cũng chuyện bâng quơ của ôn tra Huế ,Thân Trọng Tuấn về cây cầu hậu Sông Đào (Bao Vinh)

CẦU HẬU SÔNG ĐÀO

Chánh Bắc Môn – Photo Trần Hữu Sơn Tùng 2006

          Tháng bảy, tháng tám, mây từ Thuận An trôi tạt vô núi, kéo những sợi tơ trời ẻo lã lưa thưa bay lẻ tẻ vô nơi rú xanh núi thẳm. Ai hơi mô để ý mấy chuyện tào lao như việc gió kéo phẳng phiu mấy sợi tơ óng ánh nắng mặt trời âm thầm bay vô dãy trường sơn xám tím. Chỉ mấy tên óc mó rãnh chút thì giờ thì đi chơi mút chỉ theo cái kiểu đốc hồ đô huyện kiếm mờ con mắt cũng không ra, hết chuyện làm mới lên trên Độn Thành Lồi huênh hoang rằng thì là ta đây đầu đội trời chân đạp đất, dang tay dạng chân trông thiệt như ông Trạng đang phô trương chữ Thái huếch lác nhìn xuống nhân gian dưới miệt biển mịt mù. Nhìn qua khỏi cửa Bắc, con sông đào thẳng tắp bên bờ tre xanh, có hai chiếc cầu nối thẳng vào thành, chiếc gãy chiếc lành,tục danh Cầu sông cửa Hậu. Cố đô Huế vuông vắn soi mình trên bóng nước Hương Giang. Ngói trên nóc Điện Thái Hòa rực rỡ huy hoàng. Thời mô đó, có ông vua vẫn ra ngự ở Điện Cần Chánh trước khi trời rơ rơ đất cho đến khi bãi triều, lui về Hoàng Thành ăn cháo gạo hẻo rằn với cá bống thệ kho khô. Thì mùa ni nì, bầy choa cũng đang dạo chơi vùng Long Thọ, thuộc dãy Tiểu Trường Sơn khiêm nhượng muôn đời. Lát nữa về, tạt qua phường đệ Nhất ăn chén chè ngoài Cầu Hậu gánh vô.

Chè Gánh Cầu Hậu

See the source image

 Thời xa xưa, trước khi Tây mang hệ thống làm nước đá sang Việt nam, mấy o bán chè chiều hay chè tối không cần có tay nghề mà chỉ cần có giọng rao thanh tao, ăn nói nhỏ nhẹ là đắt khách. Sau tiết Thanh Minh, ngày dài dần, thời tiết bắt đầu nắng ấm, mấy o xuất hiện trên những con đường mướt cỏ xanh và hương hoa thầm lặng. Tiếng rao chừng năm ba chữ của mấy o thiệt thỏ thẻ lọt qua lớp hàng rào mơn mởn lá đương tơ, nhưng cũng đủ làm cho khách vừa xong giấc ngủ trưa nghe thiệt êm tai mát dạ, hoặc câu chuyện từ đầu hôm đến bây chừ vẫn còn dang dỡ, chút ngọt bùi của chén chè đến vừa đúng lúc khiến câu chuyện càng trở nên đậm đà rộn rã tới nửa đêm.

