“những mảnh đời sau song sắt”(9 và 10)-Hồi ký tù tội của Phạm Thanh Nghiên

Phạm Thanh Nghiên

NHỮNG MẢNH ĐỜI SAU SONG SẮT (KỲ 9 và 10)

Hồi ký của Phạm Thanh Nghiên

04 —

Mẹ Tôi, Những Ngày Mẹ Sống 

và Những Ngày Mẹ Mất

— Viết sau lễ giỗ 49 ngày của mẹ

Hôm nay cõng Mẹ đi chơi

Một mai ngồi khóc bên trời

Hôm nay cõng Mẹ đi chơi

Một mai Mẹ bỏ con rồi

Mẹ để con mồ côi

mồ côi… “

Mẹ tôi sinh năm 1937, theo trí nhớ “mang máng” của các ông bác họ ở quê. “Nhớ mang máng” thôi vì bà ngoại tôi mất khi mẹ chưa đầy hai tuổi. Năm mẹ bốn tuổi thì ông ngoại qua đời. Mẹ bắt đầu cuộc đời mồ côi, đi ở đợ, làm con nuôi cho người từ đó. Và cũng thất lạc với hai người anh trai và người chị gái đến khi trưởng thành mới gặp lại. Mẹ nghiện thuốc lào từ năm 12 tuổi.

Bà bắt đầu bị rụng răng khi mới ngoài ba mươi — lúc chưa sinh tôi. Ngoài sáu mươi, chiếc răng cuối cùng từ biệt mẹ, giải thoát bà khỏi những khó chịu, nhức nhối. 

Có cả một câu chuyện thương lắm, quanh việc mẹ nghiện thuốc lào. Ngoài việc đồng áng, việc nhà như nấu cơm, trông em cho nhà chủ, nhiều đêm, mẹ tôi cùng bà cô họ xa, quẩy đôi quang gánh, cuốc bộ ngót hai chục cây số từ trong quê ra thành phố mót phân về bón ruộng. Những đêm đông, tấm áo không thể chống chọi cái lạnh thấu xương của miền Bắc. Bà cô họ nghĩ ra cách chống rét: Rít thuốc lào cho ấm người. Thế là hằng đêm, hành trang của hai cô cháu khi đi gánh phân có thêm cái điếu cày. Hút mãi thành quen. Từ đó, mẹ tôi nghiện thuốc lào.

Tôi rất sợ hơi thuốc lá, nhưng lại quen thuộc với khói thuốc lào. Mẹ tôi lo con cái xấu hổ — mà anh em chúng tôi có xấu hổ về việc đó đâu — nên không bao giờ bà hút thuốc khi nhà có khách. Năm 61 tuổi, mẹ tôi tuyên bố bỏ thuốc. Cả nhà nói nếu mẹ muốn thì cứ hút. Bà bảo: “Con cháu đầy đàn, hút người ta cười cho.” Và bà bỏ thật, không phải đem điếu đi chôn, không phải ngậm kẹo, cũng không bao giờ hút lại, dù chỉ một lần.

Cuộc đời gian truân của mẹ tôi, cũng như của bao bà mẹ khốn khó thuở ấy, không chỉ mấy trang viết kể hết được. Nhưng có những khoảnh khắc mẹ tôi trải qua không là trải nghiệm của nhiều bà mẹ khác.

Một chiều thu tháng 9/2008, tôi dắt chiếc xe đạp vào nhà. Dù cố gắng giấu diếm, nhưng sự nhạy bén của người mẹ vẫn nhận ra nét đau đớn trên gương mặt con với chiếc kính cận bị cong vênh, méo mó. Đấy là lần đầu tôi bị hành hung giữa đường sau khi dám… cả gan viết đơn khởi kiện UBND/TP.Hà Nội vì không cho phép biểu tình trái pháp luật và Đơn Khiếu Nại v/v Không Thụ Lý Đơn Khởi Kiện Trái Pháp Luật. 

Lúc ấy, việc làm này của tôi là “chưa từng có trong lịch sử từ sau năm 1975” như lời công an Hải Phòng nói khi họ gây sức ép với luật sư Lê Trần Luật để anh từ bỏ việc giúp đỡ pháp lý cho tôi. Bà từng hai lần chứng kiến hàng chục công an đến khám nhà, thu giữ tài sản chỉ trong một tuần lễ. Còn gì kinh khủng hơn khi chứng kiến con mình nằm trên giường bệnh, xung quanh là hơn chục công an đứng chờ bác sĩ truyền xong chai nước để đưa bằng được con gái bà đi thẩm vấn, trong khi hàng chục tên khác đứng ngoài cổng trực chiến?

Ngày 18 tháng 9 năm 2008, tôi bị bắt.

Họ còng tay tôi. Tôi cúi xuống hôn mẹ. Một cái hôn vội vã — lẽ ra tôi không nên vội vã thế. Bà ngồi yên trên chiếc ghế hàng ngày bà vẫn ngồi. Hời hợt đáp lại nụ hôn của tôi. Bà quan tâm đến những kẻ bắt con gái bà hơn.

– Như vậy là các anh đã bắt con tôi về tội yêu nước!

Câu nói đó đã khích lệ tôi suốt 4 năm tù. Phải nhiều ngày sau tôi mới lý giải được vì sao mẹ không đứng dậy tiễn tôi. Không phải bà không muốn. Mà khi đó, mẹ tôi không còn đủ sức đứng dậy. Sức lực còn lại bà đã dồn cả vào câu nói cuối cùng để vừa kết tội những kẻ bắt con bà, vừa truyền một sức mạnh sang cho tôi.

Sau bốn năm tôi trở về với thể trạng ốm yếu. 

Ý nguyện sẽ chăm sóc và phụng dưỡng mẹ già nung nấu từ hồi trong tù trên thực tế hoàn toàn bị… đảo ngược. Nhiều khi tôi phải giận dỗi, mới giành được phần nấu cơm, rửa bát. Bốn năm ấy, đôi khi chỉ với một ý nghĩ thoáng qua — chỉ dám thoáng nghĩ thôi — rằng mẹ sẽ ốm, sẽ gặp chuyện chẳng lành đủ khiến cơn sợ hãi, hoảng loạn ám ảnh tâm trí. Tôi không đủ can đảm để đối mặt nếu chuyện đó xảy ra. Tôi không dám nghĩ tiếp.

Trong ngôi nhà thân yêu của mình, tôi bị công việc cuốn đi. Tình yêu, sự nhiệt thành của mẹ mang lại sự bình an kỳ diệu. Dần dần, mọi cơn sợ hãi không còn hiện diện trong đầu óc tôi nữa. Tôi, rất hồn nhiên nghĩ mẹ sẽ luôn đồng hành với mình và sẽ chẳng bao giờ đi đâu hết.

Mồng chín Tết, tôi bệnh. Đó là lần ốm nặng nhất, dai dẳng nhất từ ngày trở về. Mẹ chăm sóc tôi, bằng sức lực như chưa bao giờ vơi cạn. Sau những đêm thức trắng, giọng cười mẹ vẫn hồn hậu, ánh mắt vẫn ấm áp…Hạnh phúc quá, tôi tận hưởng tình yêu và hơi ấm của mẹ. Tôi quên rằng mẹ đã già yếu. Mười bẩy ngày sau tôi bình phục. Có lẽ chỉ chờ thế thôi, hôm sau mẹ tôi đi. 

Mẹ đi thật. Lẳng lặng bỏ chúng tôi đi thật. 

Đi mà không lời giã biệt.

Cả một trời tan vỡ. Cả một trời đau đớn, mẹ ơi!

Tôi, cho đến ngày hôm nay vẫn không hiểu hết tấm lòng của mẹ.

… Cuối đời là một trò chơi lên trời”

Vì mẹ là mẹ của một đứa con mang TỘI YÊU NƯỚC nên cuộc từ bỏ Cõi Tạm để đến Cõi Trời thênh thang, mẹ vẫn phải qua một hành trình đầy gian khó. 

Người ta không muốn mẹ ra đi thanh thản.

Mẹ đột ngột ra đi, người đến đầu tiên là những tên mật vụ. Sự xuất hiện của họ báo trước những nguy cơ. 

Hôm ấy là ngày 27 tháng Giêng năm Giáp Ngọ, tức ngày 26 tháng 2 năm 2014.

Đầu tiên, người ta tự tiện thiết lập cái gọi là Ban Tổ Chức Lễ Tang với thành phần gồm bà chủ tịch Hội Phụ Nữ, một số cán bộ của ủy ban phường đến ông tổ trưởng tổ dân phố. Tức là một danh sách hoàn toàn “đỏ” và không một ai là thân quyến của người quá cố. Tôi rất lịch sự cảm ơn và khước từ “sự giúp đỡ” ấy nhưng ông tổ trưởng nhiệt tình đến kinh ngạc. Dù chị em tôi nhẫn nại giải thích khi còn sống, mẹ đã dặn: ”Nếu sau này mẹ mất, việc tang lễ cho mẹ phải do gia đình, họ hàng thân thuộc đứng ra lo liệu và nhất là tuyệt đối không được dính dáng gì tới hai chữ “chính quyền.” Nhưng ông vẫn ra sức đôi co. Mặt ông đỏ gay, nước bọt từ miệng ông bắn cả vào mặt tôi. Giọng nói và thái độ áp đảo mấy đứa con của người quá cố. Giành giật mãi, cuối cùng quyết định không có Ban Tổ Chức Lễ Tang. Đồng nghĩa với việc tổ dân phố, thực chất là chính quyền địa phương bị mất quyền…cầm micro, giới thiệu thành phần khách khứa tới thăm viếng. Cũng là hình thức kiểm soát, hạn chế và tự quyền loại bỏ những ai được liệt vào diện “nhạy cảm” trong số người phúng viếng như từng diễn ra tại tang lễ của một số nhân vật đấu tranh cho Dân Chủ trong quá khứ. Người sẽ đọc lời giới thiệu việc phúng viếng do bên dịch vụ — Công Ty Phục Vụ Tang Lễ Thiên Thảo — đã hợp đồng với gia đình trước đó, đảm nhận.

Không chỉ là sự tang thương, đau buồn mà cả một không khí lo âu, căng thẳng bủa vây chúng tôi. Thay vì toàn ý lo cho mẹ, tưởng nhớ và đau nỗi đau mất mẹ, anh em chúng tôi phải dốc sức đối phó với thế lực có quyền.

Thất bại trong việc dựng lên Ban Lễ Tang, người ta cố giành giật quyền được soạn thảo và đọc điếu văn trong lễ truy điệu — ngày 29 tháng Giêng. Những kẻ nhân danh cán bộ ủy ban phường, hội phụ nữ, ủy ban mặt trận tổ quốc… và cả một số lạ mặt liên tục tiếp cận anh trai tôi để thuyết phục và gây sức ép. Không ít lần đang lúc túc trực bên linh cữu mẹ để đáp lễ khách phúng viếng, anh trai tôi bất đắc dĩ phải bỏ vị trí đi ra ngoài. 

