“Tự Lực Văn Đoàn”(phần 12) với văn học và “kách mệnh”-khảo cứu của Bà Thuỵ Khuê(Paris)

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng (12)

Bà Thuy Khuê (Thuykhue.free.fr)

Tự Lực Văn Đoàn có những ai?

Cách đây hơn hai mươi năm, nhà văn Đặng Trần Huân (1929-2003), một người rất quan tâm đến Tự Lực văn đoàn, viết:

nhà của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tại Cẩm Giàng

“Chỉ mới thành lập năm 1933 mà tổ chức Tự Lực Văn Đoàn tưởng như đã xa xưa lắm vì cho tới nay có lẽ vẫn chưa có ai trả lời được là văn đoàn này gồm có những ai? Về sau có thêm bớt ai không? Những người liên quan tới TLVĐ có một số còn sống nhưng mỗi người nói một cách, có khi mâu thuẫn nhau, chẳng biết đâu mà tin. Một văn đoàn có tác phẩm để đời khá nhiều, ảnh hưởng sâu đậm tới văn hoá Việt Nam, thế mà lai lịch của nó tới nay vẫn mù mờ như huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử hay Mỵ Châu Trọng Thủy vậy. Độc giả giở sách báo cũ hay hồi ký ra để tìm hiểu thì càng mung lung hơn và bắt đầu đi vào mê lộ”[1].

Đặng Trần Huân viết rất đúng và tình trạng mù mờ này dường như vẫn còn kéo dài đến ngày nay, có lẽ bởi vì người Việt ít khi chịu nghiên cứu đến nơi đến chốn một vấn đề gì. Khi soạn sách lại hay dùng giai thoại đã đọc được trên sách này sách kia, rồi viết lại như sự thực, đó là lối nhà văn Nhật Thịnh [2] thường làm trong cuốn Chân dung Nhất Linh, kể cả nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên cũng không tránh khỏi. Còn Đặng Trần Huân, tuy ông than phiền như vậy, nhưng sau khi tài liệu Mấy lời nói đầu của Nhất Linh được công bố năm 2002, ông có viết thêm một bài khác, tựa đề Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn [3], ngỏ ýthỏa mãn với những điều Nhất Linh viết trong di cảo này, và xác nhận (như hầu hết mọi người) rằng Tự Lực văn đoàn gồm bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thạch Lam, Thế Lữ và Xuân Diệu, mà không cần tìm hiểu kỹ càng hơn.

Như chúng tôi đã trình bày trong các chương trước, tất cả mọi vấn đề đều không đơn giản như vậy. Muốn trả lời câu hỏi: Tự Lực văn đoàn đích thực có những ai?, chúng ta cần phải khảo sát lại, bởi vì một tài liệu, dù chính Nhất Linh viết ra, cũng cần được đọc và phân tích cặn kẽ.

Bài Mấy lời nói đầu của Nhất Linh

Tài liệu đáng chú ý nhất, liên quan tới việc Tự Lực văn đoàn có những ai, được Nguyễn Tường Thiết, con trai út Nhất Linh công bố khoảng năm 2000, là bài Mấy lời nói đầu cho cuốn Đời làm báo, bản chụp dưới đây:

clip_image002
clip_image004

Đời làm báo – Mấy lời nói đầu của Nhất Linh

Nếu đọc kỹ Mấy lời nói đầu, viết cho cuốn sách Đời làm báo, ta sẽ thấy văn bản này không trả lời câu hỏi: Tự Lực văn đoàn có những ai? Ở đây, Nhất Linh chỉ kê khai tên những người đã cộng tác với hai báo Phong Hóa và Ngày Nay, và trong số đó, người nào được ông xác nhận là thành viên Tự Lực văn đoàn thì bên cạnh tên, ông chua thêm mấy chữ: có chân trong Tự Lực Văn Đoàn, để ở trong ngoặc.

Mấy lời nói đầu là bài tựa cuốn Đời làm báo Nhất Linhdự định viết, hay đã viết nhưng bị thất lạc. Năm 2002, bài này được in trong phần phụ lục cuốn Việt Nam một thế kỷ qua (Hồi ký cuốn một)[4] của Nguyễn Tường Bách và năm 2006, in trong phần phụ lục cuốn Nhất Linh cha tôi [5] của Nguyễn Tường Thiết. Văn bản này được lưu trữ trên trang mạng sưu tập Phong HóaNgày Nay của Thư viện Người Việt và Thư viện Diendan.org, trong bài Bút Hiệu của Tự Lực Văn Đoàn.

