ký ức của ông “rách việc,nghĩ gì viết nấy “:Thái Bá Tân

May be an image of 1 person

Thái Bá Tân

NGHĨ GÌ VIẾT (N)ẤY,

2004

17

Năm 1982 tôi ra Cô Tô, một hòn đảo lớn ở Quảng Ninh và khá xa bờ. Trước đó chủ yếu người Hoa sinh sống ở đảo này, làm nghề chài lưới, và nó từng nổi tiếng là trù phú. Ấy là nghe người ta nói vậy, chứ khi tôi đến thì đó là một đảo hoang, vì người Hoa ở đây đã bị cưỡng bức về nước hay đi nước khác. Thời ấy có chủ trương như thế, không riêng nơi này, mà khắp cả nước, đặc biệt khu Chợ Lớn Sài Gòn. Khoan nói đến việc chủ trương này đúng hay sai, ai cũng biết đối với người Hoa bình thường, đó là một thảm họa lớn.

Tại hòn đảo Cô Tô hoang vắng lúc ấy chỉ lèo tèo dăm ngôi nhà của những gia đình từ Thủy Nguyên Hải Phòng được đưa ra lấp chỗ trống. Những người này ra đây không có ý định định cư hẳn, mà chỉ nhăm nhe tháo dỡ nhà cửa người Hoa bỏ lại để mang về quê. Một người trong họ kể tôi nghe câu chuyện đến giờ nhớ lại vẫn thấy chua xót. Có nhà nọ chồng gốc Hoa, vợ người Việt, cả hai còn trẻ và đã có một đứa con nhỏ. Tuy bị thúc bách nhưng anh chồng không muốn về Trung Quốc, bèn bàn với vợ để anh bỏ lên trốn trên núi, vợ lén lút đưa cơm hàng ngày. Khi tôi nghe câu chuyện này thì tình trạng ấy kéo dài đã hơn một năm, và mặc dù mọi việc có vẻ đỡ căng thẳng, anh kia vẫn chưa dám xuống núi.

Người cộng sản Việt Nam và Trung Quốc vốn luôn khoe hữu nghị răng môi mà đối xử với nhau chẳng tử tế chút nào. Nghiêm trọng hơn, điều này gây bao đau đớn, khổ sở cho người dân hai nước. Cả cái chết nữa. Vì chính sách này của cộng sản Việt Nam cũng góp phần dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Tôi không có ý bênh vực Trung Quốc, chỉ tiếc cho những cái chết oan uổng.

Trở vào đất liền, tôi đi ô tô ngược lên phía Móng Cái, là nơi người gốc Hoa đang tập trung để sang bên kia biên giới. Một số tự nguyện, số khác bị bắt đưa tới đấy. Họ bị đùn đẩy giữa hai nước.

Cách Móng Cái khoảng ba mươi ki-lô-met, tôi thấy một người đàn bà cùng hai đứa trẻ đang nhếch nhác đi giữa đường với đủ các thứ lỉnh kỉnh, nhìn qua đủ biết là người Hoa. Họ có vẻ mệt mỏi và tuyệt vọng, nhất là hai đứa trẻ. Trên xe còn chỗ trống. Đó là chiếc xe của công đoàn Quảng Ninh mà tôi, với tư cách cán bộ Tổng công đoàn ở Hà Nội (lúc ấy tôi làm cho Nhà xuất bản Lao Động) được ghép đi cùng. Tôi yêu cầu anh lái xe cho họ đi nhờ. Xe dừng lại nhưng người đàn bà kia chỉ liếc nhìn chúng tôi một cái rồi thản nhiên đi tiếp. Tôi đọc thấy sự khinh bỉ và căm thù trong đôi mắt chị ta. Anh lái nhảy xuống bảo họ lên xe. Chị kia tuôn ra một câu dài bằng tiếng Trung tôi không hiểu. Một chốc sau, khi xe phóng nhanh đi tiếp, anh lái xe nói chị ta chửi Việt Nam, và rằng thà đi bộ, thà chết chứ không thèm nhờ xe bọn dã man, tráo trở.

Câu chuyện này ám ảnh tôi mãi. Tôi cảm thấy như chính mình có lỗi với chị. Cả xấu hổ và tức giận.

