Nghe đọc trích đoạn “Sương ký ức “(chương 11/”Tro bụi”) của Đặng Mai Lan qua giọng đọc của chính tác giả !

“Sương ký ức “

Bìa sách Sương Ký ức

tác giả Đặng Mai Lan

 Tro bụi

Buổi sáng trời âm u, bên kia rừng núi hãy còn những vạt sương đêm chưa tan kịp. Sương tản mạn, là đà bay như khói. 

Tôi  đang đứng ở một nơi được gọi là “ngã ba Đông Dương”. Tôi nhớ ngày xưa, hình như vùng biên giới này được nhắc nhở nhiều với cái tên Tam Biên. Biên giới tiếp giáp của ba nước Việt, Miên, Lào. Bên này, bên kia, nơi đã từng diễn ra những trận đánh khốc liệt.

Ly hỏi vì lý do gì mà tôi lại chọn cái thành phố buồn thiu trên vùng Tây nguyên này để tiêu hao những ngày còn lại, mà không là Cà Mau, Rạch Giá, sông nước miền Tây như tôi từng nói.  Nơi này thì có khác gì Đà Lạt đâu. Cũng những cánh rừng thông xanh, vàng hoa dã quỳ,  róc rách thác nguồn sông suối, và cái không khí se se lạnh.

Sự lựa chọn của tôi lúc đó, chỉ là một cảm hứng bất chợt, khi tôi đọc trên trang quảng cáo, thông tin du lịch nói về chiếc cầu treo và giòng sông chảy ngược.

Tôi nói với Ly:

– Mày còn nhớ quán cà phê Dakbla chứ! Tại sao mình không  tới coi cái “huyền thoại” của giòng sông đó ra sao ! Đất nước này toàn “ huyền thoại ”.

Thế là đi, nhưng giờ tôi chợt nhận ra, tất cả chẳng phải là ngẫu nhiên, hay cảm hứng bất ngờ. Đó là một thứ ao ước thầm kín của một thời đã nằm yên trong tiềm thức. Cái ao ước không tưởng từ sự lãng mạn của tuổi trẻ. Và bây giờ, giữa khung cảnh âm u  rừng núi, trời đất bao la, chẳng định rõ nơi nào. Tôi vẫn còn lãng mạn để tin rằng có một điều gì đó linh hiển,  đưa đẩy tôi đến đây, biến những giấc mơ thiếu nữ non nớt của tôi thành hiện thực.

Tôi hỏi cậu hướng dẫn viên: 

– Nếu vượt biên giới đi hướng này thì có thấy thung lũng DamBer và hướng kia có tới được  Tchepone  không em ?

Một câu hỏi lạc đề, lãng nhách. Chẳng phải chỉ một mình cậu, mà ngay cả Ly cũng đang nhìn tôi ngơ ngác. Ly không hiểu tại sao tôi lại hỏi tới những nơi chốn xa lạ không nằm trên đất nước của mình. Ly nào biết thứ tên gọi  xa lạ của những vùng rừng núi đó đã như một dấu ấn trong ký ức thanh xuân của tôi, và những gì vừa xảy ra với tôi  đêm qua, trong giấc ngủ.

Tôi nhìn cậu dẫn đoàn, cậu còn trẻ quá thì biết gì về những địa danh máu lửa của thời xa xưa đó. Những gì cậu mới vừa giải thích cho mọi người nghe. Giải thích mà nghe như trả bài, những bài học thuộc lòng  về chiến thắng Dakto, Tân Cảnh. Nhưng cái nghề của cậu thì phải thế thôi.

Tôi dịu dàng cười với cậu:

– Xin lỗi em, trong đầu chị lùng bùng lan man vì nhớ nhiều thứ quá.

Cả một đại ngàn trùng trùng điệp điệp. Không biết bao nhiêu xương máu đã đổ xuống vun bón để ngày nay  cây cỏ xanh tươi. 

Tôi nghĩ đến những giọt máu. Tôi đã từng đứng ngắm nhiều giọt máu. Máu không đỏ, không nâu mà là những hình thù cong vòng láng lẫy. Khoảng hai mươi giọt bằng kim khí chồng lên nhau thành một tượng đài, dựng đứng giữa trời như một khiên chắn  kiêu hãnh.

 Tôi đã đọc đâu đó những lời thơ, những câu ca. Những người nghệ sĩ có lúc ví von rằng  sỏi đá biết buồn, cây cỏ biết đau. Còn biết bao nhiêu giọt máu khác màu đã thấm đẫm nơi đây ? Màu ý thức, màu  lý tưởng. Những giọt máu anh em cùng đổ xuống lại bị hoà chung thành những huyền thoại không tương đồng, khập khiễng. 

Lòng tôi đau đớn… Qua bao chiến trận, máu của anh có từng đổ xuống nơi vùng đất này chưa,  hỡi anh yêu dấu ! 

Máu đã góp phần làm nên tấm bia lịch sử cho đời chiêm ngưỡng. Một thứ lịch sử oan khiên sai lạc, mà từ đó dẫu tiếng súng đã ngưng nhưng lòng dân tộc lại bị rách bươm từng mảnh, không cách nào vá víu.

