Văn học Miền Nam 1954-1975 :Phạm Thiên Thư(Phạm Kim Long)(1)-Động hoa vàng

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75

PHẠM THIÊN THƯ (KỲ 1)

Tiểu sử vắn tắt

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long sinh 1-1-1940 tại Lạc Viên, Hải Phòng trong một gia đình Đông y. Quê gốc ông nay ở Tiền Hải, Thái Bình. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954 cho đến nay, ông cư ngụ ở Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

· Từ 1964-1973: tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Trong năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu truyện Kiều – Đoạn trường Vô Thanh.

· Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm)…

Ông từng đi tu và rồi hoàn tục, nên có kiến thức khá thâm thúy về đạo Phật. Ông được coi là “người thi hóa kinh Phật” (dịch kinh Phật ra thơ) và là tác giả của nhiều bài thơ phảng phất triết lý mà ông đã tin theo. Nhiều thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, và trở nên phổ biến trong công chúng, có thể kể đến Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng, các bài Đạo ca

Trong bài Phạm Thiên Thư, người thi hóa kinh Phật, Hà Thi viết:

“Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo! Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam Việt Nam) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: Em lễ chùa này, Ngày Xưa Hoàng Thị, Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu… Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo thật khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ… Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên”.

Hoàng Nguyên Vũ trong bài Cõi lạ Phạm Thiên Thư còn cho biết thêm:

“Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng thích thơ văn. Tuổi thơ của ông khá êm đềm. Những điều đó chỉ cho ông được những tiền đề thuận lợi, nhưng để một tài thơ bật hẳn lên thì phải là từ năm 1958, sau một biến động của cuộc đời…

Chuyện là ông có nhóm bạn thơ họa Hồ Quý Ly, tụ tập đàn đúm thơ phú đêm ngày. Thấy đám văn nghệ sĩ này cứ “ương ương dở dở”, cảnh sát chế độ Sài Gòn cũ đã vây bắt. Ông phải ẩn tu vào một ngôi chùa. Đi tu, thực ra với ông không hẳn là tìm một chốn nương náu, mà ông ngộ ra một điều, ông đã tự tìm cho mình một cõi riêng, một kiểu tu hành riêng…

Ông viết Động hoa vàng những ngày đầu ngấm giáo lý nhà Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn. Dĩ nhiên, Động hoa vàng chưa hẳn là tác phẩm xuất sắc nhất trong đời viết của Phạm Thiên Thư, nhưng nó đã làm nên một “thương hiệu” của Phạm Thiên Thư. Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo:

Đợi nhau tàn cuộc hoa này

Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ

Tìm trang lệ ố hàng thơ

Chữ xưa quyên giục bây giờ chim đi…

Nhiều người đã cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông chỉ cười: “Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình”. Quả thực là từ cõi Phật, ông đã làm được những điều đáng nể: thi hóa kinh Phật, sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm hoi trong văn học Việt Nam… Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ…”.

Tác phẩm đã in

· Thơ Phạm Thiên Thư (1968)

· Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương)

· Động Hoa Vàng (Thơ, 1971)

· Đạo ca (Nhạc Phạm Duy)

· Hậu Kiều – Đoạn Trường Vô Thanh (1972)

· Kinh thơ (thi hoá Kinh Pháp Cú)

· Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (Thơ)

· Kinh Hiếu (thi hóa kinh Vu Lan)

· Kinh Hiền (thi hoá Kinh Hiền Ngu, gồm 12.000 câu lục bát)

· Ngày xưa người tình (thơ)

· Trại Hoa Đỉnh Đồi (thơ, 1975)

· Thơ Phạm Thiên Thư (Nhà xuất bản Đồng Nai tái bản)

· Tự điển cười (24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu pháp. Năm 2007, Trung tâm Sách và Kỷ lục Việt Nam đã trao cho ông kỷ lục là người đầu tiên viết Từ điển cười bằng thơ)

· Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh Thủy tinh, Nhà xuất bản. Văn hóa Thông tin, 2003).

Nguồn: Wikipedia

ĐỘNG HOA VÀNG

1
Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

2
Xe lên bụi quán hoa đường
Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
Tiếng chim ướt sũng hai mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

3
Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

4
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

5
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhuỵ lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

6
Từ chim thuở núi xa xưa
Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đoá sầu

7
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

8
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa

9
Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

10
Sao em bước nhỏ ngập ngừng
Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm thơ
Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

11
Đôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

12
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

13
Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

14
Đêm dài ươm ngát nhuỵ hoa
Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
Em ơi rủ tóc mây về
Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

15
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

16
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

17
Đợi ai trăng rõi hoa buồn
Vắng em từ thuở theo buồm gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây trôi
Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

18
Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

19
Xuống non nhớ suối hoa rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

20
Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương toả dưới chân một vành

