Hoài niệm hoạ sĩ/nhà văn quá cố VÕ ĐÌNH-Trần Thị Lai Hồng

VÕ ĐÌNH

CUỘC ĐỜI và NGHỆ THUẬT

cố hoạ sĩ Võ Đình

Trần thị LaiHồng

hoài niệm

Quen bao quanh bởi đường nét màu sắc hơi hướm, mà khi bước vào phòng triển lãm, đường nét màu sắc đặc biệt rất Võ Đình vẫn gây xúc cảm mạnh trong tâm linh tôi.  Nhất là dưới những đợt đèn rọi soi rõ từng vệt màu cuồn cuộn quyện vào nhau, vây quanh bởi những khuôn mặt thân thương quen thuộc. 

Nước mắt tuôn mưa nên phải tránh vào góc phòng, đứng trước tranh mực xạ dành cho Linh Giang, vẽ Thạch Lũng một mùa Trung Thu xa xưa … 

Nén tâm tĩnh lặng, tôi tự nhắc nhở mặc như lôi.

Thật khó mặc, bởi lôi quá mạnh.

Cơ may Trương Hồng Sơn và Đinh Cường gọi tìm địa điểm.  Bèn bước ra bãi đậu xe để ra đường lớn.  Thiên nhiên và thiền hành giúp tìm tĩnh mặc.

Đại học Cộng đồng quận Frederick tiểu bang Maryland còn mang dấu tàn tạ tiêu điều mùa Đông khắc nghiệt. Nhiều đụn tuyết lẫn lá khô còn ún bên góc bãi. Chim Vàng Anh cánh nâu ngực vàng The Baltimore Oriole/ Icterus galbula ngập ngừng vài giọt nhạc ngỡ ngàng trên cành sồi trụi lá. Cỏ úa khô vàng.  Hoa Cúc Vàng Mắt Đen Black Eyed Susans cằn lạnh.  Nhưng nhiều mầm xanh điểm vàng đang lấm tấm chỗi dậy trên mấy bụi dã mai forsythia.  Một đóa thủy tiên daffodil góc sân nở nụ cười vàng đón chào.  Màu vàng của Võ Đình. 

Xuân của Đất Trời bất biến, đang về.  Và chàng, dẫu đã về, đã tới, vẫn lưu lại.  Trong hồi cố hoài niệm.

tranh Võ Đình

Cuộc triển lãm có tựa đề A retrospective, hồi cố, hoài niệm. Nhỏ thôi. Chỉ 28 tranh, mộc bản, sơn dầu, màu nước, acrylics, tranh minh họa… gom từ vài bạn hiền, và gia đình, và một số sách minh họa.   Riêng Edward Ramsburg, môn đệ ruột của Võ Đình, chiếm một sưu tập 12 bức lớn nhỏ.

Eddie  nhắc lời Thầy Võ Đình căn dặn trò khi anh chàng triển lãm lần đầu tiên năm 1989: “Hãy nhớ rằng hội họa hài hòa giữa ‘hai thái cực’: tự do/kỷ luật; liều lĩnh/chính xác; uy dũng/dịu dàng.”

Eddie nghĩ Thầy dạy anh vẽ.  Nhưng điều anh nhận được lại là con đường mới hướng dẫn cách nhìn. Trò nhắc lời Thầy: Vẽ là một cách luyện tập trong chánh niệm.  Không cần phải là một họa sĩ.  Khi bước đi, hãy nhìn xuống.  Thấy  màu sắc nho nhỏ ẩn hiện trong ngọn cỏ, lá cây, và cát bụi.  Thấy hình tượng trong mọi sự vật.  Sắc màu thiên nhiên chan hòa trong nhau.”

Hannah Linh Giang con gái út của Võ Đình và Huệ Liên Helen nói về thân phụ bằng một giọng trìu mến dịu dàng:“Không thể nói đến cha tôi mà không nhắc nhở về việc làm của Người, bởi đối với Người, cuộc đời và nghệ thuật đan kết nhau chặt chẽ.” Lời Linh Giang,  trong buổi lễ phát tang và hỏa thiêu ngày 6 tháng 6, năm 2009.  Mới đó mà đã 1 năm mười tháng.

Nhớ lại, khi Linh Giang và tôi cùng bấm nút lò hỏa thiêu. Và lần này, khi chúng tôi trìu mến ôm siết nhau trong buổi khai mạc triển lãm, tôi ngậm ngùi nghĩ rằng cuộc đời Võ Đình chan hòa màu sắc, nghệ thuật Võ Đình đầy rẫy đường nét.  Màu sắc dường nét đan kết nhau chặt chẽ, rất riêng, rất Võ Đình.

Cuộc triển lãm do môn đệ ruột Eddie Ramsburg tổ chức, còn tiếp diễn cho đến 30 tháng 3, tại The Mary Condon Hodgson Art Gallery, thuộc Đại học Cộng đồng Frederick, tiểu bang Maryland.  Phòng tranh mở cửa Thứ Hai đến Thứ Năm từ 9:30 sáng đến 9 giờ tối, Thứ Sáu từ 9:30 đến 5:00 chiều, và Thứ Bảy từ 9:30 đến 3:30 chiều.  Riêng buổi chiều khai mạc, trong hai tiếng đồng hồ, đã có ngót một trăm người tham dự, hầu hết là người Mỹ.  Phía đồng hương, có Đinh Cường, Trương Hồng Sơn, Phan Văn Quang và phu nhân, BS Trần Đoàn và phu nhân.  Thấy có ba khuôn mặt Á Đông, tôi quá bận không đến chào hỏi, chỉ nhìn từ xa và thầm cảm tạ trong lòng.

Từ thập niên 1960, Võ Đình từng có trên 50 cuộc triển lãm tranh từ Hoa Kỳ sang Canada, Pháp, Phi châu, và Việt Nam.  Chàng còn là một nhà văn với văn phong cũng rất riêng, rất Võ Đình, dịch thuật và minh họa.  Từng cùng được giải Christopher với Helen Huệ Liên với tuyện Tuyết Đầu Mùa/ First Snow, và giải Literature Program Fellowship của National Endowment for the Arts.