Mùa Xuân, cậy người bảo lãnh, cô bán chè ra cầu Hậu đặt hàng. Nhà sản xuất cung cấp hầu hết các thứ ngoại trừ cái đòn gánh và dĩa đèn dầu nếu bán về đêm. Tùy theo khả năng mà chọn loại gánh nặng gánh nhẹ. Chiếc gióng mây đặc biệt “sáu tao đôi” ôm khít rịt mấy mũng chè xếp lượt. Mớ chén ngang đều rí kẻ màu xanh lôi thôi nhưng vô cùng ý tứ đánh dấu từng loại chè, giúp cho o bán hàng kể vanh vách số lượng và các loại chè mà khách đã dùng qua để tính tiền mà không hề nhầm lẫn. Khách ăn xong, o bán chè xếp mũng và mớ chén không chồng lên nhau cho xuống dưới khiến gánh chè thấp dần. Chiếc đòn tre vàng nâu bóng láng như bôi mỡ có chân lỗ chổ như bị cóc gặm chèn bên triêng bên ni để cân bằng đối diện với triêng bên tê là ống tre đựng mớ đũa con và mấy cái vạy. Cuộc đời xoay vần, thế sự đổi thay. Kể như chuyện trong hoàng cung vua Khải Định cho dời mâm cơm Ngài ngự từ cái sập gụ bảo truyền ra chiếc bàn vuông có bốn cái ghế dựa, thì ngoài ni vùng Cầu sông cửa Hậu cũng thay cái vạy tre dùng mô từ thời mở nước của công chúa Huyền Trân bằng chiếc muỗng thiếc cho nó văn minh. Chỉ thay cái vạy thôi, còn chén ngang và đũa con vẫn giữ nguyên vẹn hình hài, do đó, cái vạy mất tên. Sau này, gặp người hỏi lục lác, cứ ngơ ngẩn tưởng rằng cái vạy “ác ôn ghê gớm” nó đã theo Pháp trở về Tây! Nếu may mắn gặp mụ tra mô đó nghe được, nhắc chừng cho hay rằng thì là cái vạy tre là thứ trước tê người ta thường dùng khi ăn bánh bèo bánh nậm, hoặc các loại chè đặc như chè khoai tía, đậu xanh đánh nọ kia các thứ. Có người không rành, gọi cái vạy là cái chèo hay con dao tre cho tiện. Ai hơi mô mà nhớ vạy với vệt mần chi cho mệt cuộc đời!

Nắng hè rực rỡ, khách ăn chè càng đông. Mấy o mấy mụ bán chè cũng chuyển từ thuê gánh nhẹ đầu xuân sang gánh nặng giữa mùa hè. Gánh nhẹ thường toàn các loại chè đặc như chè khoai tía pha gừng, chè môn sáp vàng, chè đậu xanh đánh, chè bông cau, chè mè đen, chè đậu ván đặc, chè đông sương, chè kê, chè bắp v.v. Các loại chè đặc này thường được nấu sẵn, múc ra chén từ đầu hôm, xếp từng chục vô mũng chờ mấy o “bạn hàng ra cất”. Tùy theo số lượng cất hàng, nếu bán không hết và chè không bị vữa, sẽ được đổi hoặc trả lại. Gánh nặng kềnh càng hơn vì thêm nồi nước đường, mấy cái ơ đựng các thứ nấu sẵn như đậu xanh lòng, đậu đen, đậu huyết, đậu ván, đậu ngự, bột lọc bọc đậu phụng v.v., mấy cái chén không và cái vá múc chè. Người thuê mua gánh nặng không được trả hay đổi loại chè nước vì sau một ngày thì các thứ “đậu đường bị ê”. Các thứ chè đặc nếu bán không hết thì vẫn đổi được. Mỗi chén chè bán ra trước ngày Hội Chợ năm 1932 triều Bảo Đại nguyên niên giá nửa xu trong khi lương quan tri huyện là năm mươi đồng!

Một triêng chè nặng gánh oằn xương sống nhưng phải đặt bước chân cho ngay, nếu không, như  để chiếc đòn triêng nhún nhẩy thì còn chi gánh chè! Bờ vai nhỏ nghiêng nghiêng đỡ chiếc đòn gánh có dán giấy thuế xanh đỏ tím vàng sặc sỡ quen thân chuyền xuống đôi chân không guốc dép. Phải thiệt khoan thai nhưng không cần đài các, khi bước tới, khi xoay ngang, khi đổi vai, khi hạ gánh nhất nhất nghe theo lời khuôn thước của mụ O trước khi giao gánh để còn mà có tiền nuôi mạ nuôi em, và nhất là để ngày mai ra “sương” gánh khác.