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

23
Gầy em vóc cỏ mây dời
Tay em mai nở chân trời tuyết pha
Ngày dài ngựa soải cầm ca
Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

24 
Xe lăn bánh nhỏ bụi hường 
Lao xao vó rụng trên đường phố mây 
Mưa giăng ráng đỏ hao gầy 
Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa 

25 
Chim nào hát giữa thôn hoa 
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay 
Lụa nào phơi nắng sông tây 
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông 

26 
Con chim mùa nọ chưa chồng 
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu 
Từ em giặt áo đông tơ 
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm 

27 
Thuyền ai buông lái đêm rằm 
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào 
Cửa sương nhẹ mở âm vào 
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca 

28 
Lên non cuốc sỏi trồng hoa 
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương 
Vớt con cá nhỏ lòng đòng 
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ 

29 
Vào non soi nguyệt tầm rùa 
Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư 
Thả rùa lại đứng ưu tư 
Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa 

30 
Em nghiêng nón hạ cầu mưa 
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về 
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia 
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha 

31 
Đất nam có lão trồng hoa 
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông 
Lại đem bầu ngọc ra trồng 
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân 

32 
Người vui ngựa chợ xe thành 
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi 
Theo chân chim gặp mây trời 
Lại qua khói động hỏi người tu non 

33 
Bông hoa trắng rụng bên đường 
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng 
Con ong nhỏ mới ra giàng 
Cũng nghiêng đôi cánh nhuỵ vàng rụng rơi 

34 
Mùa xuân bỏ vào suối chơi 
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa 
Múc bình nước mát về qua 
Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa 

35 
Chim từ bỏ động hoa thưa 
Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông 
Lên non kiếm hạt tơ hồng 
Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay 

36 
Người về đỉnh núi sương tây 
Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa 
Bến nam có phố giang hà 
Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say 

37 
Tình cờ anh gặp nàng đây 
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương 
Qua sông có kẻ chợt buồn 
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu 

38 
Mốt mai em nhớ bao giờ 
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không 
Chân chim nào đậu bên cồn 
Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim 

39 
Đợi người cuộc mộng thâu đêm 
Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhoà 
Anh nằm gối cỏ chờ hoa 
Áo em bạch hạc la đà thái hư 

40 
Em từ rửa mặt chân như 
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về 
Thâu hương hiện kính bồ đề 
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi 

41 
Ta về rũ áo mây trôi 
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan 
Rằng xưa có gã từ quan 
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say 

42 
Ngựa xưa qua ải sương này 
Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông 
Nước xuôi gờn gợn mây hồng 
Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò 

43 
Hoa đào tưởng bóng đào xưa 
Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi 
Hoa dương vàng nhạt sầu người 
Ta về uống nước sông khuây khoả lòng 

44 
Đưa nhau đổ chén rượu hồng 
Mai sau em có theo chồng đất xa 
Qua đò gõ nhịp chèo ca 
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say 

45 
Khăn trăng từ độ trao tay 
Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương 
Mốt mai lòng có nghe buồn 
Mảnh trăng hiện hoá thiên đường cõi chơi 

46 
Nhện cheo leo mắc tơ trời 
Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương 
Đánh rơi hạt mận bên đường 
Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa 

47 
Nụ vàng hương rộ tháng ba 
Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương 
Chẳng như cội liễu bờ dương 
Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không 

48 
Mai nào thơm ngát thu đông 
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh 
Đôi chim hồng yến trên cành 
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang 

49 
Mùa xuân mặc lá trên ngàn 
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư 
Động nam hoa có thiền sư 
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn 

50 
Nến khuya lửa hắt hiu vàng 
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa 
Ý nào hoá hiện ngàn hoa 
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni 

51 
Dỗ non suối giọng thầm thì 
Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa 
Ni cô hiện giữa ta bà 
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng 

52 
Tiếng chim trong cõi vô cùng 
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương 
Tiếng em hát giữa giáo đường 
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng 

53 
Đố ai nhớ hết hoa vàng 
Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu 
Đố ai tát cạn mạch sầu 
Thì ta để tóc lên cầu đón ai 

54 
Em về sương đẫm hai vai 
Dấu chân là cánh lan dài nở đêm 
Từ em hé nụ cười huyền 
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa 

55 
Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca 
Sư về chống gậy trúc qua cầu này 
Ngó bờ suối lạnh hoa bay 
Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh 

56 
Có con cá mại cờ xanh 
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân 
Nửa dòng cá gặp phù vân 
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi 

57 
Dù mai lều cỏ chân trời 
Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ 
Em còn ửng má đào tơ 
Tóc xưa dù có bây giờ sương bay 

58 
Lên non ngắt đoá hoa này 
Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhoà 
Nom hoài chẳng rõ là ta 
Tắm xong khoác áo hát ca về làng 