Edward Ramsburg năm nay 43 tuổi, là môn đệ ruột của Võ Đình.  Thời gian cư ngụ tại Thạch Lũng Stonevale cũng thuộc quận Frederick, Võ Đình có nhiều môn đệ, nhưng Eddie là một biệt lệ.  Chàng đã kéo Eddie ra khỏi dốc tuột nguy hiểm tuổi trẻ cuối năm trung học, chăm chút chỉ dạy, không những hội họa, mà còn cả cách sống đẹp.  Eddie lập gia đình với Mary Joe, một y tá phụ trách Phòng Cấp Cứu.  Eddie thành công, không những tiếp nối màu sắc đường nét của Thầy, mà còn tiếp nối chuyển đạt giúp đỡ những tài năng tiềm ẩn khác, trong số có cả người mang khuyết tật lòa mà vẽ rất được và cũng thành công.

Cuộc triển lãm này là lần thứ hai, do Eddie đảm nhiệm.  Rất chu đáo.  Rất ân nghĩa.  Năm ngoái, vào dịp Giỗ Tiểu tường, Eddie đã có triển lãm hồi cố hoài niệm Võ Đình, và năm nay, tuy hơi sớm, cũng nhằm tưởng niệm Võ Đình vào cuối tháng 5, Giỗ Đại tường.

Khi được tin Thầy đang ở giai đoạn cuối cuộc sống, Eddie đã tức tốc bay về thăm, chăm sóc giúp thu xếp việc nhà, và sau đó trở lại chịu tang, đọc điếu văn đầy tình nghĩa thầy trò.

Trong thư phân ưu, Mary Jo vợ của Eddie viết:

“…Eddie rất hân hạnh được mời lên tiếng trong Tang Lễ, và cả tuần lễ dưới đó sẽ là một kỷ niệm nhớ đời…Eddie và tôi đã học nhiều từ bà và Mai.  Cả một thế giới khác lạ, đã làm cuộc sống hai tôi thêm phong phú. …

Tôi nghĩ với sự chỉ dạy và ảnh hưởng của Thầy, Eddie trở thành một người khác và là một nghệ sĩ.  Eddie hồi đó mới lớn và đi con đường nguy hiểm của tuổi trẻ.  Thầy đã đưa tay ra, chuyển đạt trí tuệ và nghị lực dìu dắt Eddie, hướng dẫn Eddie vào con đường khác tốt đẹp hơn.

Bây giờ Eddie vững bước một mình nhưng không bao giờ quên những điều Thầy chỉ dạy.  Tôi cảm nhận ân đức đó.  Chồng tôi bây giờ là một người tuyệt vời… nhờ ơn Thầy.

Anh chị Phan Văn Quang, LaiHồng, phía sau là vợ chồng Eddie, anh chị BS Trần Đoàn,

bên cạnh tranh Girl and Rooster, vẽ em gái út Võ thị Nga ôm gà, năm 1967

Trương Hồng Sơn và Đinh Cường

Trần thị LaiHồng

Virgina, đầu Xuân Con Mèo Mới 2001

Võ Đình
V
 và VIT

tản mạn

Thời gian gần đây, nhiều bạn bè có những câu hỏi về những liên hệ giữa chúng tôi, Võ Đình và LaiHồng.  Quý bạn muốn biết chúng tôi có ảnh hưởng nhau trong cách vẽ/viết và/hay quan niệm vẽ/viết, và nếu có, thì như thế nào.

VẼ

Xin được lần lượt chia làm ba phần.  Trước hết là hai chữ họa sĩ.  Sau đó là ảnh hưởng trong cách vẽ, và quan niệm vẽ.

1/  Họa sĩ :  Anh Võ Đình là họa sĩ thứ thiệt, có căn bản, có bằng cấp.  Còn tôi, thích vẽ vì đó là một thú đam mê tiềm ẩn trong người cần biểu hiện. Chỉ giới thưởng ngoạn gọi tôi là họa sĩ.  Tôi vẽ vì yêu áo dài, yêu khăn quàng, yêu lụa.  Tôi vẽ, nói như Carl Jung:  “The creative mind plays with the objects it loves.” 

2/  Cách vẽ:

a) Anh Võ Đình vẽ với sơn dầu, acrylics, phấn tiên, bút chì, bút mực, màu nước … trên bố, trên vải, trên kính, trên giấy, trên gỗ, trên tường, trên các vật dụng …chưa kể việc làm mộc bản, tức là khắc vẽ trên gỗ rồi in trên giấy.

Trong bài tản mạn Xa Xỉ viết 2002, Anh cho biết: “ Trước 1975, tôi vẽ tranh: tranh sơn, tranh nước, tranh phấn; khắc và ấn mộc bản …Cũng tí toáy viết lai rai … Sau 1975, ngoài việc vẽ tranh, tôi còn ham viết, một đam mê từ thiếu thời: truyện, tùy bút, tiểu luận v.v. …”(Mây Chó, 2004, trang 156)

b)  Tôi vẽ với màu nhuộm trên lụa tơ tằm trắng, nhiều loại lụa dày mỏng, trơn hay có gân hoặc dệt hoa văn.  Nếu dùng lụa doupioni hay lụa Thái hoặc Ấn độ đã có màu sẵn, thì chỉ dùng nhũ vàng hay bạc chứ không nhuộm.

Ảnh hưởng, nếu có, chỉ chút xíu về vẽ và nhuộm lụa, thêm một “trò chơi” trong suốt đời tận tụy nghệ thuật hội họa của Anh.  Sau vụ Động Đất ở Montréal,  khi thấy Anh buồn tình đời ấm lạnh, từ tiểu bang xanh Washington, tôi gửi lụa và màu nhuộm qua Đất của Nữ hoàng Mary để Anh giải khuây. Anh cao hứng thích thú với “trò chơi” mới, vẽ hàng loạt khăn lụa và áo dài cho tôi và áo cưới con gái bạn thân, cùng một số khăn quàng có đề thơ, để tặng bạn bè.

Nhưng Anh chỉ ghé chơi, không dừng lại.

