số 206, 6-4-40) Cây “Thần tiên” (số 215, 6-7-40) Người bán dầu (số 217, 20-7-40), Lỡ quá ga (số 218, 27-7-40), Nghỉ mát (số 221, 17-8-40), số 222, 24-8-40) và số 223, 31-8-40).

[15] Mưa của Somerset Maugham, Khái Hưng dịchNgày Naysố 43, 17-1-37, số 44 (24-1-37), số 45 (31-1-37), số 46 (7-1-37), số 48 (28-2-37) và số 49 (7-3-37), Cô gái thành Arles của A. Daudet, Khái Hưng dịch (số 50, 14-3-37), Bệnh việncủa Somerset Maugham, Khái Hưngdịch,số 167 (24-6-39) số 168 (1-7-39), 169 (8-7-39) và 170 (15-7-39); theo bản chũ Pháp của bà ER Blanchet, Trà đạo của Okakuza Kakuzo, Khái Hưng dịch theo bản chữ Pháp của Gabriel Mourey (số 209, 25-5-40), Ý nghiã nghệ thuật, của Okakuza Kakuzo (Trà thư), Khái Hưng dịch, số 210 (1-6-40), Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng dịch (Ngày Nay số 212 (15-6-40), Hoa, của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng trích dịch (Ngày Nay số 213 (22-6-40), Các trà sư của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng trích dịch (Ngày Nay số 214 (29-6-40)

[16] Tiền hồ là tiền trả cho nhà chứa bạc.

[17] linh là lẻ, có nghiã là trên dưới trăm bạc.

[18] xà tích: dây bạc để đeo thià khoá.

[19] Cung Giũ Nguyên, Les Cahierrs de la Jeunesse số 4 Décembre 1936, in lại trong Ngày Nay số 52).

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.