Nhà văn Nguyễn Tường Thiết cho tôi biết: ông đã tìm thấy Mấy lời nói đầu trong một xấp giấy rời, thuộc phần di cảo của cha, nhưng ông không thấy trang nào khác về cuốn Đời làm báo. Như vậy có hai trường hợp: Hoặc Nhất Linh mới viết tựa, chưa viết sách. Hoặc Nhất Linh đã viết sách mà bị thất lạc. Sự thất lạc này đã từng xảy ra với bản thảo Xóm Cầu Mới, và phải mười năm sau, Nguyễn Tường Thiết mới tìm lại được [6].

bàn thờ linh vị các văn nhân Tự Lực Văn Đoàn

Mấy lời nói đầu chỉ là một bản nháp, chưa hoàn chỉnh; Nhất Linh viết theo trí nhớ, nhiều chỗ gạch xoá, có chỗ (tháng, năm) bỏ trống hoặc viết dở, chắc ông đợi khi nào có tài liệu đầy đủ trước mắt, sẽ điền vào sau. Và chắc Nhất Linh cũng không thể ngờ có ngày chúng ta sẽ đem ra phân tích, bởi đối với ông “nó” chỉ là bản nháp, chưa thể trình làng được. Ta cần hiểu rõ bối cảnh như thế, trước khi dùng.

Tuy không giúp ta biết rõ danh sách những người ở trong Tự Lực văn đoàn, nhưng Mấy lời nói đầu vẫn rất quan trọng, bởi vì nó giúp ta khám phá ra một số thông tin đến nay vẫn chưa được soi rạng. Chúng tôi đánh máy lại những dòng Nhất Linh viết tay, chỉ bỏ những chữ ông đã xoá. Và đây là nguyên văn:

Mấy lời nói đầu

Đây là cuốn Ký ức về đời làm báo của tôi về hai tờ báo khôi hài, châm biếm, văn chương: Tờ Phong Hóa (193… -193…) và tờ Ngày Nay (193 -194 ) và về những người trong tòa soạn hai tờ báo đó:

Nguyễn Tường Tam tức Nhất Linh, Đông Sơn, Tam Linh, Lãng Du, Bảo Sơn, Tân Việt. Giám đốc và chủ bút báo PH từ số 14 cho đến khi báo bị đóng cửa và Ngày Nay từ số… cho đến… (có chân trong Tự Lực văn đoàn)

Trần Khánh Giư tức Khái Hưng, Nhị Linh, Hàn đãi… đậu. Giám đốc Ngày Nay từ số 80 (10-10-1937) (có chân trong Tự Lực văn đoàn)

Nguyễn Tường Long tức Tứ Ly, Hoàng Đạo, Tường Vân, chủ bút báo Ngày Nay từ số… (có chân trong Tự Lực văn đoàn)

Nguyễn Đình Lễ tức Thế Lữ, Lê Ta (có chân trong Tự Lực văn đoàn)

Nguyễn Tường Lân tức Thạch Lam, Việt Sinh, Thiện Sĩ, chủ bút báo Ngày Nay từ số 99 (27-2- 38) (có chân trong Tự Lực văn đoàn)

Hồ Trọng Hiếu tức Tú Mỡ (có chân trong Tự Lực văn đoàn)

Nguyễn Tường Cẩm, Giám đốc tờ Ngày Nay từ số 1 đến số …

Nguyễn Tường Bách; Giám đốc tờ Ngày Nay trong khi Khái Hưng và Hoàng Đạo ở trại giam và Nhất Linh ở hải ngoại từ số…

(Trong số 8 người này, có hai người đã qua đời và 5 người biệt tăm tích, vậy còn lại có một, tức mình Nhất Linh).

Tuy là cuốn sách về báo và người viết báo, nhưng những người viết báo đó lại là những người viết văn (tiểu thuyết, thơ…) nên trong cuốn Ký ức này, không thể không nói đến phần viết văn của những người viết báo.

Tác giả.

Dưới đây là tên những người không ở trong tòa soạn nhưng thường có bài đăng ở hai tờ báo:

Lê Thạch Kỳ tức Chàng Thứ 13 (viết bài khôi hài về khoa học)

Đỗ Đức Thu (tiểu thuyết)

Xuân Diệu (có chân trong Tự Lực văn đoàn) (thơ mới)

Huy Cận (thơ mới)

Trọng Lang (phóng sự)

Bùi Hiển (truyện ngắn)

Tô Hoài (truyện ngắn)

Đinh Hùng (tranh khôi hài)

Nguyễn Công Hoan (truyện ngắn)

Vi Huyền Đắc (kịch)

Phạm Thị Cả Mốc (tên thật là Phạm Cao Củng) thơ khôi hài

Mụ báo Sài Gòn (tên thật: không có)

Bút Sơn ở Sài Gòn (người đã đẻ ra Xã Xệ) (tên thật chưa biết). Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn ông cho biết tên thật.