Thậm chí, một cán bộ hội phụ nữ còn giúi vào tay anh chiếc điện thoại đã sẵn người chờ. Anh tôi vội vã đi vào phòng tắm, đóng cửa nghe điện thoại. Chị phụ nữ đứng ngoài canh. Tôi đi theo, không giấu ý muốn kiểm soát. Tôi ghé tai vào cửa để nghe — nghe lén người khác nói chuyện là việc xấu, lần này tôi cho phép mình làm thế. Chị ta phân bua, cố ý nói thật to để tôi không nghe thấy nhưng tôi vẫn hiểu phần nào nội dung cuộc nói chuyện điện thoại của anh trai với kẻ bên kia đầu dây. Chị ta mắng tôi là “quá đáng!

Anh trai tôi muốn — bắt buộc thì đúng hơn — dành cho họ quyền được đọc điếu văn trong lễ truy điệu. 

Không! Tôi đã từng tham dự nhiều đám tang, gần nhất là của ông anh họ. Anh không phải đảng viên, chẳng có chức quyền gì. Anh cũng chỉ ốm hai ngày rồi qua đời. Thế mà trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu, người ta ngang nhiên tuyên bố: ”…Mặc dù đã được đảng ủy, chính quyền địa phương và gia đình tận tình cứu chữa nhưng vì bệnh nặng, anh không qua khỏi và đã từ trần hồi…” Không biết bao nhiêu người dù đã nằm trong quan tài, bất đắc dĩ chịu “ơn đảng” như thế. Với mẹ tôi, không chừng ngoài việc “ơn đảng” còn phải nghe đảng kết tội đã sinh ra đứa con ngỗ ngược, dám chống chính quyền. Người chết làm sao có thể bật nắp quan tài dậy thanh minh. Tôi không cho phép họ có cơ hội mạ lỵ linh hồn mẹ tôi, hạ gục ý chí của tôi.

Theo hợp đồng, Công Ty Phục Vụ Tang Lễ Thiên Thảo chỉ gửi 5 nhân viên đến phục vụ nhưng có lúc lực lượng này vượt quá con số năm gấp mấy lần. Không khó để nhận ra họ là ai dù cũng mặc đồng phục Thiên Thảo. Thái độ hung hăng, bặm trợn, ánh mắt thiếu thiện cảm, nhiều khi lấm lét. Điều họ làm không liên quan tới tang lễ. Khi họ áp sát bàn đăng ký lễ viếng, tự tiện mở sổ tang ra xem, khi họ đi lại trong nhà như chỗ không người, không ngại ngần theo sát tôi mỗi lần nói chuyện điện thoại…Và nhiều việc khác tôi không thể bao quát hết mà blogger JB Nguyễn Hữu Vinh, thuộc phái đoàn anh em Dân Chủ Hà Nội tới viếng, đã tường thuật: 

Điều chứng kiến được ở đám tang này, là sự “chăm sóc” kỹ càng của một lực lượng chủ tang không mời, chẳng trả tiền cũng không cho ăn cơm. Họ đứng nhan nhản khắp nơi, rình rập, quay trộm, nghe lén… đủ trò. Thậm chí là bắt cóc người đến viếng về phường để thị uy rồi chở ngược lên bỏ ở Hải Dương, tấn công người đến dự đám tang, công an các loại canh gác các ngả… Nhưng trò bẩn nhất là giật băng tang trên các vòng hoa viếng người quá cố.”

Cụ thể, các băng tang trên các vòng hoa mà Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh đề cập là vòng hoa của: Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi, Hội Bầu Bí Tương Thân, Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam, Hội Anh Em Dân Chủ, Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam, Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ đã bị cướp ngay đầu ngõ trong sự sợ hãi, ngỡ ngàng của cô nhân viên bưu điện. Thậm chí, vòng hoa của Công Ty Én Vàng Quốc Tế — hãng tắc-xi — nơi anh rể tôi làm việc cũng bị giật. Không hiểu sao, chúng sợ chữ Quốc Tế đến thế. 

Tất cả được thay bằng dải băng gắn xộc xệch, vỏn vẹn chữ “Kính viếng” hoặc “Thành kính phân ưu” đã được công an chuẩn bị sẵn. Người bị bắt cóc,”đem ra phường để thị uy rồi chở ngược lên bỏ ở Hải Dương” là facebooker Peter Vũ. Rất dũng cảm, Vũ tiếp tục bắt xe từ Hải Dương, vượt hơn năm chục cây số lộn về Hải Phòng để đưa tiễn mẹ tôi. Vũ đã bị lũ công an mật vụ trả thù bằng một trận đòn theo tường thuật của những người chứng kiến thì “rất đau.” Chúng đánh Vũ ngay tại cổng nghĩa trang Ninh Hải, nơi mẹ tôi vừa được hỏa táng.

Các anh em Dân Chủ Hà Nội là “tâm điểm” chú ý của lũ mật vụ. Họ đại diện cho một số hội nhóm, một số anh chị em ở xa không thể tới dự tang lễ. Đó là các Blogger Nguyễn Tường Thụy, JB Nguyễn Hữu Vinh, Gió Lang Thang, Binh Nhì, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, cô Nguyễn Thị Huấn, vợ chồng luật sư Lê Thị Công Nhân, bác Lê Hùng, chú Nguyễn Anh Dũng, các anh Trương Văn Dũng, Nguyễn Thiện Nhân, Lô Đề Việt Nam, Nguyễn Việt Hưng, chị Lan Lê, Thảo Theresa. Các bạn trẻ Ngủ Chưa Say, Peter Vũ, Bạch Hồng Quyền và một số người khác. Những người này hầu hết đã nhận được lời “khuyến cáo” của công an Hà Nội: “Không nên đi đám tang mẹ Phạm Thanh Nghiên.”

Chiếc ô tô chở họ vừa dừng bánh, lập tức lũ côn đồ, mật vụ bu kín. Quá sợ hãi, người lái xe phải bỏ chạy. 

Gần đến giờ đưa tang. Nhân viên Công Ty Phục Vụ Tang Lễ, theo yêu cầu của tôi, đọc điếu văn. Xong phần điếu văn, chú họ tôi thay mặt gia quyến lên nói lời cảm ơn. Chú đã được chúng tôi dặn kỹ từ trước, không được cảm ơn chính quyền địa phương hay đảng bộ gì hết. Vì họ không những không giúp gì, ngược lại đã phá đám tang lễ mẹ tôi. Họ đã phá vỡ sự bình yên của mẹ tôi khi bà còn sống cũng như lúc qua đời. Quan trọng hơn, họ là cộng sản, thủ phạm của mọi nỗi đau thương dân tộc. Ngay ngày hôm đó, chú tôi bị mật vụ hỏi thăm.

Trong suốt hai ngày diễn ra tang lễ, ngoài nỗi đau mất mẹ, anh em chúng tôi phải gồng mình chống đỡ. Tưởng loại được thành phần Ban Tổ Chức Tang Lễ toàn là đảng viên cộng sản, giành được phần đọc điếu văn, lời cảm ơn không nhắc tới chính quyền đã là công việc cuối cùng. Nhưng không, đúng lúc đang chuẩn bị khiêng linh cữu mẹ đi, chúng ngang nhiên tiến vào, ngang nhiên cầm micro và giới thiệu dõng dạc: “Sau đây là phần truy điệu của Hội Người Cao Tuổi phường Đông Hải 1.”

Chúng tôi ngỡ ngàng.

Cái gọi là “Hội Người Cao Tuổi” gồm khoảng gần hai mươi người. Trong đó, đếm trên đầu ngón tay chưa tới 5 người thực sự cao tuổi. Mấy người này bị đứng hàng cuối cùng tận ngoài cửa. Phần lớn những tên còn lại đều là cán bộ đương chức của ủy ban phường, tức không thể gọi là “người cao tuổi.” Chúng ùn ùn tiến vào sát linh cữu, nhìn tôi với ánh mắt đắc thắng và thách thức. Quá phẫn nộ, chị gái lớn của tôi xông vào, giật tờ giấy của tên trưởng đoàn. Tên này giật lại và cầm micro bắt đầu đọc. Tôi bị đẩy ra khỏi cửa. Càng xông vào, tôi càng bị chúng đẩy ra thô bạo hơn. Anh trai lớn đã phải quỳ xuống lạy: “Thôi, cứ để họ đọc, cho mẹ tôi được yên.” Không ai trong năm người con gái lại gần được bên linh cữu mẹ. Lúc này, lẽ ra linh cữu phải được khiêng ra ngoài rồi, nơi rất nhiều người đang chờ đưa tiễn mẹ tôi. Trong nhà, tên đảng viên vẫn đang đọc điếu văn: “… được sự quan tâm và giúp đỡ của chính quyền địa phương và đảng bộ…”

Chị gái nhỏ của tôi không kiềm chế được, chị nói trong giàn giụa nước mắt:

– Mẹ tao mất mà lũ chúng nó không cho yên. Chính quyền nào, đảng cộng sản nào lo tang cho mẹ tao? Chúng mày khốn nạn quá. Mẹ tao sống chúng mày khủng bố, sách nhiễu. Mẹ tao chết chúng mày tới phá đám, tới xuyên tạc. Trời ơi! Trời ơi!

Tôi chạy theo chị:

– Chị cứ để cho chúng sủa. Chúng càng gây tội bao nhiêu thì mẹ mình càng được phước bấy nhiêu. Rồi chúng sẽ bị quả báo. Đạo Trời sẽ không tha cho chúng.

Chưa bao giờ tôi có cảm giác cay đắng, thất bại và bất lực như thế. Mẹ tôi nằm kia, trong cỗ quan tài nghi ngút khói hương. Bà có bảy người con và một đàn cháu chắt. Nhưng trong giờ phút quan trọng và linh thiêng này, chỉ có hai người con trai, mấy cô cháu họ được ngồi phục bên bà. Chị em chúng tôi bị tống ra khỏi cửa, bất lực đứng nhìn lũ chó sói nhảy múa bên linh cữu của mẹ. Nỗi đớn đau, cơn căm phẫn làm đầu óc tôi muốn nổ tung. Không hiểu sao khi ấy tôi không khóc. Tôi ghé tai nói nhỏ với người nhân viên phục vụ tang lễ. Anh ta gật đầu đồng ý. Tên cán bộ quèn đọc xong bài ca ngợi đảng. 

Tôi cầm lấy chiếc micro người nhân viên vừa đưa cho, lấy hết bình tĩnh tuyên bố:

– Tôi thay mặt cho tang quyến, cảm ơn Hội Người Cao Tuổi đã đến viếng mẹ tôi. Nhưng xin phép không nhận lời điếu này.

Chẳng phải tôi thông minh gì mà trong lúc cấp bách, tôi nhớ đến đám tang tướng Trần Độ nên học theo cách của anh con trai trưởng tướng Độ hầu hóa giải đòn mạ lỵ của lũ man di mọi rợ. 

Tôi nghĩ, mẹ không thất vọng về con gái bà.

