Nhớ Phạm Duy và “Tình ca “nhân ngày rời cõi tạm 21/1/2013 -Đặng Tiến

Đặng Tiến

Phạm Duy và “Tình ca”

(Kỷ niệm 8 năm ngày mất của nhạc sĩ Phạm Duy: 27.1.2013 – 27.1.2021)Mến tặng anh Phạm Văn Hạng

Nhạc sĩ Phạm Duy đã tự viết tiểu sử của mình và giới thiệu những ca khúc thuộc nhiều thể loại ông đã sáng tác suốt mấy chục năm hoạt động âm nhạc: “Tên và họ là Phạm Duy Cẩn, nhưng khi thành nghệ sĩ thì xin được xưng tên là Phạm Duy (hai chữ mà thôi). Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 tại Hà Nội, con út của nhà văn, nhà báo Phạm Duy Tốn. Lấy ca sĩ bộ đội (Trung đoàn 304) là Phạm Thị Thái, tự Thái Hằng, làm vợ vào năm 1949, có con đầu lòng là Duy Quang lúc còn ở Khu IV Thanh Hóa. Khi hai vợ chồng vào Saigon sinh sống bằng nghề âm nhạc thì có thêm 4 người con trai là Duy Minh, Duy Hùng, Duy Cường, Duy Đức và 3 người con gái là Thái Hiền, Thái Thảo, Thái Hạnh. Trong số này, 6 người con trở thành ca sĩ, nhạc sĩ nổi danh trong nhiều năm trời.

Học chữ tại các trường tiểu học Nguyễn Du, trung học Thăng Long, học nghề tại Trường Kỹ nghệ thưc hành, học vẽ tại Trường Cao đẳng mỹ thuật, học nhạc với giáo sư Robert Lopez và là bàng thính viên (dự thính) tại Viện Nhạc học (Institut de Musicologie) ở Pháp. Xuất thân là thợ sửa máy radio, công nhân nhà máy điện, làm ruộng, phó quản lý và ca sĩ trong một gánh hát cải lương lưu động. Trở thành văn công trong kháng chiến chống Pháp. Khi vào sinh sống tại miền Nam, cùng với anh chị em vợ thành lập Ban Hợp ca Thăng Long, làm nhân viên Trung tâm Điện ảnh, sản xuất ca khúc thương mại, đi hát tại các đài phát thanh, phòng trà, khiêu vũ trường, đại nhạc hội và có lúc dạy nhạc tại Trường Quốc gia Âm nhạc Saigon…. Khi sống tại nước ngoài thì mở nhà xuất bản Phạm Duy Productions và đi lưu diễn khắp nơi trên thế giới để bán sách, dĩa nhạc.

Từ lúc còn nhỏ, nhờ gia đình yêu chuộng văn nghệ, tôi được làm quen với nhạc dân tộc. Tới khi người anh lớn đi du học 7 năm bên Pháp đã tốt nghiệp rồi trở về nhà thì tôi được nghe nhiều dĩa nhạc, dĩa hát Tây phương và được đọc nhiều sách tiếng Pháp và học hỏi ít nhiều về nhạc ngữ Âu Tây. Khi tân nhạc Việt Nam vừa ra đời (khoảng 1940-1942) thì tôi đã có sáng tác “Cô hái mơ” phổ thơ Nguyễn Bính, “Gươm tráng sĩ”, “Phương trời xa”… Khi tôi đi theo gánh hát lưu động (gánh Đức Huy) suốt dọc đường cái quan, từ miền Bắc qua miền Trung tới miền Nam, tôi trở thành ca sĩ chuyên nghiệp đầu tiên, phổ biến trong dân chúng những bài dân ca phục hồi như “Ngồi tựa sông Đào” và tân nhạc như “Buồn tàn thu” của Văn Cao, “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong, “Bản đàn xuân” của Lê Thương…