Bây giờ tôi đang ở đây. Vang vang bên tai tôi cũng là những từ chiến thắng, những quân đội, những nhân dân anh hùng như đã từng nghe khi đứng ở cổ thành Quảng Trị. Nhưng hồn phách tôi miên man. Tôi đang chập chờn trong một cơn mơ. 

Phải, một giấc mơ tưỏng rằng đã từ lâu quên lãng.

 Đêm qua mưa lớn, sau cơn mưa, đường hẻm vẫn còn những vũng nước đọng  nơi các chỗ trũng mà những mảng xi măng lâu ngày bị sói mòn, tróc lỡ. Người dân trong xóm mang nước, mang chổi ra sân  dội rửa vĩa hè, quét đi  bao giấy rác vơ vất theo dòng nước mưa còn bám lại. Điều đã làm người con gái chùn chân, tay nâng vạt áo, vén nhẹ gấu quần lên cao vì sợ những giọt nước văng vấy trên hai tà, trên chiếc quần sa tanh đen  được là ủi phẳng phiu. Có lúc cô phải ngừng lại đợi người hàng xóm quét xong một nhát chỗi, rồi mới dám bước qua. 

Ra khỏi con ngõ, không dưng cô ngoãnh lại.

Áo vàng, có lẽ người con gái nào khi biết làm dáng, đủ tuổi khoác trên mình những chiếc áo màu, hầu như đều yêu thích màu vàng. Cô cũng thế, dù chưa có ai nói với cô rằng, nhìn màu áo em “anh về yêu hoa cúc”. Cô cũng không yêu hoa cúc, nhưng cô mặc áo vàng  vì yêu những câu thơ. 

Nếu chỉ là ánh mắt của một người con trai nào đó len lén nhìn, có lẽ cô sẽ không lúng túng. Ánh mắt không vô tình của kẻ trước người sau. Cô nhận ra điều này, bởi vì anh cũng lúng túng như người bị bắt gặp quả tang khi đang làm điều gì đó sai quấy. 

Sao lại là anh ?  Anh có thể bước nhanh hơn, anh có thể gọi cô một tiếng và có thể rời khỏi nhà cùng một lúc với cô cơ mà.

 Cô vừa mới thưa  anh em đi học,  hẳn là anh đứng  trò chuyện với người anh trai của cô cũng không lâu, nên đã bắt kịp cô ngay khi cô bước ra khỏi nhà. 

Hôm đó anh về có thầm yêu hoa cúc hay không, nhưng lòng cô thì rộn rã. Buổi sáng sau cơn mưa, trời trong xanh, tươi mát. Những buổi sáng sau đó trời xanh hơn, vì là những buổi hạnh phúc, vì không còn kẻ trước người sau. Cô ngồi sau lưng anh, đưa anh đến trại và dùng cái xe của anh đi học, đi suốt cả ngày. Dù cô học lớp sáng, nhưng buổi chiều cô thường hay đến thư viện.

Tội nghiệp anh, sau khi  học hết lớp cuối cùng của bậc trung học, anh phải vào quân trường, rồi ra trận mạc. Có được về thành phố dăm ba hôm, anh chỉ lẩn quẩn với bạn bè ở những quán ăn, quán cà phê quen thuộc. Tất cả mọi sinh hoạt liên quan đến học đường anh nào biết. Tất cả là những dặm quá khứ đã xa và không bao giờ anh có thể ngược bước.

Buổi chiều được xã trại sớm hơn bình thường, anh đi tìm cô. Anh ở nơi này thì cô ở một nơi khác. Thư viện Quốc Gia đã dời chỗ. Đường Gia Long và Lê Thánh Tôn, khoảng cách không xa là bao, nhưng anh phải quay về ngồi nơi một quán cóc trước cổng trại để đợi cô. Anh nói, chưa bao giờ anh tiếc thời gian, tiếc một buổi chiều đẹp như thế. Nếu tìm thấy cô lúc đó, anh sẽ đưa cô ra ngoại ô, vào một quán cà phê mộc mạc đơn sơ, nhưng đầy dẫy những bụi hoa muồng vàng mà cô yêu thích.

Những ngày tháng hạnh phúc luôn ngắn ngủi, nhất là với những đời lính. Thành phố cũng từng đó ngày mưa, ngày nắng. Cũng từng đó sinh hoạt, nhưng trong dòng sinh hoạt bình thường ấy, trên đường phố đã hiện lên những hình ảnh buồn rầu. Đã có những chiếc xe nhà binh chở những quan tài. Những quan tài phủ cờ được mang tới những ngôi nhà trong xóm. Những mái tóc cô phụ chít khăn tang. Có tiếng khóc nỉ non, có than van kể lễ… Tất cả những hình ảnh cô từng gặp trong xóm nhỏ của cô ngày trước. Lúc đó, cô chỉ bâng khuâng buồn, rồi quên. Nhưng trong lúc này nó làm tim cô đau thắt. 