Ngoài ngõ, người đưa tang đứng chật ních. Không khí nhốn nháo, căng thẳng vì lũ côn đồ, mật vụ không ngừng gây hấn với anh em Dân Chủ Hà Nội. Trong sân khi ấy chỉ còn lại đoàn Phật Tử, một số bà con thân thuộc. Lũ đảng viên, phái đoàn chính quyền địa phương mang danh Hội Người Cao Tuổi đã làm sai lệch giờ đưa tang, một điều tối kỵ trong phong tục của người Việt. 

Lũ người kia bước ra, mặt mũi thâm sì vì tức giận. 

Khác hẳn thái độ ngang ngược, đắc thắng khi tiến vào vì bị tôi từ chối lời điếu của họ.

Người đưa tang rất đông. 

Tôi đi sát bên mẹ. Đau đớn, buồn khổ, hụt hẫng, mệt mỏi, căm giận và căng thẳng. Tiếng còi không ngớt của cảnh sát giao thông, tiếng còi xe gắn máy, xe ô-tô inh ỏi, huyên náo ngay từ đầu ngõ ra tận đường lớn. Khu Phương Lưu chả mấy khi có cảnh sát giao thông trừ khi nhà tôi trở thành “điểm nóng.” Mật vụ, lưu manh côn đồ đông không kém người đi dự tang lễ.

Trên đường đưa mẹ từ nhà tới đài hóa thân Hoàn Vũ thuộc nghĩa trang Ninh Hải, các con vẫn không thể quây quần bên mẹ. Chị em chúng tôi phải chia nhau ra để bảo vệ những vị khách từ xa tới viếng. Tiếng là bảo vệ thôi, chị gái tôi thậm chí còn suýt bị một tên mật vụ hành hung ngay trước cổng nhà khi phản đối trò giật băng tang của chúng. Ra tới đường lớn, các phương tiện tham gia giao thông dưới sự hướng dẫn của cảnh sát đều phải nhường đường cho đoàn xe tang lễ của mẹ. Tới cổng nghĩa tranh Ninh Hải, thấy ít nhất ba, bốn đám tang đến trước đều dừng lại. Mẹ tôi vào trước.

Đoạn đường từ cổng nghĩa trang tới nhà tang lễ, tôi trông thấy nhiều người lạ. Họ đứng rải rác hai bên đường, cúi đầu khi linh cữu mẹ tôi đi qua. Họ nhìn tôi, ánh mắt đầy sự xẻ chia, thương cảm. 

Phút chốc, tôi thấy lòng ấm áp.

Tôi đứng lặng người, nhìn linh cữu của mẹ từ từ được đưa vào đài thiêu. Đầu óc tôi rất tỉnh táo. Tôi không hề khóc. Chỉ thấy toàn thân run rẩy, rồi từ từ quỵ xuống. Tôi vẫn không khóc. Có ai đó dìu tôi ra khỏi nghĩa trang, lên ô-tô về nhà.

Tôi đứng trước cổng! Mẹ không còn ở trong nhà nữa. Tôi đổ xuống. Một người bế tôi vào nhà.

Trời tối rồi. Tôi hốt hoảng vùng dậy. Phải đi lấy tro cốt rồi đưa mẹ về nằm cạnh bố. Tôi chạy xuống nhà. Không còn đông đúc như lúc trước nữa. Khách khứa đã ra về hết, chỉ còn lại vài người bà con thân thuộc. Tôi bần thần, ngồi ngây như kẻ mất trí. Nước mắt trào ra. Các anh chị, các cháu đã đưa mẹ tới nghĩa trang Đằng Lâm, nơi bố an nghỉ từ mười năm trước.

Đấy chưa là tất cả những gì tôi được biết trong Tang lễ của mẹ mình. Tôi đã hiểu vì sao anh trai tôi có lúc phải quỳ xuống “xin để mẹ tôi được yên.” Phải chấp nhận làm chậm giờ đưa tang trong khi đối với anh đó là điều tối kỵ. Để dành cơ hội cho cái gọi là Hội Người Cao Tuổi vào đọc điếu văn mà thực chất là một trò mạ lỵ, chơi xấu của chính quyền địa phương. Sự thật này, mấy hôm sau chị em tôi mới biết. Có “lệnh miệng” từ ủy ban nhân dân phường Đằng Lâm chỉ thị cho Ban Quản Lý Nghĩa Trang chuyển tới anh trai tôi một quyết định rằng: “Mẹ tôi không thuộc diện được phép chôn cất ở nghĩa trang này. Lý do: liên quan tới chính trị.” 

Mặc dù Ban quản lý nghĩa trang Đằng Lâm đã giải thích với ủy ban phường rằng trước đó mấy năm, gia đình tôi đã mua lô đất này và xây sẵn ngay cạnh ngôi mộ của bố. Mọi thứ giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu đều hợp pháp. Nhưng chỉ duy nhất một lý do: Liên quan đến chính trị, mọi trật tự, mọi đạo lý đều có thể bị đảo ngược.

Không biết rủi hay may. Một anh công an quận, thường hay tiếp cận với anh trai tôi biết chuyện đã sốt sắng, nhiệt tình giúp đỡ. Anh ta chỉ cần “nói giúp một tiếng” — không biết nói những gì, nói với ai — thế là mọi việc lại êm xuôi. Mẹ tôi đã được hưởng cái quyền đương nhiên của một người chết là được chôn cất. Dù thực hư thế nào, cũng xin cảm ơn anh công an. Đất nước này chỉ một người được phong Thánh là đủ, không cần đến người thứ hai. Được phong Thánh, tức là không được chôn, cũng chẳng được thiêu. Hàng năm tiêu tốn vô số tiền của của người dân lao động vất vả để “bảo tồn” cái xác chết đó. Nhưng xác chết vẫn cứ là xác chết, không hơn không kém, phải không anh?

Đã qua lễ giỗ 49 ngày của mẹ nhưng sự đau buồn vẫn chưa vơi bớt. Sự lo âu, căng thẳng thậm chí ngày một lớn hơn. Kể từ sau tang lễ, một số người thân của tôi liên tục bị đe dọa. Một sự đe dọa có chọn lọc. Đó là những thành viên được “điểm mặt” và bị cho rằng đã bày tỏ thái độ không thỏa hiệp và phản đối chính quyền địa phương trong việc muốn cầm chịch tang lễ của mẹ tôi. Hình thức khủng bố là: chặn xe giữa đường, gọi điện thoại và nhắn tin đe dọa — bắt đi tù, gây tai nạn, đe giết, hành hung, bắt cóc…

Trong tương lai, nếu bất cứ thành viên nào trong số hơn hai mươi người ruột thịt của tôi gặp tai họa, như bị gây sự ngoài đường, bị hành hung, bị mất việc làm, bị công an triệu tập hay bị bắt giữ bởi một sự việc “từ trên trời rơi xuống” hoặc bất cứ một hình thức nào nằm ngoài sự tiên liệu của tôi. Tôi khẳng định, tất cả những tai họa đó nhằm mục đích chính là để trả thù cho những hoạt động vì Tự Do, Nhân Quyền của tôi.

Dầu sao, khó khăn đấy, nhọc nhằn đấy, sóng gió đấy nhưng mẹ tôi đã đi qua, trọn vẹn một kiếp người.

Mẹ đã sống một đời lương thiện. 

Chắc chắn giờ này, mẹ đang ở một nơi rất tốt đẹp.

Mẹ ơi! Chúng con yêu Mẹ!

05 — 

Ơi Người Mẹ Điên Ơi!

Buổi chiều hôm ấy, đúng rồi, là một buổi chiều muộn. Tôi nhớ rõ như thế. Mẹ tôi quẩy đôi quang gánh trên vai, tay dắt theo một người đàn bà điên. Đúng là người đàn bà từ sáng tới giờ vẫn quẩn quanh ở khu tập thể này, vừa đi vừa nói nhảm. Thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt bất cứ thứ gì chị ta nhìn thấy dưới đất rồi bỏ vào miệng. Đôi quang gánh mẹ tôi quẩy về, còn nằm chỏng gọng ra đấy mấy mớ rau muống ế. Thế là bữa cơm tối nay, lại sẽ ăn rau độn.

Lần nào cũng vậy, hễ thấy mẹ về là mấy chị em tôi đều ngó trân trân vào đôi quang gánh. Và hồi hộp đợi chờ. Rồi cảm xúc vui buồn, lo lắng hay mừng rỡ cứ xuôi theo đôi quang gánh của mẹ. Đôi quang gánh nhẹ bẫng với chiếc sảo (*) trống rỗng có nghĩa là mẹ tôi đã bán hết hàng, cả nhà sẽ không phải ăn khoai hay ăn rau trừ bữa. Gương mặt chị em tôi sẽ sáng bừng lên nếu trông thấy thấp thoáng trong cái sảo là con cá, bìa đậu, vài lạng tép săm hay ít thịt mỡ. Bữa cơm hôm ấy có tí chất tanh, sang phải biết. Nhưng ít khi được thế. Buồn nhất là mỗi ngày tàn, mẹ tôi về nhà vẫn gánh theo vài mớ rau chưa bán hết. Ế hàng, cơm còn thiếu lấy đâu cá với tép săm mà ăn. Bao nhiêu nỗi buồn tênh lẫn khấp khởi vui mừng của những buổi chiều muộn cứ bám lấy tôi suốt tuổi thơ như thế. Tôi thấy thương, thương biết mấy nỗi nhọc nhằn của mẹ. Cho đến bây giờ khi đã qua tuổi 40, tôi vẫn không nguôi đắm đuối về căn gác chật chội trong khu tập thể nghèo, nơi bố mẹ và mấy anh chị em chúng tôi sống chật vật nhưng đầm ấm xiết bao.

Hôm nay, mẹ tôi dắt theo người đàn bà điên. 

Không hiểu tại sao mẹ tôi dắt người đàn bà điên, vừa bẩn thỉu vừa hôi hám ấy về nhà? Chị ta cũng không ngoan ngoãn đi theo mẹ tôi đâu. Thỉnh thoảng, chị ta lại vùng vằng, leo được vài bậc thang lại toan chạy xuống. Mẹ tôi phải nịnh nọt, nắm chặt bàn tay nhớp nhúa ấy kéo lên gác. Nhà tôi tận trên tầng 4, chắc chị ta cũng mỏi chân.

Bố tôi ra mở cửa, gỡ đôi quang gánh khỏi vai mẹ. Ông không hỏi vì sao mẹ tôi “tha” người đàn bà điên ấy về. Làm như điều ấy chẳng có gì lạ. Mẹ tôi, tay vẫn không rời người đàn bà điên. Tôi đứng nép vào tường, vừa hiếu kỳ, vừa sợ sệt quan sát từng cử chỉ của mẹ và của người đàn bà ấy. 