Câu Carl Jung dẫn ở phần đầu bài, Anh Võ Đình viết trên một trong những khăn lụa vẽ cho tôi năm 1992, (Xem hình trên do Võ Đình chụp 1992 tại nhà Trương Hồng Sơn)

Khăn quàng đề thơ

Thú quê thuần hức bén mùi

Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô

Hình Võ Đình, 1992

Nhưng Anh vẫn giữ cách vẽ Võ Đình.  Quý vị có thể nhận ngay sự khác biệt trong tấm hình.  Tôi mặc áo Vương Quỳnh, tự vẽ và nhuộm hai màu đen vàng, cô dâu Bảo Trâm trong bộ Sắc Màu, vẽ và nhuộm cũng trên lụa crêpe de chine, đường nét trừu tượng đặc biệt rất mạnh, rất… Võ Đình.

Phần tôi chịu ảnh hưởng của Anh rất mạnh khi vẽ trừu tượng, mặc dầu vẫn dùng cách vẽ nhuộm trên lụa. 

Cả quãng đời thơ ấu cho đến khi ra nước ngoài, hai gia đình mấy anh chị em chúng tôi vẫn liên lạc mật thiết với nhau, rồi ngót mười sáu năm chung sống, dưới bóng đại thụ, làm sao tôi không chịu ảnh hưởng !  Đúng là gần đèn thì sáng!!! Và ánh sáng này rọi sâu vào nằm trong tiềm thức lúc nào không hay… Chính Anh thúc dục tôi vẽ tranh cả chục năm trước, mà tôi cứ ngại ngùng. 

Hai năm sau này, tức là từ 2007, anh khuyến khích tôi vẽ tranh sơn.  Và bức tranh đầu tiên đường nét sắc màu rõ ràng ảnh hưởng Võ Đình, đến nỗi Anh cũng ngạc nhiên về sự thẩm thấu này. 

Trăng Mê Cung, tranh LaiHồng, VIII-08

Cao hứng, tôi làm một loạt tranh, hầu hết vẽ Trâu, vì con trai và cháu nội tôi tuổi Trâu, và năm 2009 là năm Trâu:  Trâu Cha Trâu Con, Mùa Len Trâu, Mười Tranh Chăn Trâu … Trong khi đường nét Trâu Võ Đình đơn giản mà súc tích nghệ thuật, thì Trâu LaiHồng tôi rắc rối chi li vụng dại, hai con mắt là mắt người chứ chẳng phải mắt trâu !!!

Trâu Quê Xưa, 23×30, sơn dầu, Võ Đình 1966

Quà cưới cho Trần Kiêm Khiết và Phú Lộc

Trâu Dầm Bùn, 15×20 acrylics, LaiHồng VIII-08

3)  Quan niệm vẽ:

Trong một thư gửi Calvin Edward Ramsburg, môn đệ ruột của Anh, Võ Đình viết :“ Vẽ là sống, vẽ là ăn, vẽ là thở.  Đừng khắc  phục quá mạnh/ khắc phục từ tốn/ khắc phục đẹp/ nhưng không quá mạnh.  Nếu cứ ung dung từ tốn, cuộc sống sẽ gìn giữ mình.”  Thư khác cũng gửi Calvin Edward : “ Hãy nhớ rằng hội họa hài hòa giữa ‘hai thái cực’: tự do/ kỷ luật; liều lĩnh/ chính xác; uy dũng/ dịu dàng.”  Và một thư khác: “ Eddie, anh đã tiêu hóa hết thức ăn hội họa rồi.  Bây giờ anh lớn tuổi hơn và có kinh nghiệm hơn, anh phải tìm cách vẽ thế nào để biểu lộ được chính bản thân anh hay nhất, rõ rệt nhất.  Việc làm của cả cuộc đời đấy nhé!”

Trong điếu văn tại tang lễ Thầy, với vành khăn tang trắng quấn ngang đầu, chàng môn đệ này đã nói: “ Tôi nghĩ Thầy dạy tôi vẽ.  Nhưng điều tôi nhận được lại là con đường mới hướng dẫn cách nhìn.  Vẽ là một cách luyện tập trong chánh niệm.”  Eddie nhắc nhở lời Võ Đình dạy: “ Không cần phải là một họa sĩ.  Khi bước đi, hãy nhìn xuống.  Thấy màu sắc nho nhỏ ẩn hiện trong ngọn cỏ, lá cây, và cát bụi.  Thấy hình tượng trong mọi sự vật.”  Những đoạn này trích dẫn từ điếu văn Eddie, bản dịch Thầy Trò đăng trên Việt Báo và mạng lưới  litviet.com/ (1)

Theo tôi, Eddie không những là học trò ruột của Võ Đình, mà là người duy nhất thấu hiểu từng giai đoạn Anh đi qua trong đời hội họa.  Eddie là người duy nhất theo dõi cánh chim bay suốt mấy thập niên trong không gian hội họa của Võ Đình, thắc mắc về cánh chim đó, để sau cùng trong dịp về chịu tang, vỡ lẽ về huyền thoại chim hồng hộc trên mặt trống đồng, và tiềm thức chim hồng bay lại.

“Hội họa là gì đây?

Hội họa là gì nếu không là một phương cách biểu hiện của con người trước thực tại.  Và thực tại thì luôn luôn chuyển động, luôn luôn biến hóa, thực tại là thường trong cõi vô thường.” Câu này trích từ chuyện Mây Chó, trong tập Mây Chó, in năm 2004.

Trong chuyện Cái Văn, Cái Vẽ, và Cái Đẹp viết năm 1997in trong Rừng Mắm Văn Nghệ năm 2000Anh diễn tả về nỗi xúc động lần đầu tiên nhìn ngắm tranh Picasso trong một sách nhỏ nhặt được dưới hầm tầu xuyên Ấn Độ Dương trên đường sang Pháp:  “ Nỗi xúc động, sau này tôi mới biết, là một thứ xúc động thẩm mỹ nguyên chất, trọn vẹn. Nỗi xúc động đã dạy cho tôi đôi điều cốt tủy trong nghệ thuật tạo hình.  Đó là, thứ nhất, cái đẹp trong một bức tranh, chính là cái gây nên xúc động trong ta khi ta nhìn ngắm tranh; cái đẹp đó không phát xuất từ đề tài bức tranh, không dính dấp đến những ý tưởng phụ thuộc của đề tài đó.  Cái đẹp đó phát xuất từ cái cách người họa sĩ bố trí bức họa và sử dụng đường nét mầu sắc để diễn đạt và giải quyết cách bố trí đó.  Và, thứ hai, vẽ, không nhất thiết phải có hình thể, nói cách khác, không nhất thiết phải vẽ chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, hay phải sử dụng những yếu tố thuộc về ‘thực tại,’ ‘hiện thực,’ v.v. … Thực tại của bức tranh mới là đáng kể.  Người họa sĩ tạo nên thực tại nầy, và chỉ có thực tại nầy mới gây nên nỗi xúc động thẩm mỹ trong ta.”