Thiệt tình mà nói, chè gánh Cầu Hậu không ngon bằng chè gánh Nam Phổ, nhưng lại nổi tiếng hơn vì mấy o bán chè trông thiệt mủn mỉm, ăng noái dẹ dàng, giọng rao ngọt như chén chè trong mũng của mấy o. Phải có người giới thiệu và bảo lãnh, mấy o mới được tuyển chứ có phải bạ ai cũng ừ, lỡ khách gọi vào chưa kịp chào đã bị đuổi ra khiến suốt ngày ế ẩm vì bị mất mì xưa! Chè gánh Nam Phổ lại khác. Người bán chè thuộc loại chuyên nghiệp. Gánh chè không dùng mũng mà lại dùng ba miếng gỗ có đóng chân để sắp chén. Chè cháo bún bánh, bất cứ món chi mấy o làng Nam Phổ cũng đủ tài chiều được khẩu vị của người đời. Chỉ nội một chén bánh canh để hoài không vữa không đóng váng cũng đủ lừng danh xứ Huế. Chè gánh Nam Phổ chỉ ngon trong miệng, êm bao tử. Chè gánh Cầu Hậu mới thiệt tình “có hậu”, cho dù khi mới nhìn o hạ đôi triêng gióng xuống đất là khách đã thấy thư thái cái tình xuân!

Cuối hè sang thu, khách ăn chè ít dần. Mấy o bán chè cũng thưa ra Cầu Hậu. Thời tiết nghiệt ngã, mưa gió phũ phàng, gánh chè ướt hết thì bán cho ai? Do đó, một năm chỉ bán được trong mấy tháng nắng. Mùa nào, thức nấy, chè Cầu Hậu cũng theo luật nhân gian.

Từ triều Bảo Đại, các quán chè xuất hiện khắp đế đô. Sau lại có thêm chè xe, lần hồi gắn máy ép nước mía quay tay bán giải khát tại bến xe, góc chợ và đôi khi gần cổng trường trung học. Chủ quán chè phải có tay nghề. Nhiều khi đặc biệt trong các loại chè như chè hột sen bọc nhãn lồng, chè bông cau thiệt đều, chè kê thiệt lền thiệt dẻo, v.v. Khách ăn chè ngồi bàn, có quạt máy, và nước đá bào có pha thêm dầu chuối. Chè để trong ly thủy tinh và ăn với muỗng thiếc dài cán khuấy kêu xọc xạch trông thiệt là tân thời, hơn hẳn loại chè tủn mũn trong mấy cái chén ngang và cái vạy tre cổ hũ. Máy hát quay tay lâu lâu phải thay kim để bảo toàn dĩa nhạc, giúp cho khách ăn chè thoải mái thú giải lao. Điệu Phú lục chậm ngọt ngào thay thế bằng loại nhạc cải cách nghe rổn rãng vui hơn cả nhạc lên đồng. Mấy o bán chè gánh cũng thôi dần chuyện gánh chè. Quán chè có tủ gương, sắp xếp từng hàng những ly chè thấy bắt thèm. Mấy cậu học sinh đội nón cối chà phấn trắng mặc quần tuýt xo màu mỡ gà không cần ủi, thích đi ăn “chè chạy” để dợt le với cô bán chè mang guốc mộc vàng mặc áo Lơ Muya. Ào vô quán ăn chè, trửng giỡn đủ điều, xong xuôi, có kẻ hô “Chạy bây hè!”. Thế là cả toán ùa ra cửa tứ tán khắp nơi, nhưng sau đó trở lui trả tiền gọi là giữ “tư cách”.

Quan Nghè, ông Đốc sau khi chè Cầu Hậu tan hàng chào thua chè quán, thôi thì biểu con sen mụ vú nấu “chạ chạ” nửa bung gồm đậu đỏ đường đen xong múc bày la liệt cho cả nhà thưởng thức. Thời thế nhiễu nhương, Huế có món chè thịt heo quay ăn với xôi vò. Món chè cá dét chỉ được nấu ngoài miệt Hương Điền như món “dút” là món độc đáo của xã Hương Sơ gần Cầu Hậu.

Chè gánh Cầu Hậu, Nam Phổ  chỉ còn dư âm, nhưng không phải vì vậy mà Huế đô không còn chè gánh. Nếu không muốn hoặc không đủ sức đóng xe hay mở quán chè, một số các bà giỏi tay nghề và chịu khó vẫn nấu chè xong gánh đi bán khắp phường và các chợ. Bán về đêm thường khỏi bị dán thuế, cho dù giá thuế chưa tới một chén chè nhưng cũng là tiền là của, mua được cả vịt dầu và mấy sợi bấc dùng cho cái đèn bão tí ti. Tiếng rao nhỏ nhẹ, ngân nga để khách nương theo đó mà nhận diện mụ bán chè như theo giọng hát mà phân biệt ca sĩ. Do đó, tuy cùng đi trên một con đường, nhưng mấy mụ vẫn có khách riêng. Ra bán chè gánh ngoài chợ thì khác, khách thập phương thường dễ dàng, ít kén chọn. Mưa lạnh bán cháo, nắng ráo bán chè, đây là nghề của một số những người tuy thuộc giới buôn thúng bán bưng nhưng có thêm tài khéo cho đôi quang gánh của mình.