Nhiều người, và cả tôi nữa, đã thấy chị ta lang thang, quanh quẩn ở khu tập thể này từ sáng tới giờ. Người ta biết chị bị điên vì trên người mặc độc một chiếc quần lót cắt bằng vải phin màu trắng. Nhưng cái “màu trắng” ấy đã chuyển sang màu bùn đất. Hai quả vú thỗn thệ, chảy sệ xuống gần

bụng. Mái tóc từng được uốn xoăn, ngắn đến ngang cằm bê bết những đất và rối bù. Khắp người chị ta bốc lên mùi hôi hám, khăm khẳm hết sức khó chịu. Thỉnh thoảng, chị ta lại đưa tay tự bấu vào đầu vú mình, rồi nhăn nhó vì đau hoặc lại cười khanh khách. Chị ta điên đến nỗi không gợn một chút gì của cái cảm giác xấu hổ về sự loã lồ của mình.

Đầu tiên, người lớn còn bàn tán, hoặc xúm vào hỏi han chị ta. Nhưng chị ta toàn nói nhảm, nói những câu không ai hiểu được. Rồi ai làm việc người nấy, bỏ mặc người đàn bà lem luốc, bẩn thỉu trở lại với sự quẩn quanh, cười cười nói nói một mình. 

Đám trẻ con lẽo đẽo đi theo chị ta, trêu chọc. Bọn thằng Hoàn “bội”, Toàn “béo” còn lượm gạch đá ném vào người chị ta, rồi nhe răng cười khoái chí với nhau. Đến hồi người đàn bà kia đuổi theo, hai đứa nó co cẳng chạy. Thằng Toàn “béo” chạy về đến nhà, đóng chặt cửa lại, khóc tu tu. Thằng ấy chúa nhát. 

Tôi không biết người đàn bà điên kia bao nhiêu tuổi, ở đâu, vì sao mà điên. Tôi ước chừng chị ta khoảng ngoài hai mươi tuổi. Còn tôi, năm ấy (có lẽ) lên 9, lên 10 tuổi gì đấy.

Mẹ tôi kéo người đàn bà điên vào bếp, ấn chị ta ngồi xuống rồi múc từng gáo nước xối lên đầu, lên người chị ta. Mẹ tôi tắm rửa, kỳ cọ cho người phụ nữ không quen biết, lại bị điên, bằng sự tỉ mỉ, ân cần như chăm sóc cho một đứa trẻ.

Chị Phượng từ trên nhà ngó xuống bếp, mỗi lần thấy mẹ tôi múc một gáo nước dội lên người đàn bà điên, lại một lần rên rỉ vì tiếc. Hàng ngày, chị Oanh, chị Phượng sau khi đi làm về đều phải gánh nước từ dưới gác lên tầng 4 cho cả nhà dùng.

-Oanh lấy cho mẹ bộ quần áo cũ trong hòm ra đây.

Mẹ tôi vừa lau mình cho người đàn bà điên, vừa nói với chị gái tôi.

Chị tôi mở nắp hòm, lấy bộ quần áo cũ (vả lại cũng làm gì có đồ mới) đưa cho mẹ tôi. Nhà nghèo, không có tủ nên chúng tôi phải đựng quần áo vào chiếc hòm sắt. Khoảng 20 năm sau, tôi đi tù (vì chống chế độ) cũng đựng quần áo, đồ dùng, và thức ăn vào cái hòm giống như thế.

Người đàn bà điên đã được tắm rửa sạch sẽ. Nhưng chị ta không chịu mặc bộ quần áo mẹ tôi cho mà nằng nặc đòi mặc lại chiếc quần lót cũ bẩn thỉu và ướt nhẹp kia. Nịnh thế nào cũng không được.

Tôi nhớ rất rõ bữa cơm hôm ấy chỉ có duy nhấy món rau bắp cải xào. Mẹ tôi cho người đàn bà điên ngồi cùng mâm cơm. Bà không quan tâm xem thái độ của mấy bố con tôi thế nào. Nhưng từ bố tôi, đến các anh chị hình như không ai khó chịu. Ai cũng coi việc làm của mẹ là bình thường, và mọi người cần đồng tình với điều ấy. Lên chín tuổi, tôi chưa hiểu thế nào là đạo lý. Tôi chỉ đơn giản hiểu rằng, người đàn bà ấy bị điên, mẹ tôi thương nên dẫn về nhà. Thế thôi. Song thú thực, tôi không thể nuốt nổi miếng cơm nào khi ngồi cùng mâm với chị ta. Phần vì khó chịu cái mùi bốc ra từ cơ thể ấy, phần vì sợ. Tôi nhớ như in cảnh chị ta đuổi thằng Toàn “béo” lên tận cửa nhà nó. Vừa đuổi vừa la hét, giơ cánh tay lên đòi đánh thằng bé.

Mẹ tôi đơm cơm vào bát ô tô, trộn ít rau bắp cải xào đưa cho chị ta. Vừa ăn, người đàn bà điên vừa lẩm bẩm “ăn cơm với thịt gà, ăn cơm với thịt gà, ăn cơm với thịt gà…”. Rồi lại cười một mình. Ăn được vài miếng, chị ta vứt bát ngay tại mâm, cơm văng ra tung toé. Chị ta đứng phắt dậy, lao ra ngoài, đập cửa thình thịch rồi la hét ầm ĩ. Mẹ, rồi các chị tôi nịnh nọt cũng không nghe. Cuối cùng, mẹ tôi phải mở cửa cho chị ta đi. Người đàn bà điên lao như bay xuống các bậc thang. Tôi chạy ra hành lang nhìn xuống đất, thấy chị ta (lúc này đã hơi khang khác vì vừa được tắm gội sạch sẽ) khuất dạng về phía đầu hồi khu tập thể. Chị ta xuất hiện trong nhà tôi vào buổi chiều muộn. Và chạy biến đi khi trời vừa chạng vạng tối.

Trong tôi chợt dấy lên sự lo lắng. Rồi chị ta sẽ đi đâu? Có ai nắm lấy đôi bàn tay nhớp nhúa, bẩn thỉu của chị ta như mẹ tôi đã ân cần thế không? Rồi lỡ có kẻ xấu làm hại chị ta thì sao? Liệu người đàn bà điên ấy có gặp lũ trẻ nào nghịch ngợm tai quái, cầm que, cầm gạch doạ nạt như bọn thằng Hoàn “bội”, thằng Toàn “béo” không?

Tôi thôi nhìn xuống gác, trở vào nhà, lại đứng nép vào tường. Một cảm giác buồn tê dại chiếm lấy tâm hồn bé nhỏ của tôi. Bố mẹ và các chị tôi đang đứng ở cửa nói chuyện với cô chú hàng xóm. Cô Loan nhà kế bên nói với mẹ tôi:

-Hình như nhà con này ở gần Ngã Năm (**) thì phải. Nghe đâu bị người yêu ruồng bỏ nên phát điên. 

-Thế gia đình còn ai không? Lang thang như thế, gặp bọn xấu thì khổ. Mẹ tôi hỏi cô Loan, vẻ ái ngại.

-Nào em có biết đâu. Thấy người ta đồn như thế. Mà chị cũng bạo thật đấy, hết đưa ăn xin rồi lại dẫn người điên về nhà. Nó điên, biết cái gì, lỡ nó vung tay đánh mình một cái thì sao. Cô Loan trách mẹ tôi.

-Chị đi chợ về, thấy nó đang nằm ở đầu hồi ấy. Trông tội quá. Mình cũng chỉ tắm rửa, cho ăn bữa cơm thôi. Định hỏi xem nhà nó ở đâu rồi kiếm cách giúp nó tìm lại gia đình. Mà nó chẳng hiểu gì, cứ nói luyên thuyên. Con trai nhà nào mà tệ thế, phải tội chết. Làm hỏng một đời người ta.

Mẹ tôi thở dài.

-Xã hội bây giờ nó thế chị ạ. Hy vọng là con bé đó tìm được về nhà. Từ đây lên Ngã Năm cũng gần ấy mà.

-Ừ, hy vọng thế. 

-Hôm nay ế rau hả chị? Vậy bán cho em một mớ rau muống, mai thằng Tuấn ở nhà nấu. Trưa mai em về ăn cơm.

Mẹ tôi mang cho cô mớ rau vẫn còn tươi nguyên.

-Cô cầm lấy mà ăn, chị em với nhau mua bán gì.

Mọi người lại lục tục kéo nhau vào nhà, ngồi xuống mâm cơm còn đang ăn dở. Mẹ tôi cứ xuýt xoa về người đàn bà điên ấy mãi. Bố tôi, lúc này mới trách:

-Bà làm thế con Liên (***) nó sợ. Lần sao bà có đem người điên nào về, thì cho ngồi ăn riêng. Mà nhà mình cơm ăn còn thiếu, bà cứ rộng rãi quá, con mình khổ. 

-Cũng chỉ cho người ta một bát cơm chứ có gì đâu mà ông cằn nhằn. Năm thì mười hoạ mới gặp một lần. Thấy những cảnh ấy tôi không nỡ. Để người ta ngồi riêng trong khi cả nhà mình quây quần thì thà không cho người ta ăn lại còn hơn. 

Mải lo cho người đàn bà điên, đến lúc nghe bố tôi nhắc “con Liên nó sợ”, mẹ tôi mới sực nhớ ra. 

Bà bước đến bên tôi lúc này vẫn đang đứng mút tay, lưng dựa sát vào tường, hai mắt đỏ hoe chực khóc. Tôi có tật xấu là hay mút tay, nhất là những lúc xấu hổ hay cảm thấy tủi thân. Thói quen mút tay, mãi đến khi học cấp hai tôi mới bỏ được.

Mẹ tôi cười, nửa vỗ về, nửa như chọc quê tôi:

-Trông kìa, có thế mà cũng sợ. Chị ấy bị điên, khổ thân lắm con.

Được mẹ hỏi han, miệng tôi méo xệch, mếu máo. Nhưng tôi không khóc vì sợ mẹ buồn. Với lại mẹ tôi đã nói “có thế mà cũng sợ”, thì tôi phải cố nén. Tôi mà khóc, các anh chị tôi sẽ hùa nhau mà trêu chọc. Thực tình thì lúc ấy, tôi đã bớt sợ hơn, nhưng tủi thân quá. Tôi biết là không nên ganh tị với người điên kia, nhưng tôi đã quá quen với việc hàng ngày được mẹ ôm ấp, nựng nịu mỗi khi bà tan chợ. Hôm nay tôi bị ra rìa. 

Mẹ kéo tôi ngồi cạnh bà bên mâm cơm. Tôi đã quá quen với những bữa cơm chỉ có rau, hoặc khoai độn. Nhưng hôm nay, tôi không nuốt nổi vì cảm giác người đàn bà điên vẫn đang ngồi ăn cùng, dơ dáy và bẩn thỉu.

Mẹ tôi bưng bát cơm thừa của người đàn bà điên lên, định ăn. Bố tôi gàn:

-Bà bỏ đi. Người ta bẩn thỉu, bệnh tật thế, bà còn tiếc.

Mẹ tôi bỏ bát cơm ấy đi, nhưng vẫn tiếc. 