Quan niệm vẽ của Võ Đình gói trọn trong một câu và là đề tài bài nói chuyện trong buổi Chiếu Hình và Trần thuật 25 Hội họa Võ Đình, Tác phẩm Chọn lọc, 1957-1983, ngày 3 tháng 12 năm 1983 tại Đại học George Mason, Virginia :“ Hội họa:  một ngôn ngữ của thân tâm.”(2)

Với tôi, vẽ là cách diễn tả cái đẹp, làm đẹp thêm những gì đã đẹp từ thiên nhiên.  Và nói loanh quanh cũng không thể nào không trở về cùng quan niệm của Võ Đình:  “Hội họa: một ngôn ngữ của thân tâm.”  Và chính từ quan niệm này, tôi chịu ảnh hưởng rất mạnh của Võ Đình, mặc dầu đường nét sắc màu của tôi vẫn riêng Trần thị LaiHồng – như tên ghi trên tờ hôn thú bên cạnh tên Võ Đình Mai – không thể là VõĐình LaiHồng để làm cáo mượn oai hùm.

LH và áo lụa vẽ màu sắc đường nét VõĐình

Hình Võ Đình 1994

LH và VõĐình, áo lụa VĐ vẽ

VIẾT

Anh Võ Đình bắt đầu viết rất sớm, và được biết đến từ hồi mười lăm mười sáu ở Huế, thời còn trung học, tức là khoảng năm 1948.

Dạo đó, nhóm bạn của anh tôi bên Khải Định – tên cũ của Quốc học Huế – xúm nhau làm một tờ báo, do Võ Đình viết tay, vì chữ Anh rất đẹp. Anh cũng phụ trách minh họa.  Đó là tờ Hồn Trẻ. Về chi tiết viết bài, tưởng cũng nên mở ngoặc, là cả Anh và tôi đều vẫn viết tay trên giấy dẫu đã có máy computer, sau khi đã edit mới đánh vào máy.

Trong Nỗi Băn Khoăn Của Một Người Cầm Bút viết năm 2004,(Trời Đất, 10 truyện và 10 chuyện, xb 2008 ) Anh thổ lộ : “ Làm báo học sinh, tôi được chúng bạn giao phó cho việc trình bày và minh họa.  Thằng nhỏ mặc nhiên được coi như ‘họa sĩ.’  Nghĩ lại, thật mắc cỡ.  Vẽ vời bá láp mà họa sĩ nỗi gì!” (sđd, trang 143)

Gia đình tôi có một phòng học rất rộng phía sau nhà, có thầy dạy riêng.  Bạn bè anh tôi thường phải đi thẳng đến phòng sau, không được vào cửa trước.  Phòng học có bàn lớn, và mấy anh tụ họp bày giấy viết viết vẽ vẽ, có khi vẽ cả lên bảng đen của chúng tôi.

Nhóm bạn trẻ này có Tôn Thất Thảo (hiện ở Pháp), Trần Kiêm Hàm (hiện ở  Tustin, Cali), Hồ Đăng Trí (San José, Cali), Hồng Quang Anh (Saigon, Việt Nam), Trần Xuân Cầu (đã qua đời) … Bốn người thân nhau nhất là DTTA Dũng/ Thảo/ Trí/ Anh.  Chỉ có Dũng và Thảo viết, hai người kia tháp tùng phụ giúp vui chơi.  Anh Tôn Thất Thảo có biệt danh là Ba Tê TTT, đến nay vẫn còn bên Pháp, vẫn làm thơ mấy ngàn bài, không xuất bản, chỉ để tặng bạn, và cố nhiên chúng tôi có mấy tập, cũng toàn viết tay.

Hồi đó Võ Đình ký tên Thiếu Dũng, theo nhân vật Dũng trong Đôi Bạn của Nhất Linh. Tên này theo Anh sang Pháp, và Anh có kể tôi nghe bạn bè thân như các anh Tôn Thất Thảo, Võ Văn Ái, Vĩnh Ấn bên Paris … khi tếu ơi ới gọi nhau Bây ơi!  Thằng Thiếu Rũng tới đây rồi nè! (3)

Năm 1948 – mười lăm tuổi – Anh chép tay và minh họa một quyển sách nhỏ đặt tựa Mấy Vần Thơ Hay, thu thập nhiều bài của Huy Cận, Xuân Diệu, Thâm Tâm, Thế Lữ, Tế Hanh, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Thanh Tịnh … trên 40 thi nhân.

Trang 2 của tập thơ này có ghi hai đoạn ngắn viết tay– thơ, hay tản mạn – có ký tên, đề ngày 1 tháng 6, 48.  Mới mười lăm, Anh đã thấu được ý nghĩa cuộc đời, sự chuyển hóa sống chết và có có không không:

Sống làm gì?

Sống để mà chết!

Chết làm gì?

Chết để sống vĩnh viễn!

Sống vĩnh viễn làm gì?

–                      Sống vĩnh viễn để có … một con Zéro!!!

–  Thơ là gì?

–  Thơ là vũ trụ!