Nguyễn Khắc Hiếu (dịch Đường Thi)

Nhất Sách (tranh khôi hài)

Các hoạ sĩ đã từng vẽ giúp:

Nguyễn Gia Trí

Tô Ngọc Vân

Trần Bình Lộc

Nguyễn Cát Tường

Trần Văn Cẩn

Lưu Văn Sìn

Nhận xét đầu tiên: Nhất Linh quên tên khá nhiều người đã cộng tác với Phong Hóa Ngày Nay như: Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông, Huyền Kiêu, Nguyễn Bính, Thanh Tịnh, Tế Hanh, Phạm Văn Hạnh, Phạm Cao Củng, Nguyễn Xuân Khoát… cả Lưu Trọng Lư cũng viết mấy bài. Nguyễn Xuân Khoát, ngoài nhạc bản, còn có loạt bài nghiên cứu: Kho tàng âm nhạc Việt Nam. Nhưng Nhất Linh lại nhớ có Tô Hoài, mà Tô Hoài không có bài nào trên Phong Hóa Ngày Nay cả (vì ông này mãi tới năm 1940 mới bắt đầu viết cho Hà Nội Tân Văn, lúc đó Ngày Nay đã đóng cửa). Nhất Linh cũng nhắc tên Đinh Hùng vẽ tranh khôi hài nhưng tôi tìm không thấy tranh nào ký tên Đinh Hùng. Bùi Hiển có truyện ngắn Nằm vạ in trên Ngày Nay số cuối cùng 224 (7-9-40) với lời giới thiệu của Thạch Lam, đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của ông. Nguyễn Công Hoan, chỉ có một truyện ngắn duy nhất Chiều khách, in trên Phong Hóa số 25 (9-12-32). Rồi thôi. Năm 1936, ông cho in tiểu thuyết Cô giáo Minh (Tân Dân, Hà Nội) cốt truyện giống Đoạn tuyệt, nhưng kết luận mẹ chồng nàng dâu hòa hợp với nhau. Phong Hóa “bình phẩm” là giống, Nguyễn Công Hoan tức giận chê Đoạn tuyệt. Lời qua tiếng lại trên mấy số báo (Phong Hóa số 177, 180, 188). Có lẽ Khái Hưng nói đúng hơn cả: chẳng cần tranh luận, khi hai cuốn sách giống nhau, cuốn nào sống lâu hơn, là có giá trị hơn. Bây giờ Đoạn tuyệt đã trở thành tác phẩm cổ điển, ít ai nhớ đến Cô giáo Minh.

Trở lại bài Mấy lời nói đầu của Nhất Linh trên đây, chúng tôi thấy có mấy điểm quan trọng:

1- Nhất Linh không xác định các thành viên của Tự Lực văn đoàn là ai, ông chỉ ghi trong ngoặc như chú thích “có chân trong Tự Lực văn đoàn“.

2- Qua câu: “đời làm báo của tôi về hai tờ báo khôi hài, châm biếm, văn chương: Tờ Phong Hóa (193… -193…) và tờ Ngày Nay (193 -194 )” Nhất Linh đã nhớ đúng tính chất của hai tờ Phong Hóa Ngày Nay: khôi hài, châm biếm, văn chương.

Điểm này cốt yếu cho việc nghiên cứu Tự Lực văn đoàn, vì từ trước đến nay, người ta chỉ chú trọng đến khía cạnh văn chương và bỏ rơi khiá cạnh khôi hài châm biếm.

3- Nhờ câu: “Trong số 8 người [làm trong tòa soạn] này, có hai người đã qua đời và 5 người biệt tăm tích, vậy còn lại có một, tức là mình Nhất Linh”, ta có thể đoán chắc rằng, Nhất Linh đã viết Mấy lời nói đầu khi ông ở Hương Cảng, sau khi Hoàng Đạo mất. Vì lúc đó ông chưa biết rõ số phận những người đã từng làm việc trong tòa soạn hai tờ báo này, ai còn ai mất. Ông chỉ biết chắc hai em ruột ông: Thạch Lam và Hoàng Đạo đã qua đời [7], năm người còn lại, ông ghi là “biệt tăm tích”, kể cả Nguyễn Tường Bách, người em út đã sang Tàu và ở cùng với ông một thời gian (việc ông “quên” Nguyễn Tường Bách, là có lý do khác, sẽ nói đến sau).

Mấy lời nói đầucũng không thể viết sau khi Nhất Linh trở về nước cuối năm 1950 [8], vì khi về đến Hà Nội, ông đã có thể biết về số phận Tú Mỡ và Thế Lữ, dù ông và họ, lúc ấy mỗi người một chiến tuyến, chắc không liên lạc lại với nhau nữa.