Cổng trại ngày nào những chiếc xe jeep, những người lính vào ra rộn rịp. Giờ chỉ còn anh lính ôm súng ngồi gác ở chòi canh. Buổi sáng đến trường, thỉnh thoảng cô đổi đường để đi ngang trại của anh. Những bãi cỏ phía trước vẫn xanh, nắng vẫn vàng trên hàng kẻm gai, trên cây trên lá. Nhưng cái màu vàng của nắng trong mắt cô hôm đó sao tái tê, hoang vắng lạ lùng. Biết bao giờ anh trở lại ? 

Ngày anh đi, cô đã tặng anh một cuốn sách, cô dấu vào đó một bức thư dài, bắt anh hứa sẽ chỉ mở ra đọc khi anh đã đến nơi, một căn cứ nào đó cô không biết. Cái thư thì chắc chắn anh đã đọc rồi. Còn cuốn sách anh có thời gian để đọc không, cô không chắc lắm. Vì anh đi luôn, đi mãi không trở về. Cũng chẳng ai nói, kể với cô một điều nào đó về anh. Thư cô viết đã là những lời vĩnh biệt.

Buổi tối nghe tin  anh tử trận. Cô  ra khỏi nhà, nhưng chỉ loanh quanh trong hẻm. Cô đi từ đầu hẻm tới cuối hẻm, rồi ngược lại. Cô không biết mình phải đi đâu làm gì trong lúc ấy.

Bình thường cô ít theo dõi tin tức, nhưng những ngày sau đó cô đã chú tâm xem những thước phim tài liệu chiến trường được chiếu trên đài truyền hình. Phim chiếu cảnh những chiếc máy bay đang đổ quân nơi trận mạc. Từng người lính vội vàng nhảy ra khỏi lòng phi cơ. Những đoàn quân qua sông, qua suối. Những người lính pháo binh đang đặt những quả đạn vào những nòng đại bác. Một vài khuôn mặt thoáng hiện, rồi mất. Tình hình sôi bỏng của chiến sự không cho phép người phóng viên quay cận cảnh. Nhưng cô vẫn hy vọng sẽ nhìn thấy anh đâu đó trong những gương mặt thoáng qua ống kiếng. Anh đã giã từ vũ khí, sao cô vẫn còn tìm kiếm mãi dấu chân anh.

Tất cả đã là tro bụi. 

Qua làn sương khói lãng đãng, tôi tưởng như đang  nhìn thấy từng lớp bụi  bay lên. Bụi từ những bức thư, những trang sách, những tấm hình… hay còn nhiều thứ nhỏ nhoi nào khác nữa. Những đồ vật vô tri nhưng gói ghém bao tình cảm của người với người đã từng hiện hữu nơi này.  Những thứ hẳn được những người lính ân cần gìn giữ, và đã hoá kiếp thành tro, bởi những ngọn lửa. Người cũng thành than, huống chi là những đồ vật mỏng manh, nhỏ bé.

Bây giờ đám tro bụi ấy đã bay về đâu. Có còn không những linh hồn tử sĩ ? Làm sao nhìn rõ được những hạt bụi bay trong không gian, những hạt bụi hoá thân từ những xác người. 

Nghĩa dũng, lý tưởng, niềm tin, hy vọng và tình yêu của bao người lính đã từng hiện hữu nơi đây. Đất nước này, lãnh thổ  này là của họ, nhưng  hơn hai mươi năm dài  tàn lụi, tro than. Và chúng có còn không nơi những cánh rừng? Hay  chỉ còn trong ký ức người ở lại.

Qua bao lớp sóng phế hưng, những người năm xưa đã sống cùng cuộc binh đao đau thương ngày ấy, có ai về lại nơi này thắp một nén nhang cho những người thân yêu của mình đã nằm lại bên này, bên kia biên giới.

Tôi xin người thanh niên đi cùng đoàn một điếu thuốc. Thời còn đi làm, những giờ giải lao tôi cũng đua đòi ra sân thở  khói với lũ bạn đồng nghiệp. Nhưng chỉ dăm ba hơi gọi là đồng hành trong cái “club fumeurs” 1 của bạn cho vui. Chưa hết một phần ba điếu thuốc là tôi dụi tắt.  Khi chồng tôi mất thì tôi không hề đụng tới.

Lâu lắm rồi tôi mới thử hút lại một điếu thuốc, thấy cổ họng mình không đắng mà nghẹn. Khói nhẹ mà cay, cay nồng đôi mắt. Tàn thuốc rơi rớt trên đám cỏ xanh ngan ngát dưới chân tôi. Những vạt cỏ nơi này, chắc cũng đã biết bao lần bạc màu bởi phải đón nhận những tàn tro vung vãi.

Khói nào thì cũng là khói, và tàn thuốc cũng có khác chi những đốm nhang tàn. Rồi cũng là bụi bay.

Điếu thuốc đốt lên,  không phải để tìm hơi ấm cho một buổi sáng không có mặt trời. Tôi nhìn khói thuốc chao lượn, vẽ những hình nét cong gẫy. Sao như nụ cười buồn của tuổi hai mươi, thời loạn lạc.

Đặng Mai Lan

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.