ông “rách việc Thái Bá Tân”tâm sự :Nghĩ gì viết nấy “”Làm người tử tế khó lắm “!!

Thái Bá Tân

NGHĨ GÌ VIẾT ẤY, TẢN VĂN 2004

8

Tôi nhớ chính xác ngày rời làng quê lên đường sang Liên Xô học đại học – mồng 10 tháng 8 năm1967. Lúc đó tôi 17 tuổi theo khai sinh, thực ra là18, vì tôi sinh năm 1949 chứ không phải 1950. Phải đến giữa tháng Chín mới tới được Ucrain, nơi tôi học tiếng Nga một năm ở khoa dự bị trường Đại học Tổng hợp Kharcôp, rồi được chuyển lên trường Đại học sư phạm ngoại ngữ Matxcơva, học tiếng Anh khoa phiên dịch.

Sở dĩ phải lâu như vậy vì còn phải chờ làm thủ tục, học chính trị ở Hà Bắc, rồi đi bộ, có quãng được đi xe tải, lên Lạng Sơn rồi sang Liên Xô bằng chuyên xa qua Trung Quốc. Tàu qua Bắc Kinh không dừng lại, chỉ đi ngang, thậm chí không vào thành phố, đúng ngày kỷ niệm quốc khánh mồng Một tháng Mười. Lúc ấy Cách mạng Văn hóa đang ở cao trào, nhưng tôi thấy bắn pháo hoa nhiều lắm. Trước đấy được học tập chính trị nhiều nên chúng tôi ai cũng yêu quí và coi Trung Quốc là cách mạng, là xã hội chủ nghĩa thực sự, còn Liên Xô là xét lại. Nhiều người trong thâm tâm còn thích được học ở Trung Quốc hơn, nhưng năm ấy Trung Quốc bận làm cách mạng không nhận lưu học sinh nước ngoài. Dọc đường, ở các thành phố lớn nơi tàu đi qua có các tốp văn công Trung Quốc đến chào đón, múa hát, tặng hoa, và nhất là tặng những cuốn sổ nhỏ bìa đỏ Mao Tuyển cùng rất nhiều huy hiệu của “Người cầm lái vĩ đại”. Nhiều lắm, muốn bao nhiêu cũng được, và chúng tôi nhét đầy túi, đầy va li, nhưng khi qua biên giới thì phải vứt hết vì nghe nói Liên Xô sẽ đuổi về nước những ai có các thứ này. Nhiều người Trung Quốc nói được tiếng Việt. Họ nói về tình hữu nghị răng môi giữa hai nước, và tỏ ý buồn thay cho chúng tôi phải sang sống với bọn xét lại hiện đại. Chúng tôi cũng buồn, coi việc sang Liên Xô học là công việc cách mạng chứ không do sở thích.

Từ tàu nhìn ra, chúng tôi thấy có nhiều tốp thanh niên rất trẻ, mặc quần áo ka-ki màu xanh lá cây, đầu đội mũ lưỡi trai cùng màu có ngôi sao đỏ rất to, tay đeo băng đỏ to không kém. Tất cả đều mới tinh. Họ là Hồng vệ binh, các tiểu tướng cách mạng. Không thấy họ đập phá, hò hét, phần lớn chỉ đứng im nhìn đoàn tàu chuyên xa của chúng tôi đi ngang. Đâu cũng thấy ảnh Mao rất to và những câu khẩu hiểu siêu lớn mà tôi không hiểu do không biết tiếng Tàu. Tuy nhiên, đôi khi tàu phải dừng lại khá lâu. Mãi mới biết Trung Quốc thời ấy có hai loại Hồng vệ binh. Họ thường đánh nhau, tháo dỡ đường tàu để chặn nhau nên chúng tôi bị vạ lây, phải chờ hai phe đánh nhau xong, nối lại đường ray mới qua được. Lâu nhất là ở thành phố Vũ Hán. Công bằng mà nói, nếu lúc ấy ông Mao có vì gì đó mà chết thì chắc chắn chúng tôi sẽ rất đau buồn, sẽ gào khóc đến khản họng, chẳng kém các chiến sĩ của ta miệng hô to “Vì Stalin, xung xong!” vào năm 1953, vì thực sự chúng tôi rất tôn sùng ông ta. Đó là hậu quả tất yếu của đầu óc non nớt và sự tuyên truyền nhồi sọ suốt nhiều năm trước. Sau này khi đọc cuốn “Sống và chết ở Thượng Hải” cùng nhiều cuốn khác về cách mạng văn hóa, tôi mới biết rằng chính lúc chúng tôi đang ngất ngây với Trung Quốc và Mao Chủ tịch ấy thì hàng chục vạn, hàng triệu người Trung Quốc đang bị đấu tố, tra tấn và chết đau đớn đâu đó rất gần nơi chúng tôi đi qua. Mao và Stalin là hai tên đồ tể kinh khủng nhất xưa nay của nhân loại, hai người đứng đầu hai nước cộng sản lớn nhất mà Việt Nam chỉ là bậc học trò bé chỉ có nhiệm vụ học tập. Ta đã học tập, du nhập nhiều cái của họ, và đã lãnh đủ.

