30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma

30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma

14/03/2018 08:12 GMT+7

30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma

TTO – Ngày 14-3, khi ở đất liền người dân Việt Nam đang cử quốc tang nguyên thủ quốc gia, thì tại Gạc Ma súng địch đã nổ và những người con đất Việt đã ngã xuống máu nhuộm đỏ một vùng Biển Đông.

Lật chồng báo Nhân Dân của 30 năm trước, trên trang nhất số báo ra ngày 15-3-1988 là hình ảnh và bài tường thuật lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (chức vụ như thủ tướng hiện nay) nước CHXHCNVN.

Trang báo chạy tít đậm màu đen: “Hôm qua, 14-3-1988, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, lễ viếng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng cử hành trọng thể”.

Nước mắt trên bờ, máu loang ngoài biển

Nghĩa là buổi sáng hôm đó, 14-3, khi ở đất liền người dân Việt Nam đang cử quốc tang nguyên thủ quốc gia của mình, thì cùng thời điểm đó tại Gạc Ma súng địch đã nổ và những người con đất Việt đã ngã xuống máu nhuộm đỏ một vùng Biển Đông. 

30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma - Ảnh 2.

Trang 1 báo Nhân Dân in ngày 15-3-1988 tường thuật lễ tang của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng diễn ra trước đó một ngày – Ảnh: L.Đ.DỤC chụp lại

Nỗi đau đất liền, nỗi đau ngoài biển cùng chồng chất. 30 năm đã trôi qua nhưng trên trang báo đã ố vàng màu thời gian, tất cả bối cảnh lịch sử vẫn lặng im ngưng đọng ở đó.

Từng trang, từng trang, suốt 90 số báo Nhân Dân của quý 1-1988 không số báo nào không nhắc tới Trường Sa. 

Bởi từ giữa năm 1987 đến đầu năm 1988, Trung Quốc đã có nhiều động thái gây hấn trên vùng biển này, cản trở hoạt động các tàu của hải quân Việt Nam, lần lượt tìm cách chiếm đóng trái phép các bãi đá ngầm thuộc chủ quyền Việt Nam. 

Ngày 31-1, Trung Quốc cho quân đổ bộ chiếm đóng Đá Chữ Thập, ngày 18-2 chúng đổ bộ chiếm bãi Châu Viên và đỉnh điểm là cuộc thảm sát các chiến sĩ công binh hải quân Việt Nam để cướp đảo Gạc Ma vào ngày 14-3-1988.

30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma - Ảnh 3.

Bài tường thuật đầu tiên về sự kiện Gạc Ma của nhà báo Ngọc Đản trên báo Nhân Dân ngày 24-3-1988 – Ảnh: L.Đ.DỤC chụp lại

Tuy nhiên bài báo đầu tiên tường thuật tương đối chi tiết và đầy đủ nhất về sự kiện Gạc Ma lại đăng sau đó chừng mười ngày, ngày 24-3-1988. 

Bài báo có cái tựa khá dài “Cuộc tiến công bằng tàu khu trục mang tên lửa của Trung Quốc vào ba tàu vận tải không có vũ khí tiến công của ta ở vùng đảo Sinh Tồn” của nhà báo Ngọc Đản, bấy giờ là phóng viên mảng an ninh – quốc phòng của báo Nhân Dân.

Bài tường thuật…

Đã xấp xỉ tuổi 70, nghỉ hưu gần mười năm nay nhưng nhắc lại những ngày đưa tin về Trường Sa và Gạc Ma, lửa nghề vẫn hừng hực trong tim của nhà báo Ngọc Đản. 

Hẳn nhiều người đã từng biết đến ông với tấm hình “cô Nhíp” – cô gái biệt động dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng vào Sài Gòn hôm 30-4-1975. 

Đưa tin kịp thời và ra được Trường Sa ngay sau sự kiện Gạc Ma với Ngọc Đản là một cơ hội nghề nghiệp hiếm có. 

30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma - Ảnh 4.
30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma - Ảnh 5.
30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma - Ảnh 6.
30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma - Ảnh 7.

Ông kể: Từ đầu tháng 3, sau khi Trường Sa bắt đầu nóng lên với các hoạt động khiêu khích có hệ thống của hải quân Trung Quốc, ông được cơ quan phân công vào Cam Ranh, tìm cách theo tàu để ra quần đảo Trường Sa.

Vào “nằm vùng” ở khu vực lữ đoàn 146, Ngọc Đản được phân công ở cùng với lữ đoàn phó Trần Đức Thông, khi đó cũng vừa trả phép trước thời hạn nửa tháng từ Hà Nam vì đơn vị triệu tập khẩn cấp. 