–  Tôi là thơ

Tập thơ chép tay này, Anh đã nhắc trong Chuyện Giữ Sách viết năm 1996, in trong Lầu Xép, xuất bản 1997 … “Tập thơ đó, ngày nay tôi vẫn còn.  Thỉnh thoảng gặp lại quyển vở nhỏ, lòng vừa buồn rầu vừa sảng khoái.  Buồn vì hoàn cảnh đất nước, từ thuở thiếu niên của mình, đã khó khăn như vậy.  Một thằng bé mê thơ mà phải cặm cụi kiếm giấy, kim, chỉ, đóng tay một quyển vở, rồi loay hoay thu lượm đây đó những bài thơ đương thời, để rồi về khuya, khi cha mẹ đã đi ngủ, ngồi nắn nót chép lại … Buồn rầu như vậy nhưng vẫn có được cái vui.  Vui thấy sự yêu thích say mê của mình.  Mấy chục năm trôi qua, chứng nào vẫn tật ấy.  Yêu thơ văn, sách vở, sướng chớ! …… Đã có lần tôi nghĩ rằng ngày nào tôi quyết đoạn tuyệt với nó thì tôi sẽ không vứt bỏ nó vào sọt rác.  Tôi sẽ đóng một cái hòm nhỏ mà chôn nó.  Hay, dễ hơn, tôi sẽ châm lửa, hỏa táng nó.……Nó được giữ lại vì nó là một phần thân thể của tôi.”

Như bao bạn trẻ, Thiếu Dũng làm thơ, rất lãng mạn.  Dưới đây là bài thơ đầu thuở búp ấu thì,  ký Thiếu Dũng, tựa đề Tống Biệt,  do Anh viết tay trên mặt bìa trong tập Gửi Hương Cho Gió của Xuân Diệu, nhà xuất bản Thời Đại , 1945.

Nắng choàng ngang mái ngói

Rêu đọng màu cố tri

Hương vương đời tĩnh mịch

Nức nở tình chia ly

Lá vàng bay mấy lá

Ngõ rụng búp ấu thì

Tóc xanh không còn nữa

Đậm sương như lời thi

Nẻo buồn ngưng trắng lệ

Ra đi chẳng biết về

Mơ xưa chiều não nuột

Nắng vờn trên đồi quê

Bài thơ đề dâng anh Hồ Hải, tức là bí danh của người anh ruột theo kháng chiến nhảy núi ra Bắc.Bên dưới bài ghi Huế tháng 8, không thấy đề năm nào, và góc giấy rách tuy vẫn còn lề, không đọc được, nhưng chắc chắn là sau cách mạng, hẳn cùng năm 1948 với tập thơ chép tay. Trang bên ghi rõ Huế, tháng 8, và chữ ký rất bay bướm, phóng túng,  rộng rãi, vững vàng. (Những chữ in nghiêng do chính Anh dùng trong chuyện Chữ, viết năm 2000, Huyệt Tuyết, 10 truyện, 10 chuyện, xb 2002)

Thiếu Dũng cũng như các bạn Hồn Trẻ và hầu hết học sinh thời đó đều theo cao trào Học sinh Kháng chiến, bị bắt giam, gia đình phải cố tìm cách gửi đi xa, qua Pháp du học.

Trong  Một Món Tết Thật Mặn Mà đăng trên Văn Học số 24&25 Tết Mậu Thìn 1988, Võ Đình viết …“Ở tuổi mười lăm mười sáu, tôi chỉ thuộc hàng chục bài thơ trong Gửi Hương Cho Gió, Lửa Thiêng, trong Thi Nhân Việt Nam.  Tôi chỉ biết theo vết chân ngựa lên đồi nắng vườn cam chờ người con gái lạ (và đẹp) trong Đợi Chờ, mà mê mẩn ngắm ánh đèn xa dần, xa dần trong sương mù ở đoạn cuối truyện Đôi Bạn.  Tôi chỉ “tranh đấu”, để bị bắt, bị đánh, được thả, bị bắt lại, lại được thả, rồi làm giấy tờ “đi Tây.” …

Rời Huế, Anh đem theo mấy tập thơ và sách, trong số có Lửa Thiêng của Huy Cận do Xuân Diệu đề tựa, Tô Ngọc Vân trình bày, in năm 1940; Thơ Thơ, 1940, Gửi Hương Cho Gió của Xuân Diệu do Trần Văn Cẩn trình bày và minh họa, 1945, Mấy Vần Thơ của Thế Lữ, Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính – do anh tôi tặng – .  Hầu hết sách Tự Lực Văn Đoàn đều nằm trong hành trang tuổi trẻ xa nhà, đặc biệt Gánh Hàng Hoa của Khái Hưng và Nhất Linh có chữ ký Khái Hưng bằng mực xanh, không biết sao lại lọt tay Thiếu Dũng; Đôi Bạn của Nhất Linh mà sau năm năm du học, Anh đã đủ khả năng và dịch ra tiếng Pháp, nhưng mãi đến nay chẳng công bố; Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân, xb 1943; Lều Chõng của Ngô Tất Tố, 1941; Quán Nải của Nguyên Hồng, 1943 …. Và còn nhiều nhiều nữa.

Những sách này hiện vẫn còn giữ lại trên kệ sách nhà, gáy bồi thêm giấy cứng và do Anh đóng lại khâu tay bằng sợi cước. Riêng tập Thơ Thơ có cả chữ ký tác giả Anh đặc biệt cho tôi trước khi lên đường đi Tây, nhưng tôi di chuyển từ Huế vào Nha Trang rồi Saigon đã bị đánh cắp mất tiêu, bây giờ nhà chỉ còn lại tập của Anh không có chữ ký tác giả …Kể cả mấy bức tranh Anh vẽ tôi thời đó trên giấy croquis cũng mất tiêu qua bao lần di tản !

Hồi đó tôi cũng võ vẽ làm thơ đưa đăng, có bài nhại thơ Xuân Diệu, bị mấy anh cự nự vì dám đụng tới Xuân Diệu, Huy Cận … là thần tượng của họ.  Tôi bèn đưa bài thơ khác rất hào hùng nói về tuổi trẻ hăng say, nay chỉ còn nhớ vài câu lõm bõm, và được đăng ngay.  Tiếc mấy tập Hồn Trẻ ngày nay chẳng còn dấu vết.  Bài thơ đầu của tôi là một lục bát Khóc Ông, hình như ông cụ tôi có gửi đăng Sách Hồng thời đó, và bà cụ tôi thì thuộc nằm lòng vì rất yêu kính ngưòi cha chồng nhân đức hiền hậu.  Tôi có ghi lại theo trí nhớ bà cụ, một dịp khác sẽ xin trình bày.