Năm 1985, trở lại Liên Xô sau nhiều năm, tôi tự tìm đến quê hương Stalin ở Gruzia, nơi duy nhất lúc ấy còn tượng của ông ta, thăm viện bảo tàng Stalin, nơi đến nay vẫn còn lưu giữ những lời ca ngợi tột đỉnh tên đao phủ này từ phía lãnh tụ các nước “cộng sản anh em”, tất nhiên không thể không có Việt Nam. Tôi đọc mà đứng lặng người, đỏ mặt vì xấu hổ, nhưng cũng thầm yên tâm rằng lịch sử luôn công bằng. Cuối cùng, điều tưởng như không thể xẩy ra đã xẩy ra – Stalin bị hạ bệ, tượng bị đập phá. Rồi đến lượt Lênin. Vậy thì còn nói gì đến các học trò bé nhỏ của họ ở các nước cộng sản nhược tiểu?

Lần gần đây nhất tới Bắc Kinh, tôi đứng giữa Quảng trường Thiên An Môn mà thấy thật chua xót. Bức chân dung Mao khổng lồ treo cao, ngay ở lối ra vào Hoàng Thành. Bên cạnh là lăng ướp xác ông ta. Ai cũng biết, mà chính đảng cộng sản Trung Quốc cũng thừa nhận, rằng Mao chịu trách nhiệm về cái chết, chết đói, của khoảng 40 triệu (Đảng nói 16 triệu) nông dân nước này những năm 1959 – 1961 vì các chính sách nông nghiệp ngớ ngẩn và đồng bóng của ông ta. Trước đó, vào đầu những năm 50, hàng chục vạn địa chủ, phú nông đã bị giết trong cải cách ruộng đất mà những người cộng sản Việt Nam anh em bắt chước nguyên xi dẫn tới một thảm kịch dân tộc ta đã biết. Ông ta cũng là tác giả và người chỉ đạo cách mạng văn hóa làm đảo lộn toàn bộ xã hội, nhiều chục triệu người thiệt mạng, kinh tế trì trệ. Tóm lại, ông ta là tên đồ tể của chính nhân dân mình. Vậy sao đến nay còn được treo chân dung trên quảng trường thành phố, được ướp xác lưu danh muôn thuở? Quan điểm chính thức của đảng là Mao là một nhà cách mạng vĩ đại. Ông ta có phạm sai lầm, nhưng so với công lao thì sai lầm đó chẳng thấm vào đâu! Tức là một kiểu ngụy biên nhằm bênh vực lãnh tụ và chế độ của mình. Điều đáng nói là hiện vẫn có nhiều người Trung Quốc tôn thờ, ngưỡng mộ Mao. Theo một học giả người Mỹ, ông Jonathan Mirsky trong bài báo gần đây ở tờ International Herald Tribune, đó chính là thêm một bi kịch nữa của nhân dân Trung Quốc. Mao không chỉ giết hàng chục triệu người mà còn kịp vô hiệu hóa khả năng suy nghĩ độc lập của nhiều trăm triệu người khác, hậu quả còn mãi tới ngày nay. Lúc ấy tôi cũng tò mò muốn nhìn một tí bộ mặt thật của tên đồ tể cộng sản ấy, nhưng lòng tự trọng đã ngăn không cho đặt chân vào lăng hắn.

