Tưởng nhớ anh hùng liệt sĩ Hoàng Sa 19/1/1974

NGƯỜI ANH HÙNG HỌ NGỤY

Trần Mạnh Hảo

Ngụy Văn Thà xuất thân khoá 12 Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Hạm Phó Tuần Dương Hạm Ngô Quyền HQ17, trước khi thuyên chuyển qua làm Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, để rồi hy sinh trong trận hải chiến. Thân xác ông, vị Hạm Trưởng đã chìm theo chiến hạm ngoài khơi Hoàng Sa.
Mai sau tên ông sẽ còn được biết đến mãi để nhắc nhở mọi người “Hoàng Sa muôn đời phải là cuả Việt Nam”

Người yêu nước không thể nào là ngụy
Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy

Nhưng anh:
Là Ngụy Văn Thà (*)

Anh – hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa

Biển vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời

Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh hóa thành Tổ Quốc giữa trùng khơi

Gió mùa đông bắc gào khóc
Ngụy Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo

Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa
Trận chiến ba mươi phút
Tượng đài anh là phong ba

Đỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu
Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ

Linh hồn anh hú gọi đất liền
Ngụy Văn Thà
Tên anh không phải bài ca

Tên anh là lời thề độc :
– Phải giành lại Hoàng Sa
Sóng vẫn vồ lấy đảo…

Sài Gòn 15-9-2009

Trần Mạnh Hảo


_____________
(*) Ghi chú: Theo báo Tuổi Trẻ ra ngày 14-9-2009: Liệt sĩ Thiếu tá Ngụy Văn Thà hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 của hải quân Việt Nam Cộng Hòa và đồng đội đã anh dũng hi sinh bảo vệ đảo Hoàng Sa (cùng các chiến hạm khác: HQ-4,HQ-5,HQ-16) trong trận hải chiến đẫm máu với tàu Trung Quốc xâm lược ngày 19-01-1974.

Kha Tiệm Ly

HẬN HOÀNG SA

Bốn bốn năm mà như hằng thế kỉ
Hoàng Sa quặn mình bao vết chém đau
Mắt tổ quốc chưa bao giờ ráo lệ
Quàng khăn tang nên sóng hóa bạc đầu

Máu hùng anh nhuộm lòng biển đỏ
Càng đớn đau càng sục chí kiên cường
Quân thù hỡi! Bạch Đằng Giang rực lửa
Mi chờ đi, ngày nhặt xác sa trường!

Trăm triệu anh em cùng chung hòn máu
Như Hoàng Liên cao mãi chí ngang tàng
Năm tháng xót thương người em hải đảo
Cuồn cuộn căm hờn sông nước Cửu Long Giang

Muôn lạch suối chung lòng về biển cả
Ngàn núi non luôn bền chí phục thù
Người bé lớn giáo mài, gươm tuốt vỏ
Thề một lòng cùng trả hận thiên thu

*
Vỗ kiếm, giận đời chưa thỏa chí
Đối diện quân thù một trận đá tro bay
Ôm nhục nước nén vào tim chánh khí
Rượu ba miền không đủ một ta say!

Kha Tiệm Ly

TƯỞNG NIỆM 47 NĂM HẢI CHIẾN HOÀNG SA (19.01.1974 – 19.01.2021)

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.

Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?

Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ

Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

(Tô Thùy Yên)

Nguyễn Xuân Diện

17 hrs  · VĂN TẾ 74 TỬ SĨ TRONG TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA NGÀY 17 – 19.01.1974

Tác giả: Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Image may contain: 2 people, plant and outdoor

Hỡi ơi!Nhẹ tựa lông hồng,

Nặng tày non Thái.

Những cái chết đã đi vào quốc sử, con cháu nghe mà xót dạ bàng hoàng,

Bao con người vì gánh vác giang sơn, cây cỏ thấy cũng chạnh lòng tê tái.

Anh linh kia hoài phảng phất thiên phương,

Chính khí đó sẽ trường tồn vạn tải.

Mới hay,

Giòng giống Việt luôn còn nòi nghĩa dũng, thịt tan xương nát sá chi,

Trời đất Nam đâu thiếu bậc anh hùng, máu đổ thây rơi nào ngại.

Kính các anh vị quốc thân vong

Bày một lễ thâm tình cung bái.

Nhớ các anh xưa,

Tuổi trẻ thanh xuân,

Khí hùng chí đại.

Thời binh hỏa đâu màng gì nhung gấm, chọn tri âm tri kỷ chốn sa trường,

Thuở can qua há tiếc chút bình an, nguyền báo quốc báo dân nơi hiểm ải.

Một tấc đất vẫn là cương thổ, ông cha xưa bao đời gầy dựng, sao cam lòng để vuột mất đi.

Dăm hòn đảo ấy vốn bản hương, anh em nay mấy độ canh cày, quyết tận sức ra gìn giữ mãi.

Từ Chúa Nguyễn sách văn[1] chép rõ, nhân dân Nam từng khai thác làm ăn,

Đến Pháp Thanh công ước[2] còn ghi, chủ quyền Việt chẳng luận bàn tranh cãi.

San Francisco hội nghị[3], mừng biết bao, thấy thế giới đồng lòng,

Việt Nam Quốc gia chính quyền[4], vui xiết kể, đón sơn hà trở lại.

Thế nên,

Đất cát ông cha thì phải giữ, dẫu mũi tên hòn đạn không sờn,

Núi sông tiên tổ sao chẳng gìn, mặc ăn gió nằm mưa chi nại.

Trùng dương sóng dữ, mập mờ thuyền viễn thú, thân trai há sợ kiếp gian nan,

Hải đảo gió cuồng, vời vợi biển quê hương, vai lính thêm bền lòng hăng hái.