Thời buổi thanh bình, đêm ngủ không cần đóng cửa. Mùa hè nóng bức, buổi tối thường bắc ghế ra trước sân ngồi nói chuyện. Có khi lại kê giường ra ngủ cả đêm. Nửa khuya, lỡ sương xuống lạnh thì lại lộn trở vô trong nhà ngủ tiếp. Nhà ai ở gần bờ sông thì không nói chi, còn như ở trong khu bí gió thì chiều chiều ra đứng chơi hóng mát trên cầu sắt Đông Ba, cầu Gia Hội hay cầu Trường Tiền. Cầu Đông Ba đen thui lênh khênh chật hẹp, cầu Gia Hội trắng xám thấp thấp ồn ào. Chỉ có cầu Trường Tiền là lý tưởng. Khách hóng mát thường đứng nơi khúc nối hai nhịp cầu, chổ nương theo chân cầu xây vòng ra. Hiến binh cũng không thèm để ý, mặc cho khách nhàn du nhìn cảnh chiều xuống đèn lên! Nước sông Hương mạ ráng chiều vàng nâu lấp lánh. Đêm có trăng, sóng lao xao xô đuổi những thoi vàng! Thú chèo thuyền pê-rê-xoa rất thể thao. Gác mái chèo, đưa tay ngoắc chiếc ghe cho cặp sát, xong hỏi mua chén chè nổi ăn chơi. Vườn hoa Nguyễn Hoàng sát chân cầu Trường Tiền bên phố Huế là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân. Họ vẫn chia cho nhau mấy chén chè chìm dưới  ánh đèn dầu lung linh diễm ảo! Nét lãng mạn tàn phai theo chiến cuộc. Khi những chuỗi bom nổ mô sâu trong núi vọng về làm giật mình giấc ngủ, thì khách ăn chén chè nổi là những cặp trai gái chưa hề quen nhau mà đã vội xuống đò rồi hè nhau chơi trò vật bậy. Thời buổi kinh tế khó khăn, khách ăn chè chìm trong công viên nay chỉ còn mấy cái thằng đực rất thực tế, cuộc đời không tương lai, chẳng muốn bao tình nhân vớ vẫn như các bậc đàn anh, biến món chè chìm thành chè đút. Gốc gác của mấy o bán chè cũng khác hẳn ngày xưa. Chè trước tê và chè sau ni, tuy cùng một tiếng chè nhưng ý nghĩa  nhiều khi vô cùng khác biệt!

Xóm cũ Sông Đào

(chốn xưa của conchimgiakontum lúc mới hồi cư)

Ghe câu – Photo Trần Hữu Sơn Tùng 2006

Nói loanh quanh ba cái chuyện chè xôi của cái thời xa xưa ít ai nhắc đến nhiều khi nghe bắt mệt. Chén chè gió tuy không làm rệu nước miếng nhưng cũng đủ luyến lưu mấy chữ mọi lần. Người Huế khi nhắc mớ chuyện năm xưa, thường bắt đầu với hai chữ mọi lần. Mọi lần ta ra Cầu Hậu chơi, ghé thăm ông Đốc Bò bàn chuyện Hồng Hoa Nữ. Con đường dọc theo sông Tả Hộ Thành tức là sông Gia Hội nối sông Đông Ba quanh qua Thanh Tước sát cống cửa Trài trải đá phẳng phiu. Cống Thanh Long rộn ràng gót chân học sinh trường Ca-dét, nhìn nghiêng qua lò Tể sinh là nơi cung cấp thịt tươi cho cả thành phố Huế có ông Đốc Bò đậu chiếc xe hơi đen trước cửa văn phòng. Triều Bảo Đại, cả xứ Huế chỉ có mỗi mình ông là ông Đốc Thú Y, tốt nghiệp nghe mô ngoài Hà Nội. Tên thiệt của ông là Đào Văn Trung nhưng người Huế rất mực thân thương cứ gọi là ông Đốc Bò. Ngày hai buổi, ông Đốc Bò lái xe từ xóm Cầu Hậu đến A-Ba-Toa làm việc. Xe của ông cũng chẳng thua chi xe Ngài ngự trong cung. Ông chỉ chơi với Tây, cuối tuần đi đánh tê nít bên Xẹc, sau đó trên đường về tiện thể ghé qua nhà Hồng Cô Nương trên phố Huế nghỉ ngơi. Bà Đốc Bò biết chuyện, nhưng vẫn an nhiên không thèm vấn kế Hoạn Thư vì Hồng Cô Nương cũng là gái có chồng!