Trở lại báo Hồn Trẻ thuở thiếu thời, tôi nhớ Anh có hai bài viết và minh họa: Chiếc Bong Bóng Lợn, và Nhất Bì Nhì Cốt.

Truyện Chiếc Bong Bóng Lợn viết về một vụ trộm chiếc ống nhổ bằng đồng cổ.  Tên trộm rút tranh trên mái để có khe hở thòng một ống cao su dài nối chiếc bong bóng lợn.  Hắn thổi ống cao su chuyển hơi phồng cái  bong bóng đã lọt nằm trong ống nhổ trầu, và lẹ làng kéo lên.  Tranh minh họa vẽ tên trộm trên mái nhà đang phồng má thổi bong bóng.

Nhứt Bì Nhì Cốt là chuyện kể từ ông cụ thân sinh Anh, hồi còn làm việc bên Lào – năm 1943 – có nuôi một anh giúp nấu nướng và làm việc nhà.  Ông cụ thích thịt gà, hay nhắc nhở nhứt bì nhì cốt, và bảo khi làm gà chọn thứ gì ngon nhất dọn lên.  Anh chàng người làm lần thứ nhất kiếm toàn da gà trộn hành dấm muối tiêu lá chanh. Bị cự nự. Lần thứ nhì kiếm toàn chân gà hầm rục chấm hắc xì dầu Tàu, và nhặt thịt gà để riêng chỉ dọn toàn cánh gà và … xương gà.  Lại bị cự nự. Kết cục vỡ lẽ rằng dọn thịt gà đừng quên da gà và đầu, cánh, xương đùi còn dính thịt và gân, và chân gà, để gặm!  Tranh minh họa vẽ ông cụ bên đĩa thịt gà toàn da và…xương.  Chuyện này tôi từng được nghe ông cụ kể, thời tôi ở chung nhà với Nga em gái út của Anh, để học Đồng Khánh Huế, lúc gia đình cha mẹ tôi đổi vào Nha Trang.  Ông cụ bảo còn câu khác là nhứt phao câu nhì đầu cánh, nhưng Anh chỉ viết vế nhứt bì nhì cốt.

Trong dịp Đào Huy Đán phỏng vấn Võ Đình năm 1988, Anh cho biết “có một truyện ngắn được đăng báo người lớn hồi… chưa đi Tây, nhưng truyện tên gì, báo nào ở Huế, đã quên.  Chỉ nhớ đó là năm 1949 hay đầu 1950.”(4 )

Về chuyện mê say viết, “Tôi khám phá ra rằng khi tôi viết tiếng Việt, sự sống tuôn chảy từ não cân, từ kinh mạch tôi về bàn tay tôi, thấm qua cây bút, xuống mặt giấy. …Viết tiếng Việt, tôi có cảm tưởng tôi xoi một mũi nhọn, thật mảnh, thật dài, vào tận trong cùng tâm não tôi, dò la, mò mẫm, lục lạo, tìm tòi, cho đến khi diễn đạt được vừa ý là lúc mũi nhọn đã chạm tới được sự hiện hữu của chính con người tôi.”  Đoạn văn này trích trang 226 chuyện Sống ở Mỹ, Viết Tiếng Việt, trong tập mười tám chuyện Rừng Mắm Văn Nghệxuất bản năm 2000.

Kể chuyện về thời gian du học bên Pháp, Anh nhắc cuốn Đôi Bạn, trong  Đọc Truyện viết năm 2003, in trong Trời ĐấtAnh viết “Ông Nhất Linh ơi là ông Nhất Linh ơi!  Cái câu ấy của ông nó đeo riết lấy thằng nhỏ từ Huế sang Paris.  Hăm hai tuổi, sáng sáng lội bộ từ Xóm La tinh, xuyên qua vườn Lục-xâm-bảo, tới đại lộ Montparnasse, nơi có quán La Coupole.  Ngồi đó nhâm nhi tách cà phê sữa và … dịch Đôi Bạn của ông ra tiếng Pháp.  Chấm hết bản đich, ký tên, đề ngày 27 tháng 6 năm 1956, lúc 11 giờ sáng.  Khoan!  Ông khoan khen thằng nhỏ “siêng năng,” vì bản dịch đó, bây giờ là bốn bảy năm sau, vẫn chưa được in.  Xém nửa thế kỷ, nó nằm im trong đống giấy tờ …Trong gần năm mươi năm, làm gì mà không xuất bản nó để “giới thiệu văn chương Việt nam với thế giới?”

Thì ra thằng nhỏ, mới ngoài hai mươi, ngồi quán ăn của một khu vực danh tiếng của “kinh thành ánh sáng,” nó chỉ dịch cho “sướng,” cho “thỏa,” hãnh diện của một đứa sinh viên “nghệ sĩ,” chuyển tiếng Việt của một nhà văn hàng đầu của đất nước ra thứ tiếng của quân “xâm lược,” nó“sướng miên man”chẳng kém gì cái sướng của Nhất Linh khi ông viết “Hồng nương!  Hồng nương! v.v. …”

Say sưa kể tôi nghe những ngày tháng đó, Anh và tôi đi lạc về thời gian Anh sống tại Paris.  Anh kể chuyện cả bọn khi dồn được rủng rẻng tí tiền là rủ nhau cuốc bộ đến quán Café de Flore đại lộ Saint-Germain, chầu chực chờ nghe ngắm Juliette Gréco mi mắt viền đen sâu thẳm, tóc đen dài xõa nửa vai trắng trần trong chiếc áo dạ hội đen tuyền, thổn thức Les Feuilles Mortes thơ Jacques Prévert nhạc Joseph Kosma.

Hồi đó ở Việt Nam, chúng tôi cũng mê Juliette Gréco và Les Feuilles Mortes.