Sau cùng, ông cũng không thể viết những dòng này trong những ngày cuối đời ở Sài Gòn, vì ở miền Nam, thập niên 1960, mọi người đều biết rõ số phận những thành viên trong tòa soạn Phong Hóa-Ngày Nay, kể cả những người ở lại ngoài Bắc.

4- Nhất Linh không nhớ Thạch Lam làm Chủ bút báo Ngày Nay từ số 1, và cũng không nhớ ông làm Giám đốc báo Ngày Nay từ bao giờ. Nhưng ông lại nhớ rất rõ hai việc:

– Khái Hưng làm Giám đốc Ngày Nay từ số 80 (10-10-1937).

– Nguyễn Tường Lân làm chủ bút báo Ngày Nay từ số 99 (27-2-1938).

Hai điểm này rất quan trọng, bởi vì nó cho chúng ta hiểu rõ hơn hành trình cách mạng của Nhất Linh.

Khi quyết định ra báo Ngày Nay, Nhất Linh để Nguyễn Tường Cẩm, anh ông, làm Giám đốc, và Thạch Lam làm chủ bút, từ số 1 (30-1-35) đến số 5 (10-3-35), sau đó Nguyễn Tường Cẩm rút ra, có thể vì không đủ kinh nghiệm làm báo. Từ số 6 (2-4-35), Nguyễn Tường Tam thay thế Nguyễn Tường Cẩm làm Giám đốc, Nguyễn Tường Lân vẫn làm chủ bút, mượn thêm Nguyễn Văn Thức làm Quản lý, nhưng ông Thức sẽ biển thủ, làm cho Phong Hóa Ngày Nay bị lụn bại tài chính (Xem chương 3: Khái Hưng và Phong Hóa).

Tóm lại, Ngày Nay từ số 1 đến số 15 (3-4-36) trong hơn một năm, gặp nhiều khó khăn vì in nhiều hình ảnh nên bị lỗ, chỉ ra được 15 số báo.

Khi Phong Hóa số 190 (5- 6-36) bị đóng cửa vĩnh viễn, toàn bộ ban biên tập Phong Hóa dồn sang Ngày Nay số 16 (12-7-36) và Nhất Linh đã hoàn toàn thay đổi từ nội dung đến hình thức tờ báo như ông đã làm với Phong Hóa số 14. Vậy Ngày Nay số 16 là một cái mốc rất quan trọng. Nhưng tại sao Nhất Linh lại không nhớ đến cái mốc này?

Để hiểu rõ lý do, chúng ta cần nhìn lại mấy sự kiện quan trọng được công bố trên báo Ngày Nay năm 1937:

– Tháng 7-1937: Hội Ánh Sáng được phép thành lập với sự đỡ đầu của Thống Sứ Yves Châtel [9]. Ánh Sáng là tổ chức làm nhà rẻ tiền cho dân nghèo, do hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Như Tiếp viết bài và vẽ kiểu. Chương trình nhà Ánh Sáng được quảng bá hàng tuần trên báo Ngày Nay từ năm 1936.

– Tối 16-8-37, Nguyễn Tường Tam diễn thuyết ở Nhà Hát Lớn Hà Nội về ý nghiã xã hội của Hội Ánh Sáng.

Đến đây, mới thấy hé lộ chủ đích chính trị của Nhất Linh: Việc gây quỹ nhà Ánh Sáng có lẽ chỉ là giải pháp ngoài mặt giúp đỡ dân nghèo, bên trong là phương tiện xây dựng đảng Hưng Việt, giúp ông có thể đi sâu vào quần chúng, bằng những buổi hội họp, diễn thuyết tổ chức văn nghệ để quyên tiền, ở khắp nơi, lại công khai nhận được sự bảo trợ của chính quyền bảo hộ. Tóm lại, Nhà Ánh Sáng cũng là cơ hội để ông đi các tỉnh vận động mà không bị phòng nhì Pháp chú ý.

Vì thế, chương trình nhà Ánh Sáng chỉ được Tự Lực văn đoàn cổ động mạnh mẽ trong 2 năm, rồi họ từ chức quản trị ngay từ năm 1939, nhường cho một ban quản trị khác [10], vì lúc đó họ đã chuyển hẳn sang hoạt động cách mạng rồi và chính quyền bảo hộ cũng nhìn thấy, nên đã đình chỉ việc cấp giấy phép xây nhà rẻ tiền. Việc này chúng tôi sẽ đào sâu hơn trong chương viết về Nhà Ánh Sáng.