Ngọc Đản bảo ông đã được bố trí cho phép đi theo chuyến tàu gần nhất ra Trường Sa. Kế hoạch đã được duyệt thì chuyến tàu đưa anh em công binh ra xây dựng đảo ở lại lâu dài tới vài ba tháng, tình hình như thế thì phóng viên Ngọc Đản không thể đi cùng.

Ông không ngờ chỉ mấy hôm sau, tin về cuộc thảm sát ở Gạc Ma dội về. Tất cả thông tin vẫn chỉ từ những dòng tin điện từ Trường Sa. Anh em ai mất, ai còn… chưa thể biết. 

Cứ ngày ngày Ngọc Đản chạy lên phòng tác chiến để ngóng tin tức và chờ đợi chuyến tàu anh em thương binh và những chiến sĩ còn sống trở về. 

Trên báo Nhân Dân những ngày ấy có thể thấy dồn dập các bài báo ký tên Ngọc Đản viết về Trường Sa. 

Phải sau khi gặp được những nhân chứng trở về từ trận chiến, bài báo tường thuật chi tiết về buổi sáng 14-3 ở Gạc Ma mới được viết ra. 

Hai tuần sau, Ngọc Đản nằm trong danh sách đoàn phóng viên báo chí, phát thanh, truyền hình và điện ảnh do Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức đi ra Trường Sa, tiếp cận với khu vực cụm đảo Sinh Tồn, nơi con tàu HQ505 vẫn còn “ủi bãi” trên Cô Lin, con tàu HQ605 vẫn nằm dưới thềm biển của đảo Len Đao và rìa đảo Gạc Ma, dưới đáy biển là con tàu HQ604 đang còn thi thể của anh em cán bộ chiến sĩ công binh hải quân.

Đặt mình trong bối cảnh chiến sự và Biển Đông luôn sẵn sàng nóng lên, thậm chí địch sẵn sàng nổ súng mới biết để có mặt trong chuyến đi ấy cần có lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc.

LÊ ĐỨC DỤC – ĐỨC BÌNH

Nguyên nhân lệnh cấm chiến sĩ Gạc Ma nổ súng:

BỊ DÍ ĐẾN TÌNH THẾ KHÓ VÀ SỰ ĐỔI CHÁC KHỐN NẠN

Đỗ Ngà

May be an image of outdoors and monument

ĐCS Việt Nam vốn chọn Liên Xô làm chỗ dựa chứ không phải chọn Trung Cộng, điều đó dẫn tới thái độ cứng với Trung Cộng và họ đã có một lần mạnh mẽ đối đầu với Trung Cộng năm 1979. Tuy nhiên chỗ dựa số một ấy đã bị lung lay khi mà Năm 1985 Gorbachev lên làm Tổng Bí Thư. Khi đó Liên Xô lo cải tổ kinh tế và cởi mở chính trị để vực đậy sự kiệt quệ kinh tế do thể chế cũ gây ra và cũng do nhiều năm mải mê chạy đua vũ trang với Mỹ và đến hồi đuối sức. Điều đó kéo theo sự bảo trợ về mặt quân sự của Liên Xô với các nước Đông Âu khác không còn như trước nữa.

Chế độ độc lài toàn trị của CS nó như một gọng cùm kìm chế sự trỗi dậy của người dân, nếu nhả gọng cùm ấy ra thì sức dân bật dậy. Và năm 1988, phong trào biểu tình nổi lên mạnh hơn ở Ba lan rồi lan sang các nước khác. Ở Việt Nam, thì tập đoàn chính trị Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng – Lê Đức Anh ắt nhìn thấy viễn cảnh đó. Liên Xô đã nhả dần gọng kìm bảo trợ ở các nước gần gũi Liên Xô thì không lí gì họ hết mình với Hà Nội. Như vậy là chỗ dựa lớn nhất của Hà Nội có nguy cơ không còn.

Chuyển chỗ dựa là nhu cầu cấp bách mà Nguyễn Văn Linh và 3 người còn lại phải tìm kiếm. Lịch sử ĐCS từ năm 1945 đến thời điểm đó cho thấy, chưa bao giờ ĐCS dám đứng độc lập. Khổ nỗi chỗ dựa thay thế Liên Xô chỉ có thể là ĐCS Tàu, mà Tàu lúc đó đang còn thù địch với với ĐCS Việt Nam nên việc làm hòa giải rất khó. Biết cái mà Tàu tham nhất là chủ quyền nên ĐCS đã chọn món hàng này để nhử Trung Cộng.