59 
Tay đeo vòng ngọc xênh xang 
Áo em bay giải tơ vàng thiết tha 
Bước chân tìm chán ta bà 
Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh 

60 
Hỏi con vạc đậu bờ kinh 
Cớ sao lận đận cái hình không hư 
Vạc rằng: thưa bác thiên thư 
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ 

61 
Nước đi từ thủa bao giờ 
Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi 
Chừng đâu dưới bến hoa tươi 
Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông 

62 
Từ hôm em bỏ theo chồng 
Áo trắng em cất áo hồng em mang 
Chiều nay giở lại bàng hoàng 
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh 

63 
Đôi chim nho nhỏ trên cành 
Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường 
Nửa đời mây nước du phương 
Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân 

64 
Gò chiều ùn bụi sương lên 
Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng 
Bên mồ chồn cáo đùn hang 
Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga 

65 
Cuối xuân ta lại tìm qua 
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn 
Sớm thu ta đánh đò sang 
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa 

66 
Trúc thưa cổng gió ơ hờ 
Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng 
Sông ơi xanh nhé một dòng 
Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa 

67 
Đường dài xao xác chim ca 
Người còn khoác nón theo tà dương nao 
Ván cờ bày trắng bông đào 
Sao lên núi thẫm trăng vào chén không 

68 
Đồi thu vắt suối mây hồng 
Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên 
Bấc sầu lửa lụn chờ em 
Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này 

69 
Đón em như ngóng chim trời 
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu 
Em còn áo trắng ngày xưa 
Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen 

70 
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền 
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da 
Vườn chùa có nụ hàm ca 
Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn 

71 
Mai tươi cánh nở bên cồn 
Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời 
Thu đông tàng ẩn kho trời 
Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa 

72 
Cổng làng mở cánh sao sa 
Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai 
Lên chùa dâng dĩa hoa nhài 
Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư 

73 
Chuông ngân chiều lặng trầm tư 
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng 
Điệu về tay giấu chùm bông 
Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa 

74 
Bóng trăng tịch mặc hiên nhà 
Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương 
Gió thu từ độ tha phương 
Về trên hốc gỗ bên đường lặng im 

75 
Áo em vạt tím ngàn sim 
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ 
Yêu nhau từ độ bao giờ 
Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay 

76 
Tình cờ như núi gặp mây 
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao 
Tỉnh ra thì giấc chim bao 
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng 

77 
Cành sen lá chĩu sương trong 
Áo ni xám vạt trời hong buồn về 
Tay nào nghiêng nón thơ che 
Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao 

78 
Đôi mày là phượng cất cao 
Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ 
Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ 
Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây 

79 
Tóc em rừng ngát hương say 
Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà 
Mắt xanh bản nguyện di đà 
Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim 

80 
Mắt nàng ru chiếc nôi êm 
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời 
Em là hoa hiện dáng người 
Tôi là cánh bướm cung trời về say 

81 
Một đêm nằm ngủ trong mây 
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời 
Cây bưởi trắng ngát hương đời 
Nụ là tay phật chỉ người qua sông 

82 
Non xanh khoác áo sương hồng 
Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay 
Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay 
Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa 

83 
Em bên cửa chuốt tay ngà 
Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành 
Ngày em ướp áo hồ xanh 
Con uyên tha thiết trên cành gọi thu 

84 
Ni về khép cửa chùa tu 
Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng 
Thu vương ngọn chổi đôi bông 
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên 

85 
Sư lên chót đỉnh rừng thiền 
Trong tim chợt thắp một viền tà dương 
Ngón tay nở nụ đào hương 
Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời 
86 
Một dòng hoa nổi trên trời 
Một dòng hoa nở trong người trầm tư 
Cánh nào mở cõi không hư 
Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang 

87 
Thư em ướp nụ lan vàng 
Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa 
Áo em phất cõi di đà 
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ 

88 
Chênh vênh đầu trượng thiền sư 
Cửa non khép ải sương mù bóng ai 
Non xanh ướm hỏi trang đài 
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa 

89 
Ngày xưa bên dậu vàng hoa 
Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời 
Năm sau em bỏ đi rồi 
Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn 

90 
Trên nền gạch nẻ rêu phong 
Xưa phơi nhã điệu giờ hong đoá quì 
Trẻ đào bãi cỏ xanh rì 
Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han 

91
Non đem nhạn nhốt trong thành
Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
Người còn dệt lụa tằm dâu
Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

92
Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

93
Sáng nghe lan rụng mái nhà
Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
Đường về mù mịt ngàn mây
Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

94
Mây dù chẳng chất non cao
Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

95
Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

96
Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

97
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

98
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

99
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

100
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hoá duyên


Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Đưa em tìm động hoa vàng.

Nguồn: Phạm Thiên Thư, Động hoa vàng, Cảo Thơm xuất bản, 1971

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.