Hội khao lề lại trống chiêng bi tráng, tiễn người đi mờ bóng cuối chân trời,

Nơi quê nhà đành con vợ u buồn, thương kẻ đợi trông buồm về trước bãi.

Có ngờ đâu,

Giặc ác hiểm quen tuồng xâm lược, máu tham tàn không giấu kín ý gian,

Ta hiền lương chuộng đạo hiếu hòa, tình hữu nghị có đâu ngoài lẽ phải.

Địch thả câu nước đục, hai ba lần chiếm đảo[5], xây đồn đắp lũy đó đây,

Chúng luồn gió bẻ măng, bốn năm dạo lên bờ, dựng trại cắm cờ lải rải.

Ngày 16 Quang Hòa, Hữu Nhật[6],… giặc đã nuốt tươi,

Đến 17 Duy Mộng, Quang Ảnh6,.. chúng đang xơi tái.

Lửa hờn bốc tận thanh vân.

Khí uất tràn đầy thương hải.

Ghìm máu nóng, thông tin bằng quang hiệu, giặc cứ ngang tàng,

Hạ quyết tâm, biệt hải tiến vào bờ, ta ôm thất bại.

Không nản chí, Thường Kiệt, Nhật Tảo băng băng pháo đạn xông pha,

Chẳng dùi lòng Bình Trọng, Khánh Dư[7] né né tiễn lôi lèo lái.

Vẳng đôi tai còn nghe khúc “Thuật Hoài”[8]

Bừng con mắt đà thấy câu “Trung Ngãi”[9]

Thế nhưng,

Lực bất tòng tâm,

Thiên dung vô lại[10].

Giặc đã nhiều chuẩn bị, nào tảo lôi, nào liệp đỉnh, tàu nhiều quân bộn giàn hàng,

Ta mất thế thượng phong, này sóng dữ, này đá ngầm, biển rộng đường xa phải trải.

Phía chếch đông tàu Mỹ đứng mà nhìn,

Phương chính bắc hạm Tàu nằm sắp phái.

Dù như thế ta vẫn quyết thư hùng

Có ra sao mình cứ liều sống mái.

Đùng đoành trọng pháo nổ thấp cao,

Sàn sạt hỏa tiễn bay trái phải,

Ngụy Văn Thà[11] trúng thương trước ngực, máu anh hùng đẫm ướt chiến y,

Lý Thường Kiệt[12] lãnh đạn ngang hông, nước đại hải ngập đầy buồng máy.

Khói mù tàu giặc cháy bốc lên,

Pháo nổ thuyền mình câu vọng lại.

Thương ơi!

Thế lực không cân

Thời cơ cũng trái.

Bảy tư người bỏ mình vì nước, biển sâu ký gởi thân phàm,

Cả bốn tàu trúng pháo quân thù,

bờ cạn lui về gác mái.

Cờ quốc gia phủ người ra trận, toàn quân dân uất ức trẻ như già

Vành khăn tang chít tóc đang xanh,

bao thân quyến nghẹn ngào trai lẫn gái.

Công các anh,

Tổ quốc thề không quên,

Toàn dân nguyền nhớ mãi.

Chống ngoại xâm là truyền thống muôn đời

Giữ lãnh thổ vốn luân thường vạn đại.

Máu tử sĩ sẽ nuôi khôn dân tộc,

mau kiên trì giành lại giang sơn,

Xương anh linh rồi nung chín hùng tâm,

sớm quyết liệt san bằng oan trái.

Nước cường thịnh khi dân biết kết đoàn,

Dân phú túc lúc người luôn thân ái.

Hôm nay.

Sơ sài lời điếu câu văn,

Đạm bạc chùm hoa dĩa trái.

Xót uy linh, xin tượng tạc bia xây,

Tỏ thâm tạ, khiến dân quì quan vái.

Mong các anh siêu độ tái sinh,

Cầu đất nước dân an quốc thái.

Hỡi ơi!

Xót xa tiếng mất ý còn,

Tha thiết lòng phơi ruột trải.

Hồn có linh thiêng

Niệm tình thụ bái.

Huế, ngày 18.01.2014

Nguyễn Phúc Vĩnh Ba______________

Chú thích:.

[1] Đầu TK 17, Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm.Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

[2] Ngày 9 tháng 6 năm 1885: Hòa ước Thiên Tân kết thúc chiến tranh Pháp Thanh. Ngày 26 tháng 6 năm 1887: Pháp và nhà Thanh xúc tiến ấn định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa.

[3] Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị.

[4] Năm 1954 – Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu) quản lý.

[5] Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Geneva và trong khi chính quyền miền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa theo như thỏa thuận của hiệp định này, Trung Quốc đã thừa cơ đưa quân ra chiếm đóng bất hợp pháp nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa bao gồm Phú Lâm và Linh Côn. (Trần Công Trục)

[6] Tên các hòn đảo bị Trung Quốc xâm chiếm.

[7] Tên bốn chiến hạm tham gia trận hải chiến Hoàng Sa: HQ4 (Trần Khánh Dư), HQ5 (Trần Bình Trọng), HQ10 (Nhật Tảo), và HQ16 (Lý Thường Kiệt).

[8] Tên bài thơ của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần được Hạm trưởng HQ4 Trung tá Vũ Hữu San đọc để cổ võ tinh thần binh sĩ trước giờ khai hỏa.

[9] Tức là Trung Nghĩa, bổn phận của người lính.

[10] Trời dung tha phường vô lại.

[11] Thiếu tá Ngụy Văn Thà là hạm trưởng HQ10 Nhật Tảo.

[12] Lý Thường Kiệt là tàu HQ16.

Nguồn: Ba Sàm

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.