Ra chơi nhà ông Đốc Bò, phải qua khúc quanh đồn Mang Cá lớn, giáp mí Bao Vinh. Con đường Cửa Hậu mang tên Tây là Rout de Cua Hau bắt đầu từ đây chạy thẳng về phía tây hơn bốn cây số gặp quốc lộ số 1 tại An Hòa. Phía bắc đồn Mang Cá lớn, có bãi đất trống dùng làm nghĩa trang chôn lính Pháp, mọc sừng sững một cây xoài cao ngất, nổi tiếng nhiều ma. Sau những cơn mưa dông, chất phốt pho bốc lên cháy lập lòe trong màn đêm tối mịt khiến người đi trên đường Cửa Hậu thường líu quíu bước chân run. Đường Cửa Hậu nằm chính giữa và chạy dọc theo Hào Hộ Thành và con sông đào Hậu Hộ Thành. Phía giáp bờ Hào về hướng Kinh Thành không trồng cây. Phía bên tê đường xanh um tre cau vườn tược dày cả mấy trăm thước tây ra tới tận bờ sông đào Hậu Hộ Thành. Phía trước sân nhà nhìn ra con đường Cửa Hậu thẳng ro. Đàng sau vườn thông xuống bến nước sông Đào trong xanh thoáng mát. Nhà ở đây, đi xe hay đi đò đều tiện lợi đôi bề. Không kể nhà tranh vách đất của thường dân, đếm nhà ngói cây mít xây theo kiểu phủ phòng cợ mô chừng năm bảy cái trên suốt cả con đường Cửa Hậu xa xưa. Vì xứ Huế là một nơi ai cũng quen nhau, cho nên chỉ một khúc đường hơn bốn cây số ngàn thì người ta lại càng quen nhau hơn nữa. Từ Bao Vinh, ra nhà ông Đốc Bò phải ngang qua năm chỗ khó quên. Trước hết là qua nhà Dì Lan, vợ ông chủ nhà in Đắc Lập. Sự thành công của nhà in Đắc Lập khiến ai cũng phải gật gù! Qua khỏi nhà của ông Hutter* Đắc Lập, là nhà ông Tôn Thất Phú. Ái nữ Kim Ninh học trường Áo Tím quen với thư sinh Lê Mộng Ngân. Sau khi hồi cư, sinh gửi cô nương giữ hộ cái ba lô để vào Nam, làm thơ tình đăng trên báo Tiếng Kèn và đổi tên là Tô Kiều Ngân. Ở nhà, Kim Ninh ôm ấp cái ba lô của người tình gần cả nửa năm trời, hàng ngày giải sầu bằng những vần thơ T.T.Kh. Qua khỏi nhà ông Tôn Thất Phú, là nhà Mệ Phó Si Ưng Lê. Mệ Phó dáng người hào hoa, đẹp trai, ăn nói dịu dàng khôn ngoan nứt đất tàn trời. Ai nghe mệ nói đều phải mê. Hàng năm có lệ tế Nam Giao, vua đều sai bộ Lễ tứ cho Mệ Phó Si chấp chưởng, cỡi ngựa đi đầu. Nhà quan có tang gia, mời Mệ làm chấp lệnh. Trong túc trời sắp sáng, Mệ điều khiển đoàn phu đám mỗi người hai tay cầm hai cây đèn sáp trắng nâng lên hạ xuống theo chiều nhịp nhàng bước chân từ ngoài cổng vào quanh áo quan thấy mà mê. Chén nước đầy trên áo quan lúc di chuyển không chút lăn tăn gợn sóng. Khúc hò nện đất theo nhịp chày khiến cho kẻ vô tri không quen