18

Một sự thật hiển nhiên ai cũng biết, và bản thân nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên cho thấy ai đúng, ai sai, ai ưu việt và ngược lại. Đó là, cho dù ở đâu trên thế giới, bất kỳ một nước nào bị chia thành hai, cộng sản và không cộng sản, thì người của nửa cộng sản sẽ tìm mọi cách chạy sang nửa kia, cả vì lý do chính trị và kinh tế, vì nửa cộng sản bao giờ cũng đói hơn. Hoà bình lập lại, 1954, hàng triệu người miền Bắc di cư vào Nam, trong khi người từ Nam ra Bắc chỉ là những đơn vị bộ đội cộng sản.

Thảm kịch Thuyền nhân Việt Nam những năm tám mươi từng làm đau đầu thế giới và hàng chục vạn người Việt phải bỏ mạng trên biển. Vì sao người ta phải bỏ đất nước cộng sản tốt đẹp đến thế để đi đâu đó, bất chấp mọi hiểm nguy?

Các nhà văn Việt Nam khi sang Mỹ, trong đó có tôi, đều được nhắc phải cẩn thận với Việt Kiều. Các đồng nghiệp đi trước, nghe nói được cộng đồng người Việt ở đây đón tiếp chẳng ra gì, có người bị đánh, ném đá, la ó. Tôi không sợ bị đánh, chỉ buồn và phần nào xấu hổ. Họ và tôi là những người không quen biết, sao họ phải ghét tôi? Vậy cái gì khiến họ căm thù đất nước (nói đúng hơn là chính quyền) mà trong mắt họ tôi là một đại diện? Với tôi, không có khái niệm người Việt phản động hay người Việt yêu nước, một khái niệm rất mông lung và dễ thay đổi theo thời tiết chính trị. Tất cả những ai có dòng máu Lạc Hồng trong người đều là đồng bào.

Một lần, ở Chicago, chúng tôi vào một quán phở Việt. Lúc đầu được niềm nở đón tiếp, sau nghe giọng, biết từ Hà Nội đến, chủ quán trở nên khó chịu, thậm chí lờ đi, không chịu mang tới chai nước mắm khách, thượng đế của ông ta, yêu cầu. Bốn năm sau, trong một cửa hàng rau quả ở Florida, bà chủ cửa hàng người gốc Sài Gòn thật thà hỏi vợ chồng tôi có muốn ở lại Mỹ không, để cộng đồng người Việt ở đây giúp (tôi nghĩ chắc đây là một loại dịch vụ nhằm kiếm tiền). Chúng tôi cũng thật thà từ chối, nói cuộc sống ở Việt Nam bây giờ khá rồi, đến mức chúng tôi có đủ tiền sang Mỹ du lịch. Nghe thế bà kia tỏ ý mừng cho chúng tôi và cả đất nước.

Rồi bà thú thật “bên này kiếm sống cũng vất vả lắm chứ không sướng như người ta tưởng”. Tôi nghĩ vợ chồng tôi đã có một hoạt động ngoại giao không tồi, quảng bá tốt cho đất nước.Một lần do trục trặc máy bay ở Copenhagen, tôi phải vào thành phố ngủ qua đêm. Trong khách sạn tôi ngạc nhiên thấy lúc ấy đã khuya mà vẫn có một tốp lớn khoảng chục thanh niên nam nữ người Việt đang ăn uống vui vẻ. Hỏi thì biết họ tổ chức sinh nhật một người bạn, và rằng họ là học sinh một lớp học tiểu học ở Sài Gòn, khoảng dăm chục người, được một tổ chức từ thiện Đan Mạch đưa cả lớp sang đây vào đúng ngày 29 tháng Tư năm 1975. Nhiều em còn không kịp về nhà từ biệt bố mẹ. Nay họ đã là những người trưởng thành, những công dân Đan Mạch, nói tiếng Đan Mạch (chỉ thỉnh thoảng mới chêm đôi câu tiếng Việt), và có vẻ như giàu có. Nhưng họ có thực sự hạnh phúc không, những con người bị bật gốc rễ ngay từ khi còn bé ấy? Ít ra, họ cũng may mắn hơn nhiều, rất nhiều người khác mà nếu không chết chìm ngoài biển thì cũng bị đày đọa nhiều năm trong các trại tị nạn.Không hiểu chính quyền Việt Nam có bao giờ tự hỏi vì sao đồng bào mình, tuyệt đại bộ phận là dân lành, lại bỏ nước ra đi cả triệu người như vậy? Không lẽ dưới mắt họ, cả triệu con người ấy đều là Việt gian, phản động?