Tóm lại, mục đích của Nhất Linh trong thời điểm này là sẽ làm chính trị và lập đảng, nên ông chỉ nhớ những mốc chính trị mà thôi:

– Hai tuần sau khi Nhất Linh diễn thuyết ở nhà Hát Lớn, thì ngày 29-8-37, báo Ngày Nay số 74 bắt đầu đăng loạt bài Vấn đề thuộc địa của Hoàng Đạo, và in những biếm họa của Nguyễn Gia Trí, chỉ trích mạnh mẽ chính sách cai trị của thực dân.

Cũng trên số báo này, trường Thăng Long lại quảng cáo tên Nguyễn Tường Tam trong danh sách giáo sư cử nhân cho niên khoá 37-38. Nhất Linh tuy làm báo, nhưng không bỏ hẳn dạy học. Theo quảng cáo của trường Thăng Long đăng trên Phong Hóa năm 1933, thì ông vẫn dạy, đến năm 1935 mới ngừng, rồi tiếp tục dạy lại năm 1937[11].

Vậy Nguyễn Tường Tam chỉ ngừng dạy trong hai niên khoá 1935-1936 và 1936-37, rồi ông trở lại dạy niên khoá 1937-38, vào đúng lúc ông phát triển phong trào nhà Ánh Sáng.

Phải chăng Nhất Linh trở lại dạy Thăng Long chỉ để gặp gỡ thanh niên và thuyết phục họ đi theo cách mạng? Phải chăng đây là một kế hoạch đã chuẩn bị từ rất lâu, từ ngày 17-6-1930, khi Nguyễn Thái Học và các đồng chí lên đoạn đầu đài: Khái Hưng, Nhất Linh đã trở thành những giáo sư đầu tiên của trường Thăng Long gieo mầm ái quốc cho học sinh. Và sau này trường Thăng Long sẽ tiếp nối truyền thống này, trở thành ổ cách mạng với những Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp…

Trở lại câu hỏi đã nêu ra ở trên: Tại sao Nhất Linh lại nhớ rõ hai việc:

– Khái Hưng làm Giám đốc Ngày Nay từ số 80 (10-10-37).

– Nguyễn Tường Lân làm chủ bút báo Ngày Nay từ số 99 (27-2- 38).

Bây giờ ta có thể trả lời, bằng nhận xét sau đây:

– Trên đầu báo Ngày Nay số 77 (19-9-37) còn thấy ghi Nguyễn Tường Tam là Giám đốc; nhưng sang số 78 (26-9-37) ông trở thànhngười sáng lập, với dòng chữ sau đây: Nguyễn Tường Tam, Sáng lập chủ nhân. Trần Khánh Giư, Giám Đốc. Nguyễn Tường Lân, Quản lý.

– Và tới Ngày Nay số 80 (10-10-37), Nhất Linh rút hẳn tên mình khỏi tờ báo, chỉ đề: Giám đốc Trần Khánh Giư.

Đó là một quyết định quan trọng, nên hơn mười năm sau, Nhất Linh còn nhớ rõ và ghi lại trong bài Mấy lời nói đầu.

Rồi tới Ngày Nay số 99 (27-2-38), tức là hơn bốn tháng sau, lại rút cả tên Trần Khánh Giư. Sau đó, chỉ đề ngân phiếu gửi về M. le Directeur du Ngày Nay.

Hai quyết định này rất quan trọng nênNhất Linh nhớ rõ, vì đó là hai ngày: Nhất Linh và Khái Hưng ngừng để tên công khai trên báo Ngày Nay. Nên ta có thể xác định:

Kể từ tháng 2-1938, Nhất Linh và Khái Hưng đã lập đảng Hưng Việt, sau đổi tên thành Đại Việt Dân Chính. Vì thế hai người lần lượt rút tên là Giám đốc báo Ngày Nay để tránh hậu họa cho tờ báo.

Việc này, Nguyễn Tường Bách và Hoàng Văn Đào chỉ ghi đại lược: năm 1938, Nguyễn Tường Tam lập đảng, nhưng không ai nói rõ ngày tháng. Còn Nguyễn Vỹ lại cho rằng, từ 1936 Khái Hưng đã lập Việt Nam Dân Chính Đảng, rồi kéo Nhất Linh theo [12], điều này cũng không biết đúng sai như thế nào, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong chương: Việt Nam Quốc Dân Đảng (1939-1945). Ở đây ta chỉ có thể xác định rằng:

Kể từ tháng 2-1938, Nhất Linh và Khái Hưng đã bỏ tên trên đầu báo Ngày Nay, để ra lập đảngvà họ vẫn sát cánh nhau như lúc làm báo.