Khi xảy ra cuộc toàn quốc kháng chiến thì tôi trở thành cán bộ văn nghệ làm việc trong nhiều cơ quan, đơn vị tại Việt Bắc, tại miền trung du Bắc bộ và tại Liên Khu IV. Trong thời kỳ này, tôi đã sáng tác nhạc hùng, nhạc tâm tình theo phong cách dân ca kháng chiến: “Nhớ người thương binh”, “Dặn dò”, “Mùa đông chiến sĩ”, “Ru con”, “Nhớ người ra đi”, “Tiếng hát trên sông Lô”, “Bên ni bên tê “(Người lính bên kia), “Mười hai lời ru”, “Bà mẹ Gio Linh”, “Bao giờ anh lấy được đồn Tây” (Quê nghèo), “Về miền Trung”, “Gánh lúa” …

Đã đưa ra hình thức đoản khúc dân ca với những bài soạn ra trong và sau kháng chiến, bây giờ nếu tôi muốn phóng đại hình thức này lên thì tôi phải đi học cách phát triển âm giai và tiết điệu quốc tế. Tôi bỏ ra gần hai năm (1954-55) để qua Pháp, tham dự những buổi giảng về “Sự thành hình và biến hình của ngũ cung tại Viện Nhạc học Paris và học nhạc sử quốc tế với giáo sư Robert Lopez. Tôi khởi sự soạn trường ca “Con đường cái quan” ngay từ lúc này. Tiếp theo đó, “Mẹ Việt Nam” (ra đời sau loạt 10 bài tâm ca mang tính chất phê bình xã hội) cũng là bản truờng ca của tình tự dân tộc, tình ca quê hương, kêu gọi đàn con Việt yêu thương nhau dù đang phải sống một thời kỳ rất nhiều nhiễu nhương.

Biến cố tháng 11 năm 1963 đánh đổ chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam kéo theo nhiều xáo trộn. Về mặt chính trị, thường xuyên có những vụ đảo chính, chỉnh lý, xuống đường. Về mặt quân sự, sự có mặt của quân đội ngoại quốc trên đất nước khiến cho chiến tranh khởi sự leo thang dữ dội. 10 bài Tâm ca, với những tựa đề như “Tôi ước mơ”, “Tiếng hát to”, “Ngồi gần nhau”, “Giọt mưa trên lá” , “Ðể lại cho em”, “Một cành củi khô”, “Kẻ thù ta”, “Ru người hấp hối”, “Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe”, “Hát với tôi.”.. đã cất lên tiếng nói lương tâm của con người đối mặt cùng sự thật và nhận diện lại mọi thứ trong đời. Tâm ca đươc kéo dài với một số bài ca phê bình xã hội mà tôi gọi là Tâm phẫn ca: “Tôi không phải là gỗ đá”, “Người lính trẻ”, “Bà mẹ phù sa”..

.Giữa bài tình khúc đầu tiên của tôi – “Cô hái mơ”, soạn năm 1942 tới bài tình khúc cuối cùng – “Chỉ chừng đó thôi” soạn năm 1974, có nhiều bài… Trong cuộc đời rất dài và rất sống động của một ca nhân, thỉnh thoảng những băn khoăn siêu hình cứ lảng vảng len vào nhạc tôi một cách vô hại. Thế rồi dù nhạc tôi rất chú trọng tới sự phản ánh cuộc đời trước mặt bằng những bài ca hiện thực, nhưng những bài hát siêu hình cứ thỉnh thoảng lại được thốt ra như “Lữ hành”, “Dạ lai hương”, “Xuân ca”, “Xuân hành”, “Dạ hành”, “Một bàn tay”, “Những bàn chân”, “Mộng du”, “Nhạc tuổi vàng”, “Chiều về trên sông”, “Đường chiều lá rụng”, “Nước mắt rơi”, “Tạ ơn đời”, “Những gì sẽ đem theo về cõi chết”…