Từ lần đấy, tôi không bao giờ trông thấy người đàn bà điên ấy nữa. Khoảng một năm sau, cũng vào buổi chiều muộn, mẹ tôi (lúc này không còn đi bán rau nữa, mà chuyển sang bán than) vừa về tới nhà, đã khoe:

-Lúc sáng kéo xe than đi qua Cửa Hàng Gạo (***) thấy con bé điên ngày xưa bế một đứa trẻ, đang ngồi cho nó bú.

Sáng hôm sau tôi đi học, thấy người đàn bà điên năm nào đang ngồi trên bậc thềm ở Cửa Hàng Gạo. Trên tay là đứa trẻ sơ sinh. Chị ta đang cho nó bú. Người đàn bà điên ấy không còn mặc độc một chiếc quần lót cắt bằng vải phin nữa. Trên người chị ta là bộ quần áo bảo hộ lao động, cũ kỹ và rách bươm. Bộ quần áo không biết chị ta nhặt ở đâu, hay có người cho. Vẫn là mái tóc xoăn ngang cằm bê bết, bẩn thỉu. Bên cạnh chị ta, đùm túm nào chiếu, nào túi vải với lỉnh kỉnh những đồ dùng chắc chỉ có người điên mới cần đến. Có cả mấy thứ cho đứa bé. 

Tôi ôm chặt chiếc cặp sách, đứng lặng người. Từ xa, tôi cố rướn mắt để nhìn cho rõ đứa bé chị ta đang ẵm. Chợt có mấy người phụ nữ từ đâu đi tới, người thì đá chân chị ta, người khác thò tay vào giằng đứa trẻ. Người mẹ điên gào thét, những âm thanh thống thiết, ghê sợ. Tiếng gào thét không hẳn của một con người. Đứng ở góc này, tôi kinh hãi và bất lực. Chị ta ôm chặt lấy con, ánh mắt trừng lên giận dữ, lẫn vẻ hoảng sợ. 

Tôi run lên cầm cập. Tôi thương người đàn bà điên và căm ghét hai kẻ bắt cóc trẻ con kia. Tôi cũng không biết là mình đã khóc tự bao giờ. Tuổi tôi, tâm hồn bé nhỏ của tôi ngày ấy còn biết làm gì ngoài việc khóc lóc. Nhưng tôi không phải khóc lâu. Hai người phụ nữ kia không phải bọn bắt cóc trẻ con như tôi nghĩ lúc ban đầu. Họ kiếm sống ở khu Cửa Hàng Gạo này, họ quen thuộc với người đàn bà điên. Thỉnh thoảng, họ lại kiếm chuyện trêu chị ta rồi cả bọn phá lên cười với nhau. Họ khoái nhất là chơi trò “cướp con” để được xem cảnh người mẹ điên bảo vệ con mình. Mỗi lần chơi trò “cướp con” xong, họ đều trầm trồ khen “con điên này khôn thật. Đố ai động được vào con nó”. 

Tôi thở phào. Người đàn bà điên ngồi nép vào tường, đôi bàn tay đen đúa ôm con chặt hơn. Đứa bé không khóc, vẫn ngủ ngon lành trên tay mẹ.

Tôi biết về cuộc đời người đàn bà điên qua những câu chuyện người ta bàn tán với nhau. Chị ta bị điên tình. Chị từng yêu say đắm một anh chàng cũng từng yêu chị say đắm như thế. Họ đã định ngày cưới nhưng đùng một cái, anh chàng phản bội người yêu để đi lấy người khác. Đám cưới bị huỷ bỏ. Chị ta phát điên. Từ đó, chị cứ bỏ nhà đi lang thang. Bố mẹ, rồi anh chị em bao phen phải cất công đi tìm. Họ nhốt người đàn bà điên trong phòng. Nhưng chị ta vẫn trốn được ra ngoài để đi lang thang, sống kiếp người điên. Lúc mới phát bệnh, gia đình cũng chạy chữa. Hết đi bệnh viện rồi lại gõ cửa hết ông thầy lang này đến ông thầy cúng kia, vẫn không mang lại kết quả gì. Nghe người ta xúi, bệnh điên là do “ma làm”, ma sợ roi dâu tẩm nước tiểu. Thế là bố và anh trai chị ta trói người đàn bà tội nghiệp ấy vào gốc cây, rồi cứ roi dâu tẩm nước tiểu mà quất. Không thấy con ma nào chạy ra khỏi cơ thể người phụ nữ ấy người. Chỉ thấy mỗi lần bị đánh, người đàn bà tội nghiệp kia lại thống thiết kêu gào đau đớn, người ngợm bầm tím và rỉ máu. Đánh mãi, không hết điên. Rồi cũng chán.

Khoảng một năm trước, gã đàn ông khốn nạn nào đó đã hại chị ta. Người ta điên dại, bẩn thỉu như thế nó cũng không tha. Cái bụng người đàn bà điên cứ lớn dần lên.

Từ ngày có con, chị ta không lang thang xa nữa. Cứ quẩn quanh ở mấy khu chợ, Cửa Hàng Gạo hoặc Ngã Năm. Tức là gần ngôi nhà ruột thịt của chị. Người dân ở đấy kẻ thì cho đồ ăn, người khác cho tã lót hay manh quần tấm áo. Không ai cho tiền vì chị ta toàn xé rách hoặc ném đi. Có con, người đàn bà điên bớt bị người đời đùa ác ý, đánh đập hay ném đá vào người. Tất nhiên ngoại trừ trò đùa “cướp con” của mấy người phụ nữ kiếm ăn gần đấy. Người ta không giải thích nổi vì sao một người đàn bà điên loạn như thế lại có thể yêu con tột cùng như vậy. Nó trong sáng, hồn nhiên và vô cùng vĩ đại. Người mẹ điên ấy, yêu con hơn bất cứ người mẹ bình thường nào. Dường như chị ta dùng toàn bộ sức mạnh và cả sự điên loạn của mình để bảo vệ con, để yêu con.

Thỉnh thoảng, trên đường đi học, tôi vẫn trông thấy chị ta bế con ngồi ở Cửa Hàng Gạo. Mỗi lần như thế tôi lại thấy an tâm hơn. Tôi sợ chị ta đi mất. Tôi sợ không còn trông thấy đứa trẻ. Và mẹ tôi, thỉnh thoảng vẫn mang cho chị ta bộ quần áo cũ, đồ ăn, chai nước hoặc thứ gì đó cho em bé.

Rồi một hôm, trên đường đi học, tôi không còn trông thấy hai mẹ con người đàn bà điên ấy đâu nữa. Người thì nói chị ta được gia đình đón về, nhốt trong nhà. Có người lại bảo chị ta tha con đi lang thang ở một nơi khác. 

Tôi bần thần bao nhiêu ngày. Hình ảnh người đàn bà điên bế đứa trẻ sơ sinh, non nớt trên tay làm tôi bị ám ảnh. Tôi như người mất trí, có lúc lại như người tương tư. Tôi nhớ thương họ. Giá như tôi là người lớn và thật giàu có. Nếu tôi giàu có, và là người lớn thì… 

Ơi người Mẹ Điên ơi! Ơi đứa con khốn khổ ơi!

Xoáy vào tâm can tôi đến giờ.

Chú thích:

(*) Sảo: Vật dụng được đan bằng nan tre, to khoảng bằng chiếc mâm ăn cơm, nông lòng.

(**) Ngã Năm:Từ Ngã Năm đi ra nhiều con đường. Nhà tôi ở đường Đà Nẵng, cách Ngã Năm chừng hơn một cây số.

(***): Liên: Tên thường gọi của tôi ở nhà.

(****) Cửa Hàng Gạo: Nơi cung cấp gạo, lương thực cho người dân địa phương thời bao cấp.

NHỮNG MẢNH ĐỜI SAU SONG SẮT (KỲ 10)

Hồi ký của Phạm Thanh Nghiên

06 —  

Ba Sao chi mộ

Xin kính cẩn nghiêng mình thắp nén tâm hương trước tấm bia không mộ của 626 người tù chính trị đã chết trong nhà tù Ba Sao, Nam Hà giai đoạn 1975-1988. 

Và rất nhiều những người tù chính trị khác đã chết oan khiên trong ngục tù cộng sản.

Lẽ ra, câu chuyện này phải được kể trọn vẹn cho nhau nghe. Tiếc rằng, vì một số lý do ngoài ý muốn, “người trong cuộc” đã ngừng sự giúp đỡ tôi nên việc thu thập, tìm hiểu thông tin đã bị gián đoạn. Hơn nữa, khởi từ nhu cầu an toàn của nhân chứng, nỗi lo về sự can thiệp phá vỡ sự bình yên, tôn nghiêm của ngôi Chùa — nơi đặt tấm bia thờ 626 người tù chính trị nên người viết đã phải rất cân nhắc khi chuyển tải thông tin đến bạn đọc.

Nhưng tôi tin, câu chuyện dù không được kể trọn vẹn như mong muốn cũng sẽ khiến chúng ta thấy xót xa cho thân phận quê hương. Một thân phận quê hương được phản chiếu từ thân phận của những người con Việt bị bức tử bằng cách này hay cách khác trong một giai đoạn khốc liệt, đau thương nhất của lịch sử.

✶ Chuyến tàu vét

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, hành động đầu tiên mà chế độ cộng sản thực hiện là trả thù những người từng phục vụ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Hầu hết cựu quân nhân cán chính, viên chức từng làm việc trong chính quyền VNCH, hoặc nghi ngờ thuộc thành phần này đều bị đưa đi “cải tạo”, thực chất là chịu lưu đày tại các nhà tù trên khắp nước. Một trong những nơi khét tiếng tàn bạo ở miền Bắc, từng giam cầm hàng ngàn cựu quân nhân cán chính VNCH là nhà tù Ba Sao, Nam Hà. 

Con tàu cuối cùng chở tù từ Nam ra Bắc có cái tên rất thơ mộng: Sông Hương. Rời Sài Gòn ngày 18/4/1977, sau hai ngày ba đêm, tàu cập bến Hải Phòng, tiếp tục hành trình lưu đày tù ngục của 1200 người thuộc “bên thua cuộc.”

Chúng tôi, cứ hai người bị chung một chiếc còng. Vừa lên đất liền, hai bên đường đã có người dân miền Bắc đợi sẵn. Họ ném gạch đá vào chúng tôi. Vừa ném, vừa chửi rủa, mạ lỵ rất thậm tệ. Nhiều người trong chúng tôi bị ném trúng, vỡ đầu, chảy máu và thương tích.

Đấy là lời kể của ông Nam, một người tù bị đẩy ra Bắc trên tàu Sông Hương. Khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, ông Nam đang là thiếu úy quân đội VNCH. Chi tiết này cũng được linh mục Nguyễn Hữu Lễ thuật lại trong hồi ký Tôi Phải Sống. Từ Hải Phòng, số tù nhân này bị tách ra để chia rải rác cho các trại giam. Bài này chỉ đề cập tới những người tù ở Ba Sao, Nam Hà. Không riêng những người tù Ba Sao, hầu hết những người từng phục vụ trong chính quyền VNCH đều bị bắt sau biến cố 30/4/1975. Một số bị đưa ra Bắc ngay thời kỳ đầu. Nhiều người bị giam ở miền Nam sau vài năm mới bị chuyển ra Bắc, rồi lại trở ngược vào Nam để tiếp tục cuộc đời lao tù cho đến ngày chết, hoặc trở về khi sức cùng lực cạn.