Bài Tiểu sử Nhất Linh của Nguyễn Ngu Í

Tài liệu đáng tin cậy hơn cả về Nhất Linh và Tự Lực văn đoàn là bài Nhất Linh (1906-1963) của Nguyễn Ngu Í [13]. Chính trong bài này, Nhất Linh đã xác định tên những người trong Tự Lực văn đoàn.

Bài này chia làm hai phần:

1- Phỏng vấn Nhất Linh, ở dưới ghi: Thủ đô nước Việt đầu mùa mưa 1954, Nguyễn Ngu Í thực hiện cho mục “Gia đình văn nghệ” của báo Phương Đông, mấy ngày trước khi ký hiệp định Genève. Đến năm 1961, một phần được Nguyễn Ngu Í trích in trên báo Bách Khoa[14].

2- Tiểu sử Nhất Linh, với lời chú thích: “Tiểu sử này, do chính Nhất Linh đọc cho tôi viết và đã xem lại trước khi in, tôi xin giữ trọn vẹn và không thêm đoạn đời từ thu 1954 đến thu 1963, để giữ chút kỉ niệm về anh. Khi tái bản sẽ in bổ túc.” [15] Như vậy, phần tiểu sử này, do Nhất Linh đọc cho Nguyễn Ngu Í viết, bảy năm sau khi trả lời bài Phỏng vấn.

Nhất Linh tự vận ngày 7-7-1963. Nguyễn Ngu Í qua đời tháng 8 năm 1977 tại Sài Gòn, sách của ông chưa kịp tái bản, nên ta không có phần tiểu sử Nhất Linh từ 1954 đến 1963, như ông đã hứa.

Bài Nhất Linh (1906-1963), cho tới nay là tài liệu đầy đủ và ít sai lầm nhất, nhờ sự làm việc cẩn trọng của Nguyễn Ngu Í, và vì Nhất Linh đã đọc lại phần tiểu sử trước khi in. Trước hết chúng tôi lưu ý đến hai câu trong bài Tiểu sử Nhất Linh này:

– “Về nước năm 1930, cùng Hoàng Đạo, Thạch Lam xin ra tờ báo trào phúng “Tiếng cười”, nhưng vì gặp cảnh không tiền nên “tráng sĩ đành năm co”. Quá hạn, bị rút giấy phép”.

– “Đã có vốn ít nhiều, lại có thêm đồng chí, nên dầu làm báo lúc bấy giờ có khổ như cái gì, cũng quyết không lui. Sẵn có tờ “Phong Hóa” ra tới số 13, lối văn cổ không được hoan nghênh, và người bỏ tiền ra muốn giao lại, anh [Nhất Linh] bèn lãnh lấy, có Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí phụ lực (1932). Sau đó vài tháng, thêm Thế Lữ.”[16]

Điểm đáng chú ý nhất ở đây là lời Nhất Linh: Tự Lực văn đoàn có bảy người Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Thế Lữ.

Một mặt khác, như chúng tôi đã trình bày trong chương Sự thành lập Phong Hóa và Tự Lực văn đoàn: Nhờ những điều Khái Hưng kể lại trong tiểu thuyết Những ngày vui, ta được biết: Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí là hai sáng lập viên đầu tiên, làm báo Phong Hóa từ số 1.

Bài Tiểu sử Nhất Linh, còn ghi thêm một số thông tin khác:

– Từ khi về nước năm 1930, Nhất Linh đã có ý định cùng hai em Hoàng Đạo và Thạch Lam, làm báo trào phúng.

– Nhất Linh xin được phép ra tờ báo “Tiếng cười”, nhưng vì không có tiền nên đành “nằm co”, đến lúc quá hạn, bị rút giấy phép.

Câu “Đã có vốn ít nhiều, lại có thêm đồng chí” dẫn đến nghi vấn: vốn ở đâu ra?

Câu hỏi này lại được Khái Hưng trả lời trong tiểu thuyết Những ngày vui: Nhờ số tiền 10.000 đồng của Nguyễn Văn Tiên Léang fat Houa trước khi qua đời, di tặng.

Nguyễn Ngu Í ghi tiếp: “Anh [Nhất Linh] bèn lãnh lấy [tờ báo] có Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí phụ lực (1932). Sau đó vài tháng thêm Thế Lữ.”

Câu này, một lần nữa lại nêu rõ đích danh những thành viênxây dựngbáo Phong Hóa từ số 14 (22-9-32) sau thêm Thế Lữ, thành viên thứ bảy.

Và Khái Hưng trong Những ngày vui coi Nguyễn Gia Trí là bạn đồng hành từ những ngày đầu, trước cả Nhất Linh.