“Phạm Duy đã chia sẻ về tâm tình của ông và bối cảnh trong đó ông đã viết ca khúc “Tình ca”, ca khúc về tình yêu quê hương, nổi tiếng nhất của ông: “Từ ngày vào Nam cho tới nay, tôi chỉ có Lê Thương là bạn thân thiết. Bây giờ ngoài nhạc sĩ họ Lê, tôi có thêm Nguyễn Đức Quỳnh. Suốt trong hai năm 1953-1954, tôi và anh Quỳnh gặp nhau hàng ngày. Là nhà văn, nhà báo, cùng với Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Đức Quỳnh được mời viết báo Đời Mới của Trần Văn Ân. Đó là tờ báo nổi tiếng nhất của miền Nam thời đó. Là người bạn mới của tờ Đời Mới, được anh em trong tòa soạn phỏng vấn, tôi tuyên bố: sau khi nói lên vinh quang và nhọc nhằn của dân tộc qua những bài ca kháng chiến, bây giờ tôi đi vào tình tự quê hương. Bàn thảo với Nguyễn Đức Quỳnh có loạt bài “Người Việt đáng yêu”, “Đất Việt đáng yêu”, “Tiếng Việt đáng yêu” đăng trên báo Đời Mới và sau khi cho ra mắt “Tình hoài hương”, tôi có ngay bài “Tình ca” xưng tụng tiếng nói, cảnh vật và con người Việt Nam đăng trong số Tết 1953 của báo này. Mùa xuân năm đó, trong gian phòng 4 m2 ở căn nhà gỗ ngõ Phan Thanh Giản, tôi vừa bế con là Phạm Duy Minh mới ra đời, vừa hát:

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!

Mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi tiếng ru muôn đời…”

Thật là may mắn cho tôi là nói lên được phần nào bản sắc quốc gia (identité nationale) qua bản “Tình ca” này. Định mệnh khiến cho tôi, một ca nhân tầm thường, qua một bản tình ca ngắn ngủi, đưa ra khái niệm con người Việt Nam với địa dư, lịch sử và tiếng nói chung của một dân tộc đã từng chia sẻ với nhau trên vài ngàn năm lẻ. Tôi làm được việc này vì tôi có may mắn được đi ngang đi dọc nhiều lần trên bản đồ hình chữ S, gặp gỡ đủ mọi hạng người trong xã hội, nhất là được sống với những nổi trôi của lịch sử từ thời thơ ấu qua thời vào đời tới thời cách mạng, kháng chiến… Bài “Tình ca” được mọi người yêu thích ngay. Nó nói tới quê hương, đất nước nhưng cũng nói tới tiếng nói và con người nữa. Là bài hát tình ca quê hương nhưng nó còn là bài hát tình tự dân tộc… “ (Hồi ký Phạm Duy, tập 3)

TÌNH CA

tác phẩm về Phạm Duy của nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời À à ơi !

Tiếng ru muôn đời.

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi

Tiếng nước tôi!

Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi.

Tôi yêu tiếng ngang trời

Những câu hò giận hờn không nguôi

Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi

Vững tin vào mộng đẹp ngày mai.

Một yêu câu hát Truyện Kiều

Lẳng lơ như tiếng sáo diều làng ta

Và yêu cô gái bên nhà

Miệng xinh ăn nói thật thà có duyên.

Tôi yêu đất nước tôi nằm phơi phới bên bờ biển xanh

Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình

Nhìn trùng dương hát câu no lành.

Đất nước tôi! Dãy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn

Đất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơi

Đất nước tôi! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng

Lúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơi.

Tôi yêu những sông trường

Biết ái tình ở dòng sông Hương

Sống no đầy là nhờ Cửu Long

Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong.

Người yêu thế giới mịt mùng

Cùng tôi ôm ấp ruộng đồng Việt Nam

Làm sao chắp cánh chim ngàn

Nhìn Trung Nam Bắc kết hàng mến nhau.

Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu

Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo

Mình đồng da sắt không phai màu.

Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao

Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi

Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao

Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, áo ơi

Tôi yêu biết bao người Lý, Lê, Trần và còn ai nữa

Những anh hùng của thời xa xưa

Những anh hùng của một ngày mai.

Vì yêu, yêu nước, yêu nòi

Ngày xuân tôi hát nên bài tình ca

Ruộng xanh tươi tốt quê nhà

Lòng tôi đã nở như là đóa hoa…

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.