Những lúc cao hứng nói chuyện với tôi, Anh hoa tay cất cao giọng hát… Tu étais ma plus douce amie/ mais je n’ai que faire des regrets/ et la chanson que tu chantais/ toujours, toujours je l’entendrai!  Và tôi cũng cao hứng hòa theo  C’est une chanson/ qui nous ressemble/ toi, qui m’aimais, et je t’aimais …    (Em là người bạn dịu dàng nhất/ nhưng anh chỉ gây nhiều hối tiếc/ và bài ca em từng hát/ anh hằng nghe, hằng nghe! …  Đó là một bài ca/ như chuyện đôi ta/ anh từng thương yêu em, và em từng yêu thương anh …)  (5)

Giọng Anh rất trầm hùng.  Khi Anh hát, tôi áp đầu vào lưng Anh để thấm nghe buồng phổi rung trầm ấm trong lồng ngực.  Anh còn thích ngâm thơ và bảo tôi phải ngâm thơ.  Nhưng tôi hay hát nên khi ngâm lại nghe như hát hơn là ngâm.  Anh có một cuộn băng thu mười mấy bài thơ rất thích từ thuở thiếu thời, gửi cho tôi năm 1992 hồi tôi còn bên tiểu bang xanh Washington vùng Tây Bắc. Tôi đã chuyển qua CD và đến nay ngày ngày vẫn vang vang nghe sang sảng giọng Võ Đình.

Mới đây có nhiều người thắc mắc về bài viết trên tờ Người Việt, sau khi Anh Võ Đình đã về, đã tới, về việc Anh có “sáng kiến” làm một “cuốn sách” cho một người bạn văn sau khi họ qua đời, mà không ngờ Anh lại ra đi trước người bạn văn ấy.

Thực tế, chẳng phải là một “cuốn sách” như nhà phê bình kia nói, mà là một loạt thư – có trên trăm bức – do chính “người bạn văn” gửi cho “nhà phê bình”, họ định in thành sách với nhau. Với lời dặn dò chỉ thực hiện sau khi người bạn văn ấy qua đời.  Có thế mới có bài viết Sao Vội Thế Hả Anh Võ Đình?

Tập thư này đã được “lên kế hoạch”giữa hai người, giữa“người bạn văn” và “nhà phê bình” từ lâu rồi, từ năm 1991.  Trong khi những điện thư liên lạc mời Võ Đình tham gia chỉ bắt đầu từ ngày 12 tháng 9, năm 2002.  Những điện thư này đã được chính tôi in ra để lưu giữ. Tuy chúng tôi làm việc trong phòng riêng mỗi người, nhưng luôn cùng chia sẻ nhiều vấn đề, kể cả những chuyện riêng tư trong đời, nên tôi biết rất rõ về “cuốn sách” này, vì cả hai chúng tôi cùng chọn thư, chia nhau đánh máy vào computer, Anh sửa bản thảo – proof reading …tôi in bản thảo, in lại thư emails lưu giữ hồ sơ…

Trong bài tưởng niệm Võ Đình Đã Về … Đã Tới đăng trên mạng gio-o.com tôi có nhắc lại những bức thư thắm thiết đến gọi tri kỷ, nhưng ngót cả năm Võ Đình nằm Trung Tâm Phục hồi cho đến khi Anh đã về, đã tới, chẳng hề thấy một tờ thư ngắn dù chỉ vài dòng gọi là chút giao tình. (6)

Trở lại chuyện viết, Anh thường nhắc nhở phải ngắn, gọn, súc tích.  Bởi tôi hay dài dòng văn tự, kể cả khi viết thư tay hoặc gửi email. Nhưng được điểm son của Anh, là tôi không dùng cliché, sáo mòn, ví dụ chạy như ma đuổi, mưa như cầm chĩnh đổ, mưa như thác đổ, tối như hũ nút, xấu như ma, đẹp như tiên, hiền như Bụt,  v.v.

Cách đây năm bảy năm, Anh viết bài nêu những sáo mòn và trích dẫn, nhưng đến phần trích dẫn thì phó cho tôi, và tôi kinh hãi lục lọi ra hàng bao bố bao rác… và sợ quá.  Sợ …bứt giây động rừng.  Bản thảo đó nay vẫn còn nằm ụ trong thùng bản nháp của tôi.

Một chuyện vui vui, lúc viết Ngày…Tháng…(2) giúp Khánh Trường trên Hợp Lưu, 2004, Anh mở cuộc thăm dò quý bà con bạn bè tuổi 70 và xuống 65, 60, về những triệu chứng suy nhược khi “về già”, củi lửa nguội lạnh, nòng cốt là “nếu ham muốn làm tình giảm xuống thì ý thức về sự gợi tình có tăng lên không?  Kết quả cuộc thăm dò: đa số các ông trên 60, 70 đều xác nhận rằng ‘ham muốn làm tình’ của họ có giảm xuống, trong khi ‘ ý thức về sự gợi tình’ của họ lại tăng lên.” Không thấy Anh ghi nhận xét của quý vị nữ lưu, mặc dầu tôi biết Anh có ‘thăm dò’ một số các bà, trong số, có một bà đã gọi điện thoại hỏi tôi ngay là Anh có chuyện gì lẩm cẩm trục trặc.  Mới đây, khi Anh đã về, đã tới, một số quý bà lại “claim” là Anh có ý … ve vãn họ!!!  Thời gian này, Anh và tôi đọc lại Diary of a Mad Old Man của Tanizaki và nói chuyện với nhau về ông già khùng, đã đưa “ý thức về sự gợi tình” đến một mức lý trí và đạo đức thông thường không chấp nhận được.

Hầu hết truyện hay chuyện của Anh, nhất là những đề tài về hội họa hay văn học rất nặng ký, Anh có kiến thức sâu rộng, trí nhớ phi thường, chẳng cần bàn với tôi.  Nhưng một số chi tiết cần, Anh thường hỏi kiểm lại hoặc cùng tra cứu sách báo. Nhiều chuyện vụn vặt, nhận xét nho nhỏ có khi lại gợi nguồn cảm hứng để Anh viết, nhưchuyện Bàn Thờ Nhà Bà Soa, Hội Kín trong tập Trời Đất, chuyện Cò trong tập Lầu Xép.

Truyện Ngày Mỹ Đêm Việt viết năm 2004 trong tập Trời Đất,nhân vật chính là tôi, và ông già người Á Đông vái người qua lại là chuyện thật. Truyện thật ngắn Trời Đất làm tựa đề cho tập Trời Đất, bà già là tôi với lời khuyên “Đừng tưởng vậy.  Trên đầu có Trời thương.  Dưới chân có Đất thương.  Cứ nhớ vậy nhé.”