Để được thuần phục thì trước tiên phải biết tỏ thái độ thiện chí. Từ năm 1987 thì tình hình cho thấy, nội tình các nước CS Đông Âu đang xảy ra mâu thuẫn khó giải quyết và đến năm 1988 là biểu tình xảy ra rất nghiêm trọng ở Ba Lan. Trong khi đó người đứng đầu ĐCS Liên Xô đang có chiều hướng “tự diễn biến” nên bỏ rơi hàng loạt các chính quyền CS đàn em. Điều đó cũng có nghĩa là thành trì mà ĐCS Việt Nam tựa sắp mất, dù Liên Xô có sụp đổ hay không thì Gorbachev vẫn không muốn làm thế tựa lưng cho ai hết. Đó là tình hình chung.

Trong lúc chỗ dựa vững chắc sắp mất mà tình hình Biển Đông khá căng thẳng, sau khi lấy trọn Hoàng Sa năm 1974 thì bây giờ Trung Cộng đang cho cướp đảo ở Trường Sa. Đây là mối nuy cho đất nước, tuy nhiên nhóm Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng – Lê Đức Anh lại nhìn thấy cơ hội cho đảng. Thay vì dựa vào sức dân thì ĐCS lại không chọn vì sợ mất đảng, vậy nên nhóm này mới đi tới quyết định quy phục kẻ thù để mua lấy sự an toàn cho đảng.

Ai cũng biết cái mà Trung Cộng thèm thuồng nhất là chủ quyền Việt Nam. Ngoài món hàng này thì không có món hàng nào đáng giá để Bắc Kinh chấp nhận đổi lấy “tình hữu nghị” cả. Và kết quả là có một lệnh từ trung ương ban xuống cấm chiến sĩ đang giữ đảo Gạc Ma nổ súng, đó là thái độ chịu nhường để đổi lấy sự chú ý của Bắc Kinh. Và cũng từ thái độ đó, cộng thêm hàng loạt động thái mưa móc của nhóm bộ tứ Linh – Mười – Đồng – Anh thì đến năm 1990, Linh – Mười – Đồng được Bắc Kinh chấp thuận và sắp xếp cuộc gặp cấp cao chính thức tại Thành Đô.

Sau hội nghị Thành Đô thì Việt Nam ngày một lệ thuộc hơn vào Bắc Kinh. Và phía Bắc Kinh cũng hiểu rằng, khi đẩy Hà Nội ở vào thế khó xử thì phía Hà Nội sẵn sàng đổi giang sơn lấy “hòa bình”. Đó là lý do tại sao hiện nay Trung Cộng lại dùng “chiến thuật vùng xám” để ứng xử với Việt Nam. Chiến thuật này là, vùng đất nào của Việt Nam thì Bắc Kinh biến nó thành vùng tranh chấp, vùng đang tranh chấp thì biến nó thành hiển nhiên của Bắc Kinh. Qua thời gian, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau để ép Hà Nội vào thế khó để nhượng bộ thì Bắc Kinh cứ lấn tới. Và cứ như thế Trung Cộng gặm dần chủ quyền Việt Nam nhờ biết khai thác nhược điểm “thà mất chủ quyền chứ không bao giờ để mất đảng” của ĐCS.

Với bản chất như vậy, nếu có hàng ngàn chiến sĩ giữ đảo thì Hà Nội cũng thí mạng luôn chứ đừng nói chi 64 chiến sĩ giữ Gạc Ma?! Tuy ĐCS luôn hô hào những cái chết đó là “anh dũng hy sinh” nhưng thực chất những sinh mạng đó cùng với chủ quyền biển đảo là những món hàng rẻ rúng để đảng đổi lấy “tình hữu nghị” có giá trị to lớn hơn đảng mà thôi. Đó thực sự là nỗi đau quặn thắt mà dân tộc này đã gặp phải.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:https://www.youtube.com/watch?v=gjQ22CbxtHI

Hoàng Sa và Trường Sa 1000% không phải của Tàu

Ngô Thử FB

May be an image of map

Ảnh: Đại Nam nhất thống toàn đồ, thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.(Nguyễn Thai Son )https://www.facebook.com/100027857649279/posts/781341286137786/

Vì ghi chép của giám mục người Pháp tên Joan có đoạn:”Chúng tôi không rõ người Việt có thiết lập một cơ sở nào tại đó không, nhưng có điều chúng tôi biết chắc rằng, vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh đã chủ tâm đính thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa và chính năm 1816, ngài long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong.Tuy rằng quần đảo này không có gì ngoài những tảng đá và những cồn lớn, hứa hẹn nhiều điều bất tiện hơn là lợi ích, nhưng vua Gia Long đã nghĩ đến việc mở rộng lãnh thổ nên rất bằng lòng với mảnh đất buồn tẻ này. Năm 1816, nhà vua đã tới cắm cờ một cách long trọng để giữ chủ quyền các hòn đảo này, nơi hình như không có một ai tranh giành với nhà vua.”—“