Cả bà Nguyễn Thị Thế cũng nhớ: “Trong thời kỳ này (1933) anh Tam lập nhóm Tự Lực văn đoàn cùng Khái Hưng, Hồ Trọng Hiếu, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Nguyễn Gia Trí sau có thêm Nguyễn Cát Tường tức họa sĩ Le Mur[17]. Bà Thế cũng không nhớ sai, vì Nguyễn Cát Tường vẽ cho Phong Hóa một bức biếm họa trên số 13, rồi trở lại vẽ Phong Hóa từ số 27 (cùng với Thế Lữ). Nhưng Cát Tường chỉ là một trong những họa sĩ cộng tác với Phong Hóa, không phải là họa sĩ chính và là người sáng lập như Nguyễn Gia Trí cùng với Khái Hưng.

Sau này, người ta hay tự tiện bỏ tên Nguyễn Gia Trí ra ngoài, có lẽ vì nghĩ ông là họa sĩ. Điều này hết sức sai lầm, vì Phong Hóa Ngày Nay nếu không có Nguyễn Gia Trí, cũng không hoàn toàn là Phong Hóa Ngày Nay.

Tóm lại, sau khi kết hợp tài liệu của Nhất Linh và Khái Hưng, chúng ta có thể quả quyết rằng:

– Tự Lực văn đoàn có bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ và Thế Lữ.

– Tự Lực văn đoàn thành lập trong khoảng thời gian từ Phong Hóa số 11 (25-8-32) đến Phong Hóa số 13 (8-9-32), tức là những ngày cuối tháng tám đầu tháng chín năm 1932.

– Bốn chữ Tự Lực văn đoàn được in lần đầu trên báo Phong Hóa số 56 (21-7-33).

– Bản tuyên ngôn Tự Lực văn đoàn được in trên báo Phong Hóa số 87 (2-3-1934).

Nhưng vẫn còn một câu hỏi chưa được giải đáp:

Nhất Linh, trong bản Tiểu sử không nhắc đến Xuân Diệu, tại sao?

Trường hợp Xuân Diệu

clip_image006
Xuân Diệu

Phong Hóa đi tiên phong trong việc giới thiệu Thơ mới, ngay từ số 16 (16-10-32), Nguyễn Tường Tam đã làm bài thơ mới đầu tiên Điệu thơ cụt, ký tên Nhất Linh. Rồi trên báo Xuân Phong Hóa (số 31, 24-1-33), Thơ mới chính thức được “lăng-xê” với chín bài: Phan Khôi với Tình già; Lưu Trọng Lư, với bốn bài: Trên bãi biển, Giấc mộng tình, Lại nhớ Vân, Vì sương thu đổ; Tân Việt (Nhất Linh), hai bài: Gượng vui, Cái vui ở đời; và Ngày xuân vắng khách của Thanh Tâm. Thế Lữ tham dự với bài thơ đầu tiên Con người vơ vẩn.

Phạm Huy Thông bắt đầu có thơ in trên Phong Hóa từ số 62 (1-9-33). Vũ Đình Liên, từ số 98 (18-5-34). Nguyễn Bính, từ Phong Hóa số 116 (21-9-34) và năm 1937, ông được giải thưởng khuyến khích thơ của Tự Lực văn đoàn, với tập Tâm hồn tôi. Như vậy sự công nhận của Tự Lực văn đoàn đã nâng đỡ nhà thơ trong bước đầu rất nhiều.

Xuân Diệu có bài Những bàn tay ấy đăng trên Phong Hóa số 158 (18-5-35), với những câu thơ tuyệt đẹp:

Một tối vòm trời chẳng bợn mây,

Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy,

Hoa nghiêng xuống cỏ trong khi cỏ

Nghiêng xuống làn rêu: một tối đây[18]

Những lời huyền bí bốc lên trăng

Những ý bao la toả xuống trần

Nhưng tiếng ái tình hoa bảo gió,

Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân.

Bóng chiều đi vụt. Bỗng, đêm nay,

Tôi lại đa mang hận tháng ngày.

Dưới ánh trăng cười tôi kiếm mãi

Dấu bàn tay ấy ở trên tay.

Sau Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu là người thứ nhì đưa sự Giao cảm giữa con người và thiên nhiên vào thơ, mà Baudelaire gọi là Correspondances. Xuân Diệu được chấp nhận ngay như một tài năng trẻ, nhạy cảm, có ngôn ngữ thơ mới lạ.

Xuân Diệu lúc đó đang học tú tài I ở Hà Nội, có hai bài thơ được đăng tiếp theo là Nụ cười xuân (Phong Hóa số 182, 10-4- 36) và Vì sao (Phong Hóa số 185, 1-5-36), được Thế Lữ nâng đỡ.