Năm 1989, tôi ở một tháng trời tại Bắc Triều Tiên. Thậm chí còn tới cả Khu phi quân sự Bàn Môn Điếm. Có lẽ sau Cămpuchia thời Pônpôt thì mô hình chủ nghĩa cộng sản (tạm thời là chủ nghĩa xã hội) ở đây là điển hình nhất. Một nhà nước cảnh sát, trại lính, nơi người dân không có bất kỳ thứ quyền gì, không được phép có thông tin nào ngoài những gì bộ máy tuyên truyền cung cấp, và tất nhiên không được sở hữu bất kỳ tài sản nào. Tất cả các kênh nước ngoài của đài và truyền hình đều bị cắt. Khỏi phải nói đời sống người dân khốn khổ ra sao ở nơi tự xưng là “thiên đường cộng sản” ấy! Lúc đó đã rất khổ nhưng còn đỡ vì vẫn được nhận viện trợ của Liên Xô, nay thì nạn đói là chuyện thường xuyên. Riêng những năm 1996 – 1997 đã có hai triệu người chết, có nguồn tin nói hơn. Tôi nhớ đọc trên mạng thấy nói mỗi năm Bắc Triều Tiên xuất khẩu được khoảng dăm chục triệu đô-la, thế mà riêng tiền nhập rượu cô-nhắc tư bản cho lãnh tụ kính yêu đã ngốn gần một triệu!

Với tư cách là nhà văn, tôi tới nơi cần tới, yêu cầu được giới thiệu một số tác phẩm văn học Bắc Triều Tiên để dịch sang tiếng Việt. Người ta đưa ra một chồng sách, nhưng đó chỉ là những cuốn, có cả tiểu thuyết, ca ngợi hai cha con ông Kim Nhật Thành, và ca ngợi Đảng do ông bố lập ra. Và không cuốn nào có tên tác giả. Thì ra ở nước này, không ai được phép có cá tính. Các nhà văn, nhà thơ và các nhà hoạt động văn hóa khác sáng tác tác phẩm của mình, nhưng lại phải ghi là công trình tập thể! Buổi tối tôi vào nhà hát xem kinh kịch, trong tờ giới thiệu cũng không hề thấy tên tác giả, đạo diễn và diễn viên.

Mọi người, theo địa vị xã hội, đều làm việc, ăn ở, suy nghĩ và nói năng giống nhau. Thậm chí cả trong việc đeo huy hiệu lãnh tụ (là điều bắt buộc) – chức to được đeo huy hiệu nhỏ và ngược lại. Một phóng viên người Pháp làm cho tờ Le Figaro cùng đi với tôi cho biết ông đã tới đây nhiều lần, và rằng cả Bắc Triều Tiên là một sân khấu khổng lồ dành cho khách nước ngoài. Hôm sau tôi nghiệm thấy ông nói đúng: khi đi vào một cửa hàng bách hóa, tôi thấy rất nhiều phụ nữ Triều Tiên ùa vào mua đủ thứ. Quay ra tới đường phố, ngoái lại nhìn thì thấy chính những người ấy đang trả lại hàng cho người bán.

Tệ sùng bái cá nhân ở đây được nâng tới mức kỷ lục, nhiều khi thành khôi hài, lố bịch. Hai bố con ông Kim được tôn vinh như thánh thần. Đọc báo thấy nói mấy chuyên gia Hàn Quốc của một dự án liên doanh tại khu nghỉ mát núi Kim Cương gần biên giới phía nam bị đuổi về nườc vì vô tình dẫm lên một tờ báo cũ có in hình ông Kim bố. Lần ấy tôi cũng tới khu nghỉ mát này, và suốt cả buổi leo núi cùng nhiều du khách khác, chốc chốc lại thấy một phiến đá đẽo gọt công phu, xung quanh có dây xích mạ vàng, khắc những lời huấn thị nào đó, cũng bằng chữ vàng, của Kim Nhật Thành, chắc nhân một chuyến tới đây của ông. Vì nguyên tắc ở đây là lãnh tụ đi đâu, nói gì, đều phải dựng bia ghi lại. Ở nhà bảo tàng tại vùng núi được coi là nơi sinh ra ông Kim con (mặc dù chính xác ông sinh tại Xibêri, Liên Xô, khi bố ông lánh nạn ở đó), có bức ảnh vẽ ông ta cưỡi ngựa lúc ba tuổi, một tay chỉ về phía trước và nói những lời hùng hồn, triết lý về con đường đi lên của cách mạng Triều Tiên cũng như tương lai cộng sản tươi sáng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tức là của bố con ông ta.