biết với người nằm xuống cũng phải khóc òa. Đám cưới con nhà quyền thế vẫn mời Mệ đứng chủ hôn. Quan viên hai họ muốn khóc cười thế nào, Mệ cho như ý. Mệ Phó Si thuộc phủ An Phước Vương nhưng theo cái con mụ tức là bà vợ cả người Huế ra đường Cửa Hậu ở chơi. Nhà cửa khang trang, sân vườn rộng rãi. Để nhà đỡ trống vắng, Mệ Phó Si ra Bắc rước về thêm một bà. Vẫn chưa đủ, Mệ vào Nam rước thêm hai bà nữa, nhưng chỉ có một bà chịu ra Huế. Mệ thống nhất Bắc Trung Nam một cách ngon lành, trong nhà ba miền riêng một chắc không bao giờ có chuyện ghen tương lớn tiếng. Mệ lại có chùa khuôn hội. Phía sau chùa Mệ Phó Si lập am Hoằng Hóa Điện. Mệ lại còn lên cạnh điện Hòn Chén cất đền Hội Các. Điện Hoằng Hóa của Mệ luôn luôn nghi ngút đèn hương và tiếng nhạc chầu văn hầu các thánh. Hệ phái Tiên Thiên Thánh Mẫu của Mệ rất lớn, phần đông là phụ nữ. Hàng năm, lệ rước bằng lên điện Hòn Chén đều do Mệ tổ chức.  Tín hữu cột xếp những chiếc thuyền lại với nhau, lót ván vững vàng, dựng các tòa kiệu, kết hoa giăng đèn để làm chiếc bằng rước hầu trên điện. Số bằng tham dự phát xuất từ Điện Hoằng Hóa, thường đậu chật cả một khúc sông Hậu Hộ Thành. Có năm Mệ cho đi bộ, diễn hành thiệt hay. Ngày Mệ Phó Si về chầu Thánh Mẫu, cả mấy sư đoàn phụ nữ thuộc con cháu bà Chúa Thánh Mẫu Liễu Hạnh, các thánh Thiên Y A Da, các cô Tám, cô Chín Thượng Ngàn, các quận Bát, quận Cửu v.v. đi đưa. Đoàn người kéo dài trong trật tự. Đầu đám lên tới cầu Trường Tiền, cuối đám vẫn còn mô ở dưới Ngự Viên. Đám tang to hơn đám tang vua Khải Định cho dù gom lại hết số người đi đưa qua tất cả các cửa thành. Hơn nữa, phần lớn người tham dự đám tang vua Khải Định là do lệnh của nhà cầm quyền, trong khi thành phần đi đưa đám Mệ Phó Si là do lòng thương mến của các đạo hữu dành cho. Con của Mệ Phó Si cũng có nhiều người nên danh phận, kể luôn trong nghệ thuật nấu ăn. Công nương Mai Hương có biệt tài kho cá và làm mắm cà nổi tiếng ở Tiểu Sài Gòn. Công tử Bửu Lộc có nhà hàng Sea Food World ở quận Cam, hàng năm vẫn là nơi tổ chức Ngày Nhớ Huế, Họp Mặt Đồng Khánh Quốc Học và những hội đoàn khác thuộc cộng đồng người Việt ở Nam California. Công nương Kim Chi đẹp dẽ duyên dáng, thích làm chuyện phước thiện, tính tình rộng rãi, tâm hồn phóng khoáng. Công nương thường hay giữ chức trưởng ban văn nghệ hội Ái hữu Quốc Học Đồng Khánh miền Nam Cali. Có năm Công nương đươợc bầu làm Hoa Hậu phu nhân.