Bài Vì sao có bốn câu, sau này sẽ rất nổi tiếng:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bắng nắng nhạt,

Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu

Trọn năm 1937, Xuân Diệu trở về Huế học thi Tú Tài II, chỉ gửi đăng có hai bài: truyện ngắn Mèo hoang (Ngày Nay số 81, 17-10-37) và bài thơ Phải nói (Ngày Nay số 84, 7-11-37). Thời gian này Xuân Diệu kết thân với Huy Cận.

Năm 1938, Xuân Diệu ra Hà Nội ở chung với Huy Cận. Xuân-Huy góp bài cho Phong Hóa nhiều nhất, nhưng Xuân Diệu được ưu đãi hơn. Mỗi tuần Xuân Diệu gửi cho Phong Hóa một bài văn xuôi, thỉnh thoảng mới có thơ. Văn xuôi của Xuân Diệu khá nhạt nhẽo nhưng vẫn được Thạch Lam, lúc đó làm chủ bút, đăng.

Tập Thơ Thơ của Xuân Diệu được quảng cáo: sẽ in, trên Ngày Nay số 96 (30-1-38), nhưng phải đến cuối năm 1938, Tự Lực văn đoàn mới in xong. Sang năm 1939, Xuân Diệu góp bài ít hẳn đi. Và năm 1940, đỗ tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho, nên gần ông như ngừng hẳn, không gửi bài nữa.

Sự đóng góp của Xuân Diệu cho tờ Ngày Nay không hơn những đóng góp của các nhà thơ, nhà văn có tài khác như: Nguyễn Bính, Huy Cận, Nguyên Hồng, Trần Tiêu, Đỗ Đức Thu… Xuân Diệu được chọn vào Tự Lực văn đoàn vì thơ ông bạo và lạ hơn, là phải. Tuy nhiên, về thơ, Huy Cận, Nguyễn Bính sâu sắc hơn. Về văn, Nguyên Hồng với Bỉ vỏNhững ngày thơ ấu đã là một tài năng lớn, chưa kể Trọng Lang về phóng sự, Vi Huyền Đắc về kịch.

Vậy sự quyết định đưa ai vào Tự Lực văn đoàn thời ấy ra sao? Không rõ. Có lẽ vì lúc ấy, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, bận lo chính trị, không còn thì giờ để ý đến văn chương như trước nữa.

Chúng ta tin vào mấy chữ của Nhất Linh trong bài Mấy lời nói đầu: “Xuân Diệu (có chân trong Tự Lực Văn Đoàn), nhưng Nhất Linh nhớ nhầm khá nhiều. Còn Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam cũng ghi Xuân Diệu có chân trong Tự Lực văn đoàn [19], không biết ông lấy thông tin ở đâu.

Vậy Xuân Diệu có thể là thành viên thứ tám của Tự Lực văn đoàn, kể từ 31-12-38, ngày phát hành tập Thơ Thơ [20].

Ta lại biết, mỗi thành viên, khi in sách, đều được hân hạnh đề thêm mấy chữ: Trong Tự Lực văn đoàn, dưới tên tác giả.

Vậy mà, theo Đặng Trần Huân, cuốn Thơ Thơ không có năm chữ này, ông viết: “Năm 1938, khi nhà xuất bản Đời Nay của Tự Lực văn đoàn in “Thơ Thơ” và đoản văn “Phấn Thông Vàng” cũng chưa thấy dòng chữ Trong TLVĐ, ghi dưới tên tác giả Xuân Diệu[21].

Thế mới kỳ lạ. Tuy nhiên Đặng Trần Huân viết như thế, thì ta có thể tin rằng ông đã có hoặc đã nhìn thấy bià này.

Chúng tôi bèn tìm trên Internet, quả nhiên thấy được sách Thơ Thơ do Đời Nay in năm 1938, của Thư viện Quốc gia Pháp (BNF) với bìa sau đây, dưới tên Xuân Diệu không có chữ Trong Tự Lực văn đoàn:

clip_image002[1]_thumb[2]

Bên trong sách này có một trang ghi tám chữ: Xuân Diệu Thơ Thơ Tự Lực Văn Đoàn, nhưng với thứ chữ in khác và bỏ dấu không đúng, có lẽ do người Pháp làm việc số hoá cuốn sách đã thêm vào.

image_thumb[2]

Vậy Xuân Diệu có thực sự ở trong Tự Lực văn đoàn hay không?

Việc này vẫn còn tồn nghi.

Riêng cuốn Phấn Thông Vàng, Đời Nay không in, có lẽ vì dở.

Nhưng Xuân Diệu chưa phải người chót đã được vào hay chưa được vào Tự Lực văn đoàn, Đỗ Tốn là thành viên thứ tám hay thứ chín.

(Còn tiếp)

Thụy Khuê

thuykhue.free.fr

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.