Còn tượng của hai nhân vật này thì khắp đất nước đâu cũng có với số lượng và kích cỡ đáng kinh ngạc, hầu hết toàn bằng đồng. Trước cổng một khu nghỉ mát tôi quên mất tên có bức tượng Kim Nhật Thành lớn đến mức tôi hình dung có thể chui lọt vào ngón chân cái của ông ta, mặc dù người tôi chẳng nhỏ nhắn gì. Tôi nghĩ đến viễn cảnh chẳng bao lâu nữa chế độ kỳ cục này sẽ sụp đổ, và người ta sẽ phải mất không ít công sức, tiền bạc để phá bỏ những bức tượng khổng lồ ấy. Còn bên kia đường giới tuyến là một nửa khác của đất nước Triều Tiên vốn trước kia như nhau, vậy mà bây giờ là một thế giới khác hẳn, thịnh vượng và tự do. Tại sao nhỉ? Câu hỏi này cũng có thể đặt ra với hai nửa của nước Đức.

Khi học ở Matxcơva, tôi sống trong ký túc xá ngay sát Quảng trường Đỏ, đêm đêm nghe rõ chuông đồng hồ điện Cremlanh đổ. Tôi từng nhiều lần viếng thăm lăng Lênin, từng ngưỡng mộ ông cũng như đất nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa, và trong thâm tâm từng thầm mong nước mình một ngày nào đó được như Liên Xô. Chỉ sau này, khi đã về nước, tôi mới bắt đầu có những hoài nghi.

Mùa hè năm 1996, trong một hội nghị nhà văn quốc tế ở Hy Lạp, tôi gặp và nói chuyện khá lâu với ông Boris Pankin, bộ trưởng ngoại giao cuối cùng của nhà nước xô-viết thời Goocbachôp. Lúc này ông đã là công dân Thụy Điển, là nơi một thời ông từng làm đại sứ. Ông kể một lần thăm Thụy Điển, Goocbachôp và bộ trưởng ngoại giao thời ấy là Shevacnatze gọi ông đến rồi hỏi: “Này Boris, cậu hãy nói thật lòng, nghĩ gì nói ấy. Vì sao chúng (các nước tư bản) cái gì cũng tốt mà ta thì cái gì cũng dở?” “Thưa tổng bí thư, vì chúng đi đúng đường, còn ta thì sai”. “Vậy theo cậu phải làm gì?” “Đây là cái sai vĩ mô, chỉ tổng bí thư và bộ chính trị mới có khả năng quyết định phải làm gì”. Sau đó Goocbachốp quay sang Sevacnatze: “Đúng là phải làm cái gì đó. Không thể kéo dài mãi thế này được!” Sevacnatze trầm ngâm gật đầu.

Boris Pankin nói ông không mong muốn Liên Xô sụp đổ, càng không thích tổng thống Boris Elsin. Ông ví ông ta với Sa hoàng Boris trước đây. Được hỏi về Việt Nam, ông đáp có thể đấy là mô hình tạm thời, chấp nhận được vì nó mang lại ổn định chính trị và phát triển kinh tế. Việt Nam tránh được cái tội vứt bùn lên bàn thờ dân tộc như nước Nga thời glasnost. Nhưng vì là tạm thời, mô hình này sớm muộn cũng phải được thay thế. Chờ thêm một thời gian nữa cũng chẳng sao. Tự nó sẽ sụp đổ.

9

Bảy năm ở Liên Xô, đặc biệt những năm cuối, tôi là một “nhân vật có vấn đề trong con mắt của Đại sứ quán Việt Nam tại Matxcơva. Tôi được phân công học ngoại ngữ, lại tiếng Anh, thứ tiếng chẳng ai cần lúc đó, trong khi mơ ước của tôi là trở thành nhạc sĩ nhạc và chỉ huy dàn nhạc giao hưởng. Cả bây giờ cũng vậy, nhưng vì không thể nên đành chuyển sang văn chương, lúc đầu chỉ dịch, sau viết truyện. Thành ra suốt nhiều năm liền tôi học cả hai trường, ngoại ngữ và nhạc, bộ môn viôlông và pianô. Thậm chí còn học khoảng sáu tháng môn sáng tác với nhạc sĩ Liên Xô nổi tiếng Ađam Khashaturian, nhưng sau không theo được đành bỏ. Không hiểu sao sứ quán không thích điều này, bắt thôi nhạc nhưng tôi không chịu. Cuối cùng tôi phải viết cam đoan sẽ học tốt ngoại ngữ, cụ thể sẽ tốt nghiệp bằng đỏ, họ mới để tôi yên. Trong trường có một cậu, học sau tôi một lớp, chuyên làm chỉ điểm và thường xuyên báo với bộ phận công an của sứ quán về tôi. Tôi biết nhưng kệ. Cậu này hiện đang làm to ở Hà Nội, khỏi phải nói tên làm gì. Chúng tôi thỉnh thoảng có gặp nhau, và cả hai lờ như không có chuyện cũ.