Nhà tù Ba Sao “rộng cửa” đón thêm vài trăm người từ chuyến tàu vét Sông Hương, nơi đang đọa đày hơn 600 tù VNCH  bị chuyển đến từ các chuyến tàu trước đó.

Tôi có dịp hỏi chuyện linh mục Nguyễn Hữu Lễ hiện đang sống tại New Zealand và một nhân chứng khác đang sống tại Sài Gòn, được biết nhà tù Ba Sao thời ấy chia làm 4 khu giam giữ.

– Khu A: Giam thành phần viên chức chính phủ, dân biểu, nghị sĩ, sĩ quan cao cấp như nghị sĩ Huỳnh Văn Cao, bộ trưởng Đàm Sỹ Hiến, bộ trưởng Trần Ngọc Oành, tướng Lê Minh Đảo, tướng Văn Thành Cao, tướng Nhu, tướng Trần Văn Chơn, ông Nguyễn Văn Lộc.., hay lãnh tụ Quốc Dân Đảng là ông Vũ Hồng Khanh.

– Khu B: Giam những quân nhân cán chính, những người bị buộc tội “phản động” như linh mục Nguyễn Hữu Lễ, linh mục Nguyễn Bình Tỉnh…

–  Khu C: Giam tù hình sự miền Bắc.

– Khu Mễ: Giam người bệnh tật, đau yếu. Trong khu Mễ có một khu “kiên giam” dành cho các tù nhân bị kỷ luật với điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Đã có rất nhiều tù nhân chết khi bị “kiên giam.”

Tác giả hồi ký Tôi Phải Sống bùi ngùi kể lại:

Chúng tôi bị chuyển từ nhà tù miền Nam tới nhà tù Ba Sao miền Bắc trong chuyến tàu Sông Hương vào tháng 4/1977. Lúc ấy nhóm của tôi có 350 người ra đi từ trại Gia Ray tỉnh Xuân Lộc. Ở Ba Sao được 9 tháng, tôi bị chuyển lên trại Quyết Tiến còn gọi là “Cổng Trời” thuộc tỉnh Hà Giang, nằm sát ranh giới Trung Quốc. Một năm sau đó tôi về trại Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hoá. Mười năm sau, tức tháng 1/1987, tất cả tù chính trị miền Nam còn sót lại rải rác trong các trại miền Bắc được dồn hết về trại Ba Sao, Nam Hà, trong đó có tôi. Nhưng đội của tôi trước khi tôi rời Ba Sao ra đi nay đã chết quá phân nửa. Tết năm đó có một đợt tha tù, được tổ chức rất ồn ào. Tháng 5/1987, tất cả số tù nhân từ miền Nam còn sót lại, được chuyển hết về Nam để ở tù tiếp. Chỉ còn “sót lại” 3 người ở miền Bắc, đó là linh mục Nguyễn Bình Tỉnh, anh Nguyễn Đức Khuân và tôi. Hầu hết họ đã chết. Chết vì tuyệt vọng, đói rét, suy kiệt, tiêu chảy, kiết lỵ và nhiều bệnh khác.”

Tôi rùng mình tự hỏi, có bao nhiêu tù nhân chính trị đã chết trong suốt thời kỳ từ 1975 về sau? Bao nhiêu ở nhà tù Ba Sao? Bao nhiêu ở Cổng Trời, Thanh Hóa, Phú Yên, Xuân Lộc, Xuyên Mộc, Hàm Tân, Bố Lá…? Bao nhiêu người đã bị bách hại bởi chính đồng bào ruột thịt mang tên “cộng sản”, và chết lặng câm ở khắp các nhà tù từ Bắc – Trung – Nam trên dải đất đau thương này?

Không ai biết chính xác, nhưng số người bỏ xác ở các nhà tù không phải con số ít. Một ngày nào đó, chế độ cộng sản sẽ phải trả lời câu hỏi này trước quốc dân đồng bào. Cũng như trả lại sự thật lịch sử cho dân tộc này.

✶ Tấm bia thờ 626 người tù chính trị

Có một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà. Nghe nói tấm bia được đặt trong một ngôi chùa ở miền Bắc. Ngoài tấm bia ra còn có một ngôi am thờ những người tù này được dựng ngay khu đất thuộc trại giam. Người làm tấm bia này là một cựu giám thị nhà tù Ba Sao. Em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé!”.

Một người anh, cũng là cựu tù chính trị hiện sống tại Pháp đã nhắn tôi như thế. Tôi chưa bao giờ trải qua cảm xúc đặc biệt và đầy ám ảnh như lần này. Chuyện thật khó tin: Một trùm cai tù cộng sản dựng một tấm bia và am thờ những người tù Việt Nam Cộng Hòa!

Câu dặn dò ”em cố gắng đi tìm các anh ấy nhé” làm tôi xót xa. Hình như tôi sắp làm một công việc rất khó khăn và cũng rất thiêng liêng. Hai chữ “các anh” không còn là cách xưng hô nữa mà là tiếng gọi gần gũi, thân thương của những người chung khát vọng. Theo tuổi tác, họ là bậc cha chú của tôi — đứa nhóc Bắc kỳ sinh sau biến cố 1975.  Mãn án tù nhà, tôi lên đường. 

Địa chỉ ngôi Chùa không chính xác nên tôi phải đi tìm hơn hai ngày mới đến nơi. Đó là một ngôi Chùa nhỏ, nằm khiêm tốn bên một con phố khá đông đúc. 

Sư trụ trì đi vắng, tôi lang thang cho hết thời gian rồi trở lại vào buổi chiều. 

– Thưa thầy, con được người quen giới thiệu đến đây. Nghe nói nhà Chùa có đặt một tấm bia thờ những người tù đã chết ở trại Ba Sao, Nam Hà? 

Nghe tôi nhắc đến tấm bia, nét mặt thầy tái đi, không giấu được vẻ bối rối.

– Bác Thanh giới thiệu con đến đây. 

Nhận ra người quen, sư thầy trở nên cởi mở hẳn.

Sư thầy kể vài năm trước, cô Thu Hương, một Phật tử, đưa viên cựu giám thị đến gặp sư thầy. 

Viên giám thị trao cho sư thầy một danh sách 626 người tù đã chết trong trại Ba Sao từ năm 1975 đến 1988. Vị này ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong Chùa để thờ cúng các hương linh. 

Đây không phải ngôi Chùa đầu tiên họ gõ cửa. Những ngôi Chùa trước đều từ chối vì sợ. Các vị sư trụ trì không muốn giữ một danh sách toàn “sĩ quan ngụy” và công khai đặt tấm bia thờ người tù ngay trong Chùa.

– Có cách nào liên lạc được với hai người ấy không, thưa thầy?

– Khó lắm. Người giám thị sau khi làm xong tấm bia thì không trở lại. Chỉ cô Thu Hương thời gian đầu vẫn tới Chùa tụng kinh và thắp hương cho 626 vị ấy. Nhưng kể từ khi đứa con trai 15 tuổi của Thu Hương bị tai nạn giao thông chết hai năm trước, cô ấy không tiếp xúc với ai nữa.

– Thầy có nghe nói về ngôi am thờ 626 vị này không? 

Tôi hỏi, không giấu nổi vẻ hồi hộp khi chờ trả lời.

– Đúng là có cái am thờ. Nhưng tôi chưa tới thăm bao giờ. Nghe nói nằm trong vùng đất trại giam thì phải. 

– Vậy ai có thể đưa con tới đó?

– Chỉ có người giám thị và cô Thu Hương thôi. Nhưng Thu Hương thì như tôi vừa nói, cô ấy buồn chán, tuyệt vọng từ ngày mất con nên không thiết chuyện gì. 

Còn người giám thị thì từ đó không trở lại nữa. Số điện thoại cũng đổi rồi.

Tôi bắt đầu thấy mịt mù phía trước.

Người giữ sổ sách đi vắng. Sư thầy hẹn tôi dịp khác trở lại, sẽ cho tôi xem danh sách 626 người tù. Thầy dẫn tôi xuống nhà linh, nơi đặt tấm bia. Tôi thấy rợn rợn khi bước chân vào nhà linh, nơi đặt di ảnh những người quá cố. Có mấy người đội khăn tang đang ngồi tụng kinh cho người thân mới qua đời. Tìm mãi không thấy tấm bia đâu. Tôi bắt đầu lo. Sư thầy quả quyết tấm bia đặt ở phòng này nhưng lâu ngày không nhìn lại nên ngài không nhớ chính xác vị trí nào.

– Ôi đây rồi! 

Sư thầy reo lên. Tôi sững người lại. 

Vừa thấy tấm bia, nước mắt tôi ứa ra. Tôi không xác định được cảm xúc mình lúc đó. Vui vì đã “tìm thấy các anh”, như lời người anh đồng tù nhắn nhủ, hay buồn vì lại chứng kiến thêm một nỗi đau đớn của quê hương?

Tôi lập cập lục tìm trong túi xách chiếc máy ảnh. Tôi hay bị lúng túng mỗi khi cảm xúc “quá độ.” Sư thầy dặn chỉ chụp tấm bia thôi, đừng để những di ảnh xung quanh lọt vào ống kính. Cảm giác tủi thân và xót xa khiến tôi không nói nổi tiếng “vâng” một cách rõ ràng. 

Trước khi về, tôi gửi một ít tiền để sư thầy giúp việc nhang khói cho “các anh.” Tôi cầm theo nải chuối, mấy quả cam thầy vừa cho, chậm rãi cuốc bộ trên con phố. Tôi không khóc, nhưng cổ họng nghèn nghẹn và bước chân nặng nề. 

Một tuần sau tôi trở lại Chùa. Sư thầy đi vắng.Vừa nghe tiếng tôi trong điện thoại, sư thầy nhận ra ngay:

– Chị Nghiên hả? Tiếc quá! Thầy đã hỏi người trông coi sổ sách của Chùa rồi. Nhưng chị ấy nói là danh sách đã được hóa đi từ hôm Rằm tháng bảy.

Tôi chết đứng người. Cố gắng lắm tôi mới thốt lên được một câu nghe như không phải giọng của mình.

– Sao lại đốt hả thầy, sao thế được?

– Thì nhà Chùa nghĩ là không cần dùng đến danh sách ấy nữa nên tiện dịp lễ Vu Lan thì hóa luôn cùng với áo mũ, vàng mã chị ạ.

– Thầy ơi! Thầy làm ơn kiểm tra lại giúp con với. Cái danh sách ấy… 626 người tù… thầy ơi, thầy làm ơn!

Tôi cố gắng trấn tĩnh để van lơn.

– Thầy không thể làm gì hơn, chị Nghiên ạ. Chúng tôi sẽ hương khói đầy đủ cho các vị ấy.

Nói xong, sư thầy cúp máy. 