19

Không hiểu sao tôi chẳng mấy cảm tình với ông Phạm Văn Đồng. Có lẽ một phần do người ta tâng ông lên cao quá. Những ngày ông mới mất, đọc các bài báo khen ông, tôi thầy vừa buồn cười vừa chua xót. Nước ta xưa nay vẫn có cái lối khen lấy được như vậy. Như một thời người ta nâng ông Đặng Thái Mai lên tầm một “nhà tư tưởng của thế kỷ”, mặc dù ông này không viết bất kỳ tác phẩm triết lý nào, mà tác phẩm văn hóa, văn học nói chung cũng vừa ít vừa thấp tầm. Ông là nhà cách mạng, có thể; là bố vợ một vị tướng cách mạng. Thì cứ khen ông ở chỗ ấy, sao lại dính vào tư tưởng, triết học? Tôi căn vặn ông Ngô Thảo, một trong những người khen lấy được ấy, thì ông cười, nói trên bảo khen thì cứ khen, mất gì.Phạm Văn Đồng là vị thủ tướng tại chức lâu nhất thế giới, và mấy chục năm dài ấy cũng là thời kỳ đất nước đói kém, trì trệ nhất. Chính ông tự thừa nhận ông là vị thủ tướng ít quyền hành nhất thế giới. Điều này khiến người ta không thể không đặt câu hỏi về nội bộ lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Ông thuộc loại khai quốc công thần, luôn là ủy viên bộ chính trị, một đồng chí thân cận của Hồ Chí Minh, vây sao ông ít quyền hành, lại nhất thế giới? Ai ngăn cản ông? Ông đã thế thì những người cấp thấp hơn thì sao?Người ta bảo ông là bạn của văn nghệ sĩ và luôn thương yêu, giúp đỡ họ. Vậy sao không làm gì để minh oan cho những nạn nhân vụ Nhân văn Giai phẩm, vốn là tác phẩm của Trường Chinh?

Người ta cũng bảo ông là trí thức lớn, thậm chí là nhà tư tưởng. Chung qui đó cũng là kiểu khen lấy được theo chỉ thị, hoặc là sự bốc đồng của những kẻ cơ hội, những tên bồi bút trơ trẽn.Tuy nhiên, điều ấy không quan trọng lắm, vì suy cho cùng có khen quá cho một người, nhất là khi người ấy đã chết thì cũng chẳng sao. Điều đáng nói về ông Phạm Văn Đồng lại ở chỗ khác.Hẳn nhiều người còn nhớ, vào những năm 70 và 80, ở ta rộ lên cái gọi là “Bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt” do ông Đồng chủ xướng. Ai có dẫu chỉ chút ít kiến thức về ngôn ngữ học cũng nhận ra ngay đó là trò nhảm và phản khoa học. Người ta hô hào bỏ các từ gốc Hán, tức là tự làm nghèo ngôn ngũ của nước nhà, đại khái như sinh viên thành học sinh đại học (cả bốn từ này hóa ra cũng gốc Hán nốt), nữ dân quân thành dân quân gái, vân vân. Trong cơn bốc đồng tập thể ấy, lão nhà thơ Khương Hữu Dụng đã gọi một nữ thi sĩ Mỹ thế kỷ mười chín là nhà thơ gái!May cái trò này của ông cuối cùng cũng bị dẹp bỏ, và ngôn ngữ dân tộc, với những qui luật phát triển riêng và khách quan của mình, đã không chấp nhận những cái khiên cưỡng, lố bịch người ta áp đặt bằng các biện pháp hành chính.

Trước ông Đồng từng có một lãnh tụ cộng sản khác còn to và lố bịch hơn, là Stalin, thử tài mình trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Và tất nhiên đã thất bại. Điều này càng chứng tỏ ông Đồng không phải là trí thức, mà ngược lại.Nhiều nhà chính trị còn muốn lưu danh tên tuổi cho đời sau bằng một công trình “khoa học” nào đó, mặc dù họ rất xa với khoa học. Lê Duẩn là một thí dụ. Để tạo nên “chủ nghĩa” riêng của mình, như chủ nghĩa Mac, Lênin, ông sáng tác ra “Chủ nghĩa làm chủ tập thể”. Sự ngớ ngẩn của nó thì khỏi phải bàn.

Thái Bá Tân

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.