Tôi suýt bị đuổi về nước vì tội in một số bài trên các báo Liên Xô, (tất nhiên nội dung không có gì đáng trách nếu không muốn nói ngược lại), vì cả tội có ý định ra một tờ báo bằng tiếng Nga, dạng báo tường cho trường nơi mình học để quảng bá về đất nước và con người Việt Nam. Một số sinh viên Việt Nam trong trường cũng ủng hộ. Một thơi gian sau, ông đại sứ Võ Thúc Đồng nhờ tôi dạy tiếng Nga cho ông, nhưng bộ phận công an không cho, coi tôi là phần tử không đáng tin cậy. Họ cũng can thiệp khi tôi làm phiên dịch cho đại sứ quán Mặt trận giải phóng Miền Nam ở Matxcơva.

Chẳng biết trong lý lịch của tôi được ghi những gì, nhưng khi về nước tôi xin vào làm một số nơi như bộ ngoại giao và Trung ương Đảng đều bị từ chối, dù có bằng đỏ và nổi tiếng học giỏi. Tôi thuộc diện được phía Liên Xô cho chuyển tiếp ngay thành nghiên cứu sinh, và người ta bảo tôi cứ về nước vài tháng rồi quay lại, thế mà mãi không thấy giấy gọi. Ông Võ Thúc Đồng can thiệp thì được bạn ông, ông Tạ Quang Bửu, bộ trưởng giáo dục thời đó nói là bên công an không cho. Cuối cùng tôi được phân về làm phiên dịch ở Tổng cục thủy sản. Nửa năm sau tôi xin sang dạy ở trường Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, từ cuối năm 1975 đến năm 1978. Khoa Anh văn, bộ môn Văn học Anh.

Có thể nói đây cũng là thời kỳ khó khăn nhất đối với đất nước và cả với tôi. Tôi thật sự rơi vào khủng hoảng tinh thần. Nếu trước đó còn có phần nghi ngờ thì bây giờ tôi mất hẳn niềm tin vào những gì Đảng và chính quyền nói. Tôi thấy tất cả đều mang tính mị dân, giả dối và đạo đức giả.

Bắt đầu từ việc do hăm hở muốn phục vụ, tôi xin được lên lớp ngay chứ không cần sáu tháng chuẩn bị như qui định cho sinh viên mới ra trường lúc bấy giờ. Hơn thế, tôi còn xin dạy thêm tiếng Anh cho khoa Trung văn đang thiếu giáo viên, nơi có anh bạn cùng làng đang học sau khi từ chiến trường về. Tôi nghĩ mình may mắn được đi học nước ngoài, nay làm thêm giờ giúp khoa Trung, giúp bạn là tốt, thế mà không hiểu sao người ta không cho, trong khi vẫn lớn tiếng hô hào mọi người cống hiến hơn nữa. Cũng theo qui định, các giảng viên mới được những người đi trước giúp đỡ về chuyên môn và phương pháp giảng dạy. Thế mà tịnh không một ai làm gì để giúp tôi, hơn thế, tôi có cảm giác, cảm giác này có thật và chắc là đúng, rằng tổ Đảng và ban lãnh đạo khoa đang háo hức tìm những khuyết điểm của anh lính mới hung hăng có vấn đề, tìm thật nhiều, thật cụ thể để khi cần thì đánh một đòn thật đau, ra một bản án thật nặng. Thực ra tôi chẳng sợ gì, chỉ buồn vì mọi việc không như mình tưởng.