Qua khỏi nhà Mệ Phó Si là nhà Dì Giám, nằm cạnh miếng đất trống có con đường kiệt xuống bến đò qua sông Đào. Nhà ông Đốc Bò Đào Văn Trung sát con đường kiệt. Tuy năm sáu căn nhà, nhưng đi ngang qua hết cũng mỏi chân rã cẳng. Con đường đá hoa cương ép phẳng lì sạch sẽ dễ đi. Sau nầy tráng nhựa. Mấy người bán hàng đi chân không cứ theo lối mòn đất cát pha sát vệ cỏ mà đi. Mụ Tốt chỉ bán mỗi hai thứ chè bột lọc và chè kê lộn đậu. Thong thả từ Cầu Hậu xuôi về, bán lần xuống Bao Vinh, bọc qua cống Thanh Long thì hết gánh. Tiếng rao của mụ nghe răng thiệt dịu, thiệt dễ thương. Mụ tuy tra nhưng còn mát! Mụ Bụi ngồi tròng chèo ngang dọc sông Đào bán cơm hến. Cứ khoảng 9 giờ sáng mụ cất tiếng rao hàng. Khách ăn cơm hến xuống bến sau nhà, vừa ăn vừa ngắm cảnh sóng nước trời mây!

Từ nhà ông Đốc Bò đi tiếp một hồi, sẽ gặp cửa Chánh Bắc, có cầu gỗ Huyền Yến, bắc ngang qua sông Hậu Hộ Thành, gặp con đường Cửa Hậu.  Năm Minh Mạng thứ 21 (1840) đổi tên thành cầu Trường Lợi. Năm Thành Thái thứ 10 (1898) làm thành cầu sắt. Cửa Chánh Bắc gần sát đồn Mang Cá nhỏ, luôn đóng kín. Vua Thành Thái cho gác sắt cầu Trường Lợi để dễ bề đánh Tây. Đi thêm một cây số nữa, sẽ gặp cửa Tây Bắc, có cầu gỗ tên Huyền Hạc, cũng bắc ngang qua sông Hậu Hộ Thành, vào đường Cửa Hậu. Năm vua Minh Mạng thứ 20 (1839) đổi tên thành cầu Tịnh Tế. Cửa Tây Bắc cũng đóng kín. Cầu Tịnh Tế không dùng, lâu ngày gỗ mục thấy tang thương. Đi hết cây số cuối cùng của con đường Cửa Hậu sẽ gặp quốc lộ số 1 thuộc xã An Hòa, nơi có điếm gác xảy ra cuộc đối đáp lịch sử của cụ Phan Bội Châu và Xếp đường xe lửa Marchaise. Chợ An Hòa đơn giản. Cái cống Chém buồn thiu. Khu đất vốn dùng làm trường Quốc Tử Giám với Di Luân Đường đồ sộ nay không biết nơi mô. Khoảnh đất dùng làm trường thi hương lại càng mịt mù không dấu vết. Di Luân Đường đã được dời vô trong thành gần cửa Thượng Tứ, sau thuộc khuôn viên trường trung học Hàm Nghi, phía trước viện bảo tàng Khải Định. Trường Hàm Nghi nay cũng mất tên. Vua Hàm Nghi Ưng Lịch và Mệ Phó Si Ưng Lê cùng ngang hàng vai vế. Vua nửa đêm từ Cung Càn Thành chạy ra cửa Chánh Nam, vòng ra cửa Hữu, thở dài bên cây cầu Cửu Lợi không đèn, chùng chình bước xuống đò Kẻ Vạn lao xao. Mệ Phó Si bên phủ An Phước ra ở chơi ngoài xóm Sông Đào gần cửa Chánh Bắc, hàng ngày nhìn cây cầu Trường Lợi buồn thiu.  Kẻ đi, người ở. Dòng nước con sông đào Hậu  Hộ Thành vẫn lơ lửng mấy con cá tràu bông đen thui to đại mệ, bơi dọc theo bờ tre nhìn lên phía con đường Cửa Hậu thân thương. Ơi Bé Tý Cành Vàng! Xóm cũ Sông Đào bây chừ liệu có còn êm ả như xưa?

Cống Chém – Photo Trần Hữu Sơn Tùng 2006

Một chút chi để nhớ. Một chút chi để thương. Một chút hương xưa gởi về cố quận cho dù Độn Thành Lồi có sụt sập hư hao…

Thân-trọng Tuấn

Cali. Hè 2001

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.