Một cảm giác còn tệ hơn sự tuyệt vọng. Tôi ôm mặt ngồi thụp xuống giữa đường. Một đứa bé từ đâu chạy lại, trân trân nhìn tôi. Hình như bộ dạng tôi làm đứa bé sợ. Nó co chân chạy, không ngoái lại nhìn.

Bấy giờ tôi nhận thấy, có một thứ cảm xúc rất giống với nỗi buồn, rất giống với niềm tuyệt vọng. Nhưng không hoàn toàn như thế. 

Thứ cảm xúc thật khó gọi tên. 

Tôi về nhà, lầm lỳ đến vài hôm. Không thể dễ dàng bỏ cuộc được, tôi quyết định đi Nam Hà để tìm đến ngôi am thờ. Người anh đồng tù buồn rầu bảo: 

– Không có cô Thu Hương hay vị giám thị dẫn đường, em không tìm được đâu.

Lần này tôi thật sự tuyệt vọng. Tấm bia, danh sách và am thờ, tôi chỉ hoàn thành một phần ba công việc.

Tôi nghĩ đến người giám thị. Không biết vì lý do gì viên giám thị lại làm một việc cấm kỵ và mạo hiểm như thế. Hơn ai hết, người này phải ý thức mức độ nguy hiểm của việc mình làm, nhất là nếu thông tin bị lộ. Chắc chắn phải có lý do sâu xa và rất đặc biệt để người này làm thế. Vì lợi nhuận ư? Không ai dại dột vì chút giá trị vật chất mà đánh đổi cuộc sống bình yên. Vả lại, bản thân nghề cai tù đã là cơ hội để làm giàu một cách rất an toàn.

Người anh đồng tù và bác Thanh lý giải rằng, niềm tin tâm linh đã thúc đẩy người giám thị và cô Thu Hương làm như thế. Có thể người giám thị sợ bị vong hồn của những người tù tìm đến hỏi tội chăng? 

Lý giải này không hẳn là vô lý. Tôi từng nghe và biết những chuyện tương tự khi còn trong nhà tù Thanh Hóa. Đã là cai tù, không ít thì nhiều, không chủ ý cũng buộc phải dính vào tội ác. Song dù với lý do gì, hy vọng cũng có phần trăm nào đó của sự ăn năn, của chút lương tâm bị hối thúc. Tôi vốn không mê tín, không tin dị đoan nhưng tin luôn có một thế giới tâm linh đang nhìn ngó thế giới con người. Ước gì một ngày nào đó, duyên cớ run rủi để chúng ta được biết trọn vẹn câu chuyện về 626 người tù chính trị Ba Sao, Nam Hà. 

Chúng ta cần được biết về số phận của những người từng bị cộng sản bách hại để hiểu về một giai đoạn lịch sử đã tạo nên thân phận đau thương của dân tộc này.

                                           —  Viết xong ngày 29.03.2016

07 — 

Chúng ta cần thủ lĩnh? 

Xin trả lời ngay: ”Đúng, chúng ta cần thủ lĩnh.” 

Có thể là một thủ lĩnh hay một nhóm thủ lĩnh. 

Cụm từ “thủ lĩnh” hay nhu cầu đòi hỏi cần có một thủ lĩnh được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhất là giai đoạn hiện nay. Khi mà công cuộc tháo gỡ độc tài và xây dựng dân chủ đang ở vào giai đoạn cam go và cấp bách nhất.

Nhiều người đã không ngần ngại liệt kê một số gương mặt “sáng giá” để làm ví dụ điển hình và kỳ vọng những người này sẽ dẫn dắt cuộc cách mạng chống độc tài đi đến chiến thắng cuối cùng. 

Những người được kỳ vọng sẽ trở thành “thủ lĩnh tương lai” thường là những cựu tù nhân lương tâm, người đang còn ở trong tù hay có thể là một gương mặt đấu tranh nổi trội được công luận quan tâm. Tức là những người đã kinh qua thử thách trong môi trường khắc nghiệt nhất, đòi hỏi lòng dũng cảm, sức chiu đựng và sự hy sinh không nhỏ. 

Họ được xem là thành phần tinh hoa, có trình độ học vấn, có nhiều đóng góp và có uy tín, ảnh hưởng đối với giới đấu tranh trong nước cũng như hải ngoại. 

Song, người viết cho rằng các phẩm chất và yếu tố trên mới chỉ làm nên chân dung đẹp của một nhà tranh đấu chứ chưa đủ yếu tố để trở thành thủ lĩnh. 

Những người tranh đấu này là những cá nhân nhỏ bé, với tiếng nói đối kháng đơn độc đã thách thức chế độ độc tài. Họ là những người đã chủ động mở ra và theo đuổi một cuộc chiến không cân sức, kéo dài nhiều năm và đương nhiên luôn đón nhận những mất mát, hy sinh và nguy hiểm.

Đó là câu chuyện cảm động nhất mà lịch sử của một dân tộc cần ghi dấu. Tuy nhiên, điểm kết thúc phải là cuộc xuống đường ầm ầm như thác lũ của số đông quần chúng, nhân tố chính góp phần khai tử và kết thúc một chế độ độc tài tàn bạo. Để đạt kết quả ấy, hay nói khác đi, khi chúng ta nhìn thấy “hình ảnh sau cùng” của một cuộc cách mạng, đó là lúc chúng ta thấy kết quả của một nỗ lực Quy Tụ, Thu Hút và Dẫn Dắt được quần chúng. 

Đấy là dấu ấn của thủ lĩnh, của một thủ lĩnh hay một nhóm thủ lĩnh.

Thủ lĩnh phải được hiểu là người có khả năng Quy Tụ, Thu Hút và Dẫn Dắt được quần chúng

Họ có thể nằm trong số những gương mặt đã được điểm tên, kỳ vọng. Cũng có thể là một người chưa… xuất hiện và anh ta chưa chắc là một nhân vật tiếng tăm hoặc được truyền thông chú ý. 

Điều cần phân biệt rạch ròi khi đánh giá một nhân vật là khả năng quy tụ, thu hút và dẫn dắt quần chúng với một cá nhân có uy tín, ảnh hưởng đối với những người tranh đấu — tức là có sự thu hẹp trong phạm vi đối tượng. 

Nhân vật A, B, hay C có thể rất nổi tiếng, được nhiều người ngưỡng mộ, song anh ta sẽ không bao giờ đảm nhận được vai trò thủ lĩnh khi không thu hút được quần chúng. Cùng lắm, anh ta trở thành chất keo gắn kết giữa những người tranh đấu với nhau nhằm ngăn chặn yếu tố tan rã vốn luôn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, hay hội, nhóm trong môi trường tranh đấu. 

Ngược lại, một người hoặc một nhóm người không tên tuổi hoàn toàn có thể trở thành nhân tố dẫn dắt một phong trào và đóng vai trò quyết định thành công cho cuộc cách mạng. Điều này đã được chứng minh trong Mùa Xuân Ai Cập với những người lãnh đạo Phong Trào 6 tháng 4, cuộc cách mạng tại Serbia với Phong Trào Optor, hay các cuộc cách mạng ở Miến Điện, Zimbabwe … Đơn giản vì họ biết cách huy động quần chúng và vượt qua sợ hãi. 

Không thế có một cuộc cách mạng sau cùng nếu không có sự ủng hộ của nhiều người dân. 

Không thể có sự xuống đường của người dân nếu họ chưa vượt qua sợ hãi. 

Và không thể vận động người dân vượt qua sợ hãi khi bản thân còn sợ hãi và không chịu tiếp cận với quần chúng. 

Đấu tranh không tiếp cận quần chúng là kiểu đấu tranh què quặt, ảo tưởng và đi đến thất bại

Số lượng quần chúng thật sự nằm rất ít trong số quần chúng ảo — rất lớn — ở trên mạng Internet. Khó mà đạt kết quả chỉ với những hiệu triệu trên mạng mà bản thân những người tranh đấu không bước xuống đời thật để tiếp cận người dân. Tương tự như một lời tuyên bố, một lời kêu gọi của một hay nhiều hội nhóm nhưng chỉ tồn tại trên văn bản mà không kèm theo hành động cụ thể. Giống như việc giậm chân tại chỗ xong vẫn nhận lấy những phiền hà, sách nhiễu không đáng có từ phía nhà cầm quyền chỉ vì gây ra lo lắng ảo cho chúng. 

Với khả năng hạn chế, người viết không chủ trương đưa ra giải pháp “Chúng ta phải làm gì?”

Càng không cho rằng mình đứng ngoài những yếu tố khiếm khuyết của một người đã tham gia đấu tranh và từng chịu tù đầy. Cũng như luôn ý thức được sự đóng góp của mình là vô cùng ít ỏi.  

Song mạnh dạn chia xẻ chút suy nghĩ nho nhỏ, để phân biệt giữa thủ lĩnh thực sự tức những người có khả năng thu hút và hướng dẫn quần chúng nhằm tiến hành một phong trào, một cuộc cách mạng với thủ lĩnh được hiểu theo nghĩa một người có uy tín, có ảnh hưởng nhất định bởi đóng góp trong quá khứ hơn là khả năng lôi kéo được quần chúng hay đưa ra các sáng kiến, giải pháp thực tế thúc đẩy dân chủ cho đất nước. 

Trước mọi diễn biến gần đây, nhiều người khá lạc quan cho rằng, chỉ một hay hai năm nữa thôi, mọi thứ sẽ thay đổi. Chúng ta sẽ hoàn tất sứ mệnh giải thể độc tài bởi… cộng sản rệu rã lắm rồi. 

Tôi nghĩ khác. 

Hơn lúc nào hết Phong Trào Dân Chủ đang đứng trước những khó khăn vô cùng lớn bởi đã bị cuốn vào cuộc chiến chống ngoại xâm. Dù cộng sản rệu rã đến mấy vẫn có thể hồi sinh nếu không gặp một sức ép nào đáng kể từ khối quần chúng

Đây là thời điểm để chúng ta nghĩ đến chuyện bắt đầu hơn là chuẩn bị cho sự kết thúc

Loai trừ yếu tố tham vọng hay điều gì đó thiếu thiện chí, mỗi người dân chúng ta hãy khám phá khả năng của mình thay vì tự giới hạn bản thân. 

Hãy bắt đầu từ việc tiếp cận hoặc tìm kiếm một người bạn đồng hành. 

Hãy bắt đầu bằng một công việc nhỏ nhất nhưng có tiếp cận, có bóng dáng của quần chúng, cho dù chưa được nhiều để có được hàng vạn người cho tương lai. 

Mọi sự bắt đầu thường khó khăn. 

Nhất là sự bắt đầu được bắt đầu ở một giai đoạn tưởng như sắp kết thúc.