Thói quen nghịch ngợm thay đổi tên họ người ta thành một thứ têu tếu là bản tính tinh nghịch của tôi, đã được Anh đem vào truyện Láng Giềng, viết năm 2002, (tập Mây Chó, xb 2004) với  Quạt gắp/Clark Gable, Sạt Bung Xung/ Charles Bronson, Renard/ René, Ái Liên/Ellen, Cà Chua/Thomas …Và quà sinh nhật cho TTLH, 2001, là bài Nho Biển, với những tên cây do tôi đặt như cây hòe – tabebuia hoa vàng, cây Hồng nương – Roselle lá đỏ hình dáng giống lá phongnhưng riêng nho biển – Seagrapes thì gốc gác là cây tra dọc bờ biển Nha Trang là nơi một thời tôi dạy học.  Rồi Người Chạy Bộ II viết 2001cũng cùng tập Mây Chó, có tên những loại cỏ dại miền Nam như rau trai hoa tím, rau bướm bạc hoa trắng, me đất hoa hồng … 

Chỉ những vụn vặt li ti, coi như chút ăn ké góp phần. Nhưng từ những li ti vụn vặt, Anh đã hóa thân trong sáng tạo, để lại những tác phẩm tràn trề chất liệu văn học nghệ thuật.

“Sáng sáng, chỉ nghe tiếng rao thôi.  Sáng sáng, mới năm giờ, giữa cái tinh sương ê ẩm của mùa đông cố đô, o lủi thủi trong bóng đêm đậm đặc.

–  Mì nóng nì…

–  Mì nóng nì …

Này, nè, nì.  Bánh mì nóng đây này, ai mua mì nóng không?  “Mì nóng nì…Mì nóng nì …  Âm hưởng nghe như nhắc nhở, vấn vương.  Như nuối tiếc, nhớ thương… ”

Đó là đoạn viết trích trong chuyện Phòng Sau đề cho TTLH, viết năm 1996, trong tập Lầu Xép 1997, thời gian hai chúng tôi về Huế, Anh thấy sáng sớm tửng bưng tôi thao thức theo tiếng rao của một o bán bánh mì:  Mì nì!  Mì nóng nì! và mở cửa nhìn theo dáng o lầm lũi đi trong bóng tối chập choạng.

Thấy tôi hay đọc hay dịch sách hoặc tài liệu, Anh giao tôi câu của Albert Schweitzer “No ray of sunshine is ever lost… But the green which it awakens takes time to sprout and it’s not always granted to the sower to see the harvest.”  Câu này lọt vào đoạn kết cuộc phỏng vấn của diễn đàn điện tử Talawas do Phạm Thị Hoài thực hiện, cách đây mấy năm: “Không một tia nắng nào có thể mất đi…  Cái mầm xanh mà nó đánh thức dậy cần có thì giờ để đâm chồi kết lá; tuy nhiên, không phải người gieo hạt nào cũng nhất thiết được thấy mùa gặt tận mắt.” (Phụ lục III, Mây Chó, 2004)

Mầm xanh búp ấu thì thiếu thời của Anh đã đâm chồi kết lá, đơm hoa kết trái.  Anh cũng được hạnh phúc thấy tận mắt và tận hưởng mùa gặt.  Thấy tận mắt sinh lão bệnh, thấu hiểu hưởng tận khổ tập diệt, và Anh đã tìm thấy đường để về,  đã tới.  Tôi ở lại, nhớ lời Anh thực tại thì luôn luôn chuyển động, luôn luôn biến hóa.  Thực tại là thường trong cõi vô thường.

Trong cõi vô thường này, mọi chuyện đều thường cả, và tôi còn theo Anh trên đường về để cố tới, nối bước chân người.

Trần thị LaiHồng

Hoa Bang, vẫn còn Mùa Vu Lan

Tháng 9, 2009

Chú thích:

(1)  Thầy Trò, Trần thị LaiHồng, Việt Báo 23- 06-09, và trên mạng lưới :

Litviet.com/2009/06/20/trần-thị-laihồng-thầytrò/  http://litviet.wordpress.com/tag/vo-dinh/

(2)  Võ Đình, Hội Họa: Một Ngôn ngữ của Thân Tâm, Sao Có Tiếng Sóng, Văn Nghệ xuất bản, 1991

(3 )  Nguyên tên họ của Anh hồi đó là Ngô Đình Thiếu Dũng, cho tới khi đi Pháp năm 1950 vẫn còn giữ.  Tên Mai do Thầy Mẹ chọn để nhớ gốc Mai vàng cổ thụ trước sân nhà:  Hoàng Mai.  Người anh lớn là Hoàng.

Năm 1959 cả gia đình mới lấy lại họ nguyên thủy Võ Đình, và từ đó Anh vẽ và viết ký Võ Đình.  Tên trong sổ thông hành là Mai Võ Đình.

http://litviet.wordpress.com/tag/vodinh/

(4)  Nói Chuyện Với Làng Văn, Đào Huy Đán thực hiện, Làng Văn, X-1988

(5 )  Les Feuilles Mortes, Juliette Gréco, danh ca kiêm tài tử điện ảnh kịch nghệ Pháp, nổi danh từ thập niên 50 thế kỷ XX,  đặc biệt với những bài thơ phổ nhạc riêng cho nàng.  Thường trình diễn tại Café de Flore góc đại lộ Saint-Germain, bên kia đường có tượng Nữ thần Flore.  Tiệm café này là nơi đôi danh tài Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir hàng ngày trụ từ sáng đến tối, ăn uống, viết lách.  Đây cũng là nơi quy tụ những tên tuổi văn học nghệ thuật  thế giới, từ Appolinaire đến Camus, Ertnest Hemingway, Francois Sagan …Alain Delon,  Jean Fonda, Brigitte Bardot, Catherine Deneuve, Yves Saint Laurent, Givenchy, …Modigliani, Picasso … vô số kể.

http://vi.wikipedia.org/

(6) Đọc Đã Về…Đã Tới http://www.gio-o.com/TranThiLaiHongDaVeVoDinh1.htm

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.