Cụ Mạc Vân Trang ‘thấu cảm “chuyện cây tre ngày xưa và cột điện ngày nay

Mạc Vân Trang

BIỂU TƯỢNG TRUYỀN THỐNG và HIỆN ĐẠI CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT

Tôi sinh ra và lớn lên ở làng quê bên sông Thái Bình. Từ thuở lọt lòng đã gắn bó với cây tre. Chung quanh nhà toàn tre. Cả làng rợp bóng tre. Tất cả mọi thứ trong nhà, trừ mấy thứ nồi đồng cối đá, tất cả toàn là tre và gỗ. Nhớ hồi nhỏ, có ai khen lũ anh chị em chúng tôi lớn “lộc ngộc”, mẹ tôi lại khiêm nhường bảo, nhà đông con như tre ấm bụi ấy mà! Lớn lên đọc bài “Cây tre Việt Nam” của Thép mới sao mà thích mà mê… Lúc già đọc bài thơ “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy, sao mà thương mà nhớ…

“Tre xanh

Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu …

Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con …

Năm qua đi, tháng qua đi

Tre già măng mọc có gì lạ đâu”…

Cây tre Việt Nam đúng là biểu tượng cho người nông dân Việt truyền thống. Thời bình sống lặng lẽ, gầy guộc, lam lũ, âm thầm đóng góp cho cuộc sống từ cái tăm, cái quạt, thúng, mủng, nong nia, giần sàng, rổ, rá, cái giậm, cái đó, cái nơm, cái giỏ, sợi dây thừng, cái đòn gánh, đôi quang đến đóng cối xay, đan thuyền, làm nhà, bắc cầu tre lắc lẻo… mà thân phận vẫn tầm thường, chẳng mấy ai nể trọng. Khi có giặc thì tre giăng thành lũy giữ làng, rồi làm gậy tầm vông, làm cán dáo, cán mác, cung tên, mũi chông sắc nhọn chống giặc; làm đòn gánh, đòn khiêng, gùi hàng tiếp tế cho bộ đội…

Còn truyền thuyết Thánh Gióng thì thật hào hùng: Ngài cứ túm từng bụi tre mà quật vào đám giặc cho đến lúc chúng tan tác mới thôi… Tượng Thánh Gióng, lúc bay về Trời vẫn cầm theo một thân tre…

Thời hiện đại, cây tre bị coi rẻ, lãng quên nhanh quá! Quê tôi bây giờ chỉ còn một vài khóm tre sống lạc lõng, khuất lấp ở ven sông. Đúng như câu thơ của một tác giả nào đó: “Cả làng tôi là một cục bê tông”!

Sự phát triển thật quý hóa. Nhưng phát triển tự phát, kém tâm thức văn hóa và không ai bảo được ai đã xóa hầu như hết sạch các dấu tích của ngôi làng xưa, đã tồn tại hàng ngàn năm!

Mỗi lần về quê tôi lại ngẩn ngơ tìm xem biểu tượng mới của người dân Việt ngày nay là gì. Bất chợt tôi “ngộ” ra: Đó là những chiếc Cột điện dân dụng. Những chiếc cột điện có mặt khắp các hang cùng ngõ hẻm. Nó hiền lành, lặng lẽ âm thầm, làm những công việc tối cần thiết cho xã hội, nhưng người đời coi nó chẳng ra gì. Mọi ngành, mọi cấp, mọi cơ quan đoàn thể ai cũng có thể quàng lên nó đủ thứ người ta nghĩ ra; những hậu quả của quá khứ vẫn chằng chịt bám lấy nó; những thứ rác rưởi của xã hội hiện tại cũng quàng vào cổ nó, xả đầy quanh nó… Tất cả nó cứ oằn mình mà chịu. Nhẫn nhục, âm thầm, cam chịu cho đến khi gẫy gục, người ta mới buông tha!…

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 cả nước tưng bừng reo vui ngày thống nhất non sông, thì sau đó “bên thắng cuộc” tiến hành công cuộc cải tạo “bên thua cuộc” khiến bao người phải trốn chạy, bất chấp cả cái chết. Lúc đó tôi vẫn chưa hiểu vì sao người ta cay nghiệt tới mức nói: “Cái cột đèn nếu biết đi cũng bỏ nước ra đi..”! Giờ mới càng thấu hiểu… Một người dân thường phải nộp hơn 300 loại phí và lệ phí do nhà nước quy định*. Ngoài ra còn các khoản thu do “lệ” của làng, của xã, của phường, của tổ**… không biết đâu mà kể. Vậy mà người dân cứ phải è cổ chịu đựng. Không đóng không xong với chính quyền.

Chiếc cột điện đúng là biểu tượng rõ nhất cho người dân nghèo Việt Nam ngày nay. Nhếch nhác, lam lũ, oằn lưng chịu đựng hàng trăm thứ quàng vào cổ, bất công, vô lý mà không thể kêu ca, không thể tự mình thoát ra, không thể chạy trốn… Và với thân phận thấp kém của mình, những chiếc cột điện kia cũng như người dân nghèo đừng hòng bén mảng đến những khu phố hiện đại, những khu biệt thự sang trọng, những khu resort, sân golf hay các công thự nguy nga, tráng lệ. Đó là những nơi không dành cho chúng. Chúng gắn chặt vào những khu dân cư nhếch nhác, ngõ ngách ổ chuột, xóm nghèo…

Vâng, những chiếc cột điện cứ ám ảnh tôi liên tưởng đến thân phận của những người dân nghèo hiện đại.Đến bao giờ những chiếc cột điện như thế không còn nữa, hy vọng thân phận người dân quê tôi cũng có đổi thay.

30 – 8- 2014

Mạc Vân Trang

Chú thích

(Ảnh lấy từ Google) *TBKTSG – Chủ Nhật, 20/4/2014: …“340 khoản phí, lệ phí được các bộ, ngành, địa phương ban hành trong năm năm (2002-2007) đã bị bãi bỏ. Vậy mà hệ thống phí và lệ phí nước ta hiện vẫn còn 301 loại phí và lệ phí theo quy định được phép thu”… (Lan Nhi)

** Dân Việt online 14/7/2014: …“Nhiều khoản thu được công khai dán lên tường hội quán thôn như xây dựng cơ bản mỗi khẩu 150.000 đồng, Quỹ An ninh quốc phòng 40.000 đồng/hộ, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa 15.000 đồng/lao động, Quỹ Chăm sóc bảo vệ bà mẹ trẻ em 5.500 đồng/lao động, Quỹ Thiên tai 5.500 đồng/lao động, Quỹ Khuyến học 5.500 đồng/khẩu, Quỹ Tiêm phòng ngoài thu 25.000 đồng/con đối với trâu bò, 10.000 đồng/con lợn xã còn thu 17.000 đồng/hộ và Quỹ Hỗ trợ phụ cấp cán bộ đoàn thể xã, xóm ngoài thu đầu khẩu 15.000 đồng/sào còn thu 15.000 đồng/khẩu”…(Về tình trạng lạm thu phí ở Hà Tĩnh).

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.