Vương quốc Cochinchine mà vị vua hiện nay tuyên xưng hoàng đế gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc Cao Miên, một vài đảo có dân cư ở không xa bờ biển và quần đảo Paracels hợp thành từ những đảo nhỏ, bãi ngầm và mỏm đá hoang vu. Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế mới chiếm hữu hòn đảo này”. – Sĩ quan Chaigneau.

“Năm 1816, vua Cochinchina đã chiếm một phần đảo không có người và hiểm trở bao gồm nhiều đá, đảo nhỏ, bãi cát gọi là Paracels. Theo đó, nhà vua tuyên bố quần đảo thuộc chủ quyền nước này mà hầu như sẽ không bị tranh chấp”. – John Crawfurd.

“Những đảo nhỏ đầy cát và rong này vốn được hoàng đế Cochinchina tuyên bố chủ quyền từ năm 1816 và không gặp bất kỳ sự phản đối nào của các nước lân bang” – Carl Ritter.

—“Việc vua Gia Long thân chinh ra quần đảo Hoàng Sa năm 1816 là một sự kiện lịch sử quý giá về ý thức mở mang bờ cõi và giữ nước, về tầm nhìn chiếc lược vị trí, vai trò của biển đảo thuộc lãnh thổ quốc gia của ông cha ta thuở trước là rất đáng trân trọng và tự hào.

Thử tưởng tượng, một vị hoàng đế đầy quyền quý, cao sang lại rời ngai vàng, đích thân vượt qua phong ba bão tố trùng khơi để thể hiện chủ quyền một cách chính danh và đĩnh đạc như vậy, thật đáng tôn kính lắm thay!”- Nhà báo Tạ Văn Sỹ.

—“Nhắc đến vua Gia Long, người ta nghĩ ngay đến những chiến tích oai hùng của một chiến tướng thân trải trăm trận với tài năng quân sự đã được lịch sử công nhận. Một vị tướng thống lĩnh quân đội năm mới 17 tuổi, có thể điều binh khiển tướng bằng nghệ thuật quân sự dày dặn; có thể thu phục nhân tâm bằng khí độ bao dung, bằng tầm nhìn xa rộng; có thể tổ chức gây dựng một lực lượng hùng hậu quy mô và rất khoa học để mưu cầu khôi phục cơ đồ của tổ tiên.

Vua đã bao lần bị truy đuổi phải chạy đến những hoang đảo xa, hay lưu vong nước ngoài, cạn kiệt lương thảo, quân không một người. Tính mạng bao lần như bị lâm nguy nhưng vua đã vượt qua tất cả. Sau khi thiết đặt triều đại, vua Gia Long đã áp dụng chính sách khoan hòa, cởi mở trong trị vì, khiến cho một đất nước vừa kinh qua chiến tranh nồi da xáo thịt gần 200 năm, đã nhanh chóng trở nên trù phú thịnh vượng, thành một quốc gia hùng cường ở khu vực Đông Nam Á.

Dưới thời vua Gia Long, lãnh thổ nước Việt Nam rộng lớn hơn bao giờ hết, trải dài từ biên giới Trung Quốc đến vịnh Thái Lan, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng dưới thời vua Gia Long, quốc hiệu Việt Nam lần đầu tiên chính thức được sử dụng vào năm 1804.”- Thạc sĩ Phan Thanh Hải.

—Tròn 200 năm rồi đấy các bạn. Dưới đây là link của các báo.

Dưới thời vua Gia Long, Hoàng Sa – Trường Sa đã thuộc Việt Nam:

http://dantri.com.vn/…/duoi-thoi-vua-gia-long-hoang-sa…

Vua Gia Long xác lập chủ quyền Hoàng Sa qua tài liệu phương Tây:

http://thanhnien.vn/…/vua-gia-long-xac-lap-chu-quyen…

Vua Gia Long nhiều lần phái quân ra Hoàng Sa để khảo sát thủy trình:

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26…

200 năm trước vua Gia Long thân chinh đến Hoàng Sa:

http://www.bienphong.com.vn/200-nam-truoc-vua-gia-long…/

Hoàng Sa dưới thời cai quản của vua Gia Long:

http://vov.vn/…/hoang-sa-duoi-thoi-cai-quan-cua-vua-gia…

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.