Tiếp đến là vụ tổng tuyển cử toàn quốc năm 1976 khi đất nước đã thống nhất. Đêm trước ngày bầu cử, công đoàn khoa Anh họp. Chị tổ trưởng công đoàn, tên Phi, nói là cả khoa phải thống nhất trước nên bầu người nào và không bầu người náo, rồi mai cứ thế mà bầu “cho tập trung phiếu”. Tôi ngạc nhiên, giơ tay xin phát biểu, nói rằng làm vậy là trái với nguyên tắc bầu cử mà đài báo ngày nào cũng nói. Tôi nói thêm là với tư cách cử tri, tức là đến tuổi trưởng thành, không bị tước quyền công dân, tôi có quyền bầu ai và không bầu ai trong danh sách đã được các cơ quan liên quan hiệp thương chọn ra mà tôi tin là rất xác đáng. Thậm chí tôi có thể, cứ nói làm thí dụ, tôi có thể không bầu cả đồng chí tổng bí thư Lê Duẩn. Thế là cả khoa nhốn nháo hẳn lên, rồi mọi người nhao nhao lên án tôi, to tiếng nhất là ông già trưởng khoa Nguyễn Cửu Cúc. Theo lời ông thì tôi gần như là tên phản động, không yêu nước, yêu dân vân vân. Chờ mọi người lắng xuống, tôi điềm tĩnh yêu cầu lập biên bản, ghi lại chính xác những lời chị Phi, ông Cúc và tôi đã nói. Tôi sẽ ký, tù đâu tôi chịu, nhưng tôi sẽ đem biên bản ấy lên hội đồng bầu cử trung ương nhờ phán xét ai đúng ai sai. Bây giờ thì mọi người im lặng, nhìn nhau im lặng. Tôi nói, đại khái thế này: “Các anh là giáo viên đại học, tức thuộc loại người có học vấn cao nhất trong xã hội, thế mà suy nghĩ không bằng anh nông dân. Lại còn hèn. Vừa rồi làm ầm lên, sao bây giờ không dám lập biên bản. Hèn!”

Rồi tôi bỏ ra khỏi phòng.Hôm sau một người an ủi tôi, rằng tôi quá trong trắng, thơ ngây, không am hiểu thực tế Việt Nam, và rằng họ biết tôi đúng mà không dám lên tiếng bênh vực. Khi nghe tôi kể lại, ông Võ Thúc Đồng, lúc ấy làm trưởng ban nông nghiệp trung ương, cũng bảo tôi như vậy, “mày đáng quí, trong trắng và thơ ngây quá. Tức là phải hiểu rằng người trong trắng thơ ngây không có chỗ đứng trong chế độ cộng sản? Họ, những con người nói chung là tốt và dáng quí ấy, suy cho cùng, chỉ là nạn nhân của một lối tuyên truyền áp đặt mang tính hăm dọa, lâu ngày thành chai lỳ, mất khả năng tư duy bình thường rồi cuối cùng trở thành yếm thế, mù quáng và nô lệ.

Năm ấy tôi không được bầu lao động tiên tiến. Không được đi coi thi đại học ở Huế. Rồi không được lên lớp. Không một hình thức kỷ luật nào, không cả một lời khiển trách. Không ai nói lý do vì sao. Tôi cũng không hỏi, chỉ đều đều đến tháng tới tài vụ lĩnh lương. Tình trạng này kéo dài hơn nửa năm, cho đến khi tôi chán vì khinh bỉ, bỏ sang làm việc ở nhà xuất bản Lao Động theo lời mời của ông phó giám đốc người cùng làng. Nếu không, chắc đến bây giờ tôi vẫn ngồi chơi xơi nước và lĩnh lương đều đều ở trường. Nhân rỗi rãi, tôi đã dịch khá nhiều thời gian này, trong đó có mấy chương tiểu thuyết thơ “Don Juan” của Bairơn, tất cả thơ sonnet của Shakespere và nhiều thứ khác. Từ đấy thì không chỉ tôi không tin mà còn rất xem thường Đảng.

Nói chung, trong năm năm làm ở Nhà xuất bản Lao động tôi không gặp điều gì nghiêm trọng, trừ một lần, năm 1979, Tổng cục thống kê mời tôi đi các tỉnh miền Nam làm phiên dịch cho một chuyên gia Liên hợp quốc sang giúp ta trong lần điều tra dân số năm ấy. Tôi đến chỗ hẹn chờ ô tô ra sân bay, chờ cả buổi không thấy ai. Sau này hỏi thì được biết bên công an can thiệp không cho đi. Lần khác, mà cũng mãi sau này ông đồng hương phó giám đốc nhà xuất bản mới cho tôi biết, rằng mấy lần công an đến hỏi rất nhiều về tôi, “may bọn tớ bênh cậu lắm nên mới thoát đấy”, ông cười rồi nhắc thêm: “Dẫu sao cậu cũng nên cẩn thận. Đời này, thời này làm người tử tế khó lắm!”

Thái Bá Tân

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.