                                                   — Ngày 13/6/2014

08 —  

Chuyện Của Quyên

Tiếng chó sủa inh ỏi khiến Quyên bừng tỉnh. Cô khẽ khàng trở dậy để đứa con 19 tháng tuổi không giật mình thức giấc. Cô rón rén rời khỏi chỗ nằm. Vừa bước ra cửa, lập tức Quyên bị một nhóm công an xông vào lôi đi. Chúng túm tóc, kéo lê cô trên đường. Vừa lôi kéo, vừa đánh đập và chửi rủa. Chúng tống Quyên lên xe rồi bẻ tay cô ra sau, lấy túi ni lông màu đen trùm kín đầu cô lại. Không nhìn thấy gì nhưng Quyên nghe thấy nhiều tiếng chửi rủa, nạt nộ, ra lệnh của công an, lẫn với những tiếng gào khóc, la thất thanh của những người hàng xóm. Giữa những tiếng kêu gào, thất thanh ấy có cả tiếng của chồng, của bác và người dì ruột của Quyên. Họ cũng bị những nhóm công an lôi đi. Rồi cô nghe rõ tiếng khóc đầy kinh hãi của các con mình.

Quyên bị trùm kín đầu, bịt miệng, thỉnh thoảng lại bị tên công an nào đó ngứa tay ngứa chân đánh, đá cho vài cái trong suốt chặng đường bị bắt từ nhà đến đồn công an.

Chúng tra khảo, buộc tội cô đủ điều. Nhưng Quyên không bận tâm. Nỗi đau trên thân thể không là gì so với nỗi lo lắng, xót xa cho các con. Giờ này ai chăm nom chúng khi gia đình cô cả thảy 4 người bị bắt: hai vợ chồng Quyền, ông bác và bà dì ruột.

Hôm ấy là một ngày kinh hoàng và dài lê thê.

Xong việc, chúng thả cô khỏi đồn công an. Khi ấy, trời cũng đã về khuya.  “Xong việc”, tức là chúng đã hoàn thành mục tiêu phá huỷ toàn bộ hơn 500 căn nhà ở Vườn rau Lộc Hưng. Nhanh gọn, sạch sẽ, và không chút ghê tay.

Khi bị giam trên đồn công an, Bảo Quyên biết rằng 5 căn phòng trọ của mình và hàng trăm căn nhà khác đều bị phá huỷ. Nhưng cô vẫn bàng hoàng trước cảnh tượng mắt mình đang chứng kiến. Quyên không còn nhận ra đâu là vết tích của căn nhà mình, nơi mới chỉ hôm qua thôi vẫn rộn rã tiếng cười con trẻ. Không còn nhà, không còn ngõ, không còn những luống rau xanh mướt. Chỉ thấy đống đổ nát khổng lồ với những gương mặt rúm ró đớn đau. Tiếng ai oán, tiếng than vãn hoà lẫn với bóng đêm. Ba đứa con của Quyên ngơ ngác khi nhìn thấy mẹ, không giống với mẹ chúng hàng ngày. Ôm con vào lòng, cố nén nhưng nước mắt vẫn trào ra. 

Bảo Quyên là thế hệ thứ ba trong một gia đình Công giáo “Bắc 54” gắn bó với mảnh đất Vườn rau Lộc Hưng. Nếu nhà cầm quyền không biến nơi đây thành đống đổ nát, thì các con của Bảo Quyên sẽ trở thành đời thứ tư kế tiếp, sinh sống trên mảnh đất cha ông để lại. Và tương lai của chúng cũng không bị tước đoạt đến mức “chẳng còn nhà để về” như bao gia đình khác tại Vườn rau Lộc Hưng sau ngày 4 và 8/1 kinh hoàng ấy.

Quyên không bao giờ nghĩ rằng gia đình mình và bà con chòm xóm phải trải qua cơn khổ nạn thương tâm này. Trong vòng hơn 10 tiếng đồng hồ, toàn bộ cư dân Vườn rau Lộc Hưng đã bị nhà cầm quyền hoá phép, biến thành những kẻ vô gia cư, không còn nhà để về, không có nơi nương náu.

Đêm nay, gia đình Quyên và nhiều gia đình khác phải ngủ ngoài trời. Rồi cũng từ hôm ấy, hàng trăm người dân Vườn rau Lộc Hưng lâm vào cảnh khốn cùng, điêu đứng. Không phải ai cũng mạnh mẽ, vững chãi để đối mặt với sự cướp phá, cơn tai họa quá lớn này. Nhiều người suy sụp cả sức khỏe lẫn tinh thần. Anh Tám phải điều trị ở bệnh viện tâm thần. Chị Hương luôn miệng nói nhảm, “chúng nó đến đập nhà kìa, đóng cửa lại đi” mỗi khi có người tới thăm. Còn bao nhiêu người hoảng loạn như thế. Rồi còn phải “cắt cử” người ra trông đất nữa. Ra trông đất là không thể đi làm kiếm tiền được. Phải chấp nhận dầm sương dãi nắng, đối mặt với đàn áp, đánh đập, bắt bớ của công an, côn đồ. Nhiều ngày, nhiều tháng, có khi nhiều năm, chưa biết đến bao giờ chấm dứt.

Không có khả năng thuê nhà trọ, vợ chồng Quyên cùng ba đứa con phải tá túc trong nhà kho của một người họ hàng. Đứa con trai lớn của Quyên lên 6 tuổi, đứa thứ hai lên 3, liên tục kêu nóng, kêu nhớ nhà.

Tròn 2 tháng sau khi bị đập nhà, cướp đất, Quyên lại bị bắt. Vào đúng cái ngày mà nhà nước CHXHCN Việt Nam rêu rao là “Ngày Quốc tế Phụ nữ” 8/3.

“Tội” của Quyên là dám quay phim, ghi lại hình ảnh bà con dân oan VRLH ra thăm mảnh đất của mình, tặng hoa và động viên nhau vượt qua kiếp nạn này. Bị bắt cùng với Quyên còn có một người mẹ trẻ khác là Thuý Thanh. Nhưng trong cơn vùng vẫy, Thanh bị rơi khỏi xe. Và cô chỉ bị đánh đập thôi, không bị bắt lại. 

Quyên bị tống lên xe. Lần này chúng không lấy túi ni lông màu đen để trùm đầu cô nữa.

-Phản đối công an đàn áp, bắt bớ người dân! Cô la lớn.

Một trong những tên bắt cô quát:

-Chúng mày mà là người dân à?

Một tên khác đặt tay lên người cô, ý định sàm sỡ. Quyên hét lên:

-Anh mà giở trò, tôi sẽ kiện. Hắn thôi.

Quyên bị đưa đến đồn công an phường 10, quận Tân Bình. Tra khảo chán, chúng lại tống cô lên xe, chở đến đồn công an phường 1.

Quyên kể với tôi, giọng phẫn uất “chúng cho hai người phụ nữ vào lột quần áo của em. Hai chị này khoảng ngòai 30 tuổi, mặc áo dài, trang điểm đẹp đẽ, đi giày cao gót, đeo kính cận trông có vẻ trí thức lắm”.

Bảo Quyên còn kể rằng khi cô đau bụng, muốn đi vệ sinh họ cũng đi theo trong tình trạng cô không còn mảnh vải trên người. Quyên ngồi trên bồn cầu, quay mặt vào trong, nói với bọn lột đồ:

-Tôi đau bụng lắm rồi. Nếu các chị không ra ngoài, làm sao tôi đi nổi. Chả lẽ các chị đứng đây để ngửi cứt của tôi?

Hai tên công an nãy giờ vẫn thập thò ngoài cửa toilet, ra lệnh cho hai ả “trí thức”:

-Ra ngoài cho nó đi, nhưng bảo nó không được chốt cửa.

Suốt 9 tiếng đồng hồ bị giam, có lúc công an đã phải gọi bác sĩ đến thăm khám cho Quyên vì cô bị hạ đường huyết, kiệt sức. Nhưng chỉ khám thôi, không thuốc men, cũng không được ăn uống gì. Cô yêu cầu được về nhà để cho con bú, nhưng chúng phớt lờ. Chúng đe dọa, rồi dụ khị cô. Vẫn là những luận điệu quen thuộc. Đại loại “Ai là kẻ xúi giục bà con ra đất?; Ai cầm đầu?; Ai cho tiền để ra đất ngồi?; Có phải anh Chánh, anh Trực (*)xúi bẩy, cầm đầu không?; Có biết quay phim, chụp hình là chống lại chính quyền không…?

Ông Nguyễn Thành Danh, chủ tịch UBND phường 6 xuất hiện. Thì ông cũng vẫn tra hỏi những câu công an vừa hỏi thôi. Nhưng có thêm máy quay phim để trước mặt. Quyên im lặng. Cô biết rằng, chỉ cần cô mở miệng thôi, bất kể là nói gì thì sau này sẽ có hình ảnh “lãnh đạo chính quyền địa phương tiếp xúc với bà con Vườn rau Lộc Hưng”, hoặc “người dân VRLH cảm ơn lãnh đạo địa phương đã quan tâm đến đời sống bà con”, hay “người dân Lộc Hưng đã nhận hỗ trợ thỏa đáng”, để đưa lên truyền thông “lề đảng”… Tôi thầm cảm phục người phụ nữ trẻ này vì sự thông minh, kinh nghiệm của cô khi đối phó với công an, với quan chức cộng sản. Danh khuyên Bảo Quyên về thuyết phục bà con nhận tiền đền bù và trả thêm 30% cho những ai ra kê khai tiếp. Quyên thẳng thừng từ chối và khẳng định quyền sở hữu của bà con trên mảnh đất VRLH. Đồng thời tố cáo chính quyền địa phương (trong đó có Danh) đã phá nhà, cướp đất của người dân Vườn rau.

Đe dọa không được, dụ khị, vuốt ve cũng không xong. Công an yêu cầu cô ký biên bản phạm tội “tụ tập trái phép, gây rối an ninh trật tự và tự ý quay phim, chụp hình”. Tất nhiên là Bảo Quyên không ký.

Sau 9 tiếng đồng hồ bị giam giữ, tra khảo, nhục mạ và bị bỏ đói. Quyên được thả khỏi đồn công an để…tự đi về trong tình trạng căng thẳng, kiệt sức. Giống như lần bị bắt hai tháng trước, đứa con út của cô khóc cả ngày vì nhớ mẹ, khát sữa. Hai đứa lớn đã lờ mờ hiểu về thảm cảnh gia đình nó nên cũng ít vui đùa, và nhút nhát hẳn. Mẹ Quyên quá mệt mỏi và xót cháu nên đã mang bé út mới 19 tháng tuổi về quê “mày cứ căng thẳng như thế chẳng còn sữa cho con bú, thôi thì để mẹ mang cháu về quê cho nó đỡ khổ. Nay mày bị bắt, mai bị đánh đập, thằng bé hoảng sợ cũng không lớn nổi”.

Quyên tâm sự với tôi “Em biết là chị cũng có con nhỏ như em, cũng mất hết không còn gì trong đợt cưỡng chiếm vừa rồi. Nhưng chị ráng lên nhé. Chúa và Mẹ không bỏ rơi chúng ta đâu”.

Ừ thì phải ráng thôi Quyên ạ, chứ còn cách nào khác nữa. Mọi sự, chúng con xin phó thác cho Chúa.

Phạm Thanh Nghiên

(còn tiếp)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.