“Những mảnh đời sau song sắt”-Hồi ký Phạm Thanh Nghiên kỳ 6

Những mảnh đời sau song sắt (kỳ 6)

Hồi ký của Phạm Thanh Nghiên

05 —

Giếng Tù – 1

Hồi mới lên trại, ấn tượng đầu tiên đập mạnh vào cảm xúc của tôi không hẳn là các hình hài mặc quần áo kẻ sọc, tất bật và mệt mỏi, u ám và thê lương đi đi lại lại, di chuyển trong mảnh không gian chật chội của nhà tù. Các hình ảnh ấy tôi đã hình dung được khi còn ở Trần Phú, lúc chưa phải mặc bộ đồ tù. Cảm giác rờn rợn, sờ sợ bám lấy tôi khi tôi vừa trông thấy nó: Cái giếng tù.

Giếng tù to gấp mấy lần giếng nhà. Đứng cách xa vài mét, tôi vẫn có cảm tưởng nó sẽ nuốt trọn hình hài bé nhỏ, yếu ớt của tôi. Trong khi các tù nhân khác thản nhiên đứng trên miệng giếng múc nước, đùa giỡn, hoặc chửi nhau nữa, còn tôi, cứ rụt rè, run rẩy mỗi lần phải chung đụng với nó. Hơn một tuần sau, tôi mới hết sợ. Đôi khi nghĩ lại, tôi thấy ngượng vì đã sợ nó lúc ban đầu.

Mỗi khu giam giữ đều có một sân giếng là nơi tắm giặt, để xô, chậu. Nơi tắm giặt lộ thiên. Không mái che. Không tường bao. Hàng ngày, cả trăm con người cứ trần truồng đứng giữa trời kỳ cọ, gột rửa. Hết năm này đến năm khác. Mùa đông rồi mùa hè. Hết lớp tù này đến lớp tù khác. Có người tắm xong trúng gió, cảm giật méo mồm. Có người chẳng biết vì sao còn nhảy xuống giếng tự vẫn. Đấy là trường hợp của Nụ, một tù nhân phạm tội giết người. Nụ đã giết một bà cụ ngoài bẩy mươi bằng cách lấy đá đập vào đầu bà để cướp chiếc nhẫn vàng.

Nhưng bà cụ không chết ngay. Nụ trói chặt bà cụ lại bằng dây thừng rồi ném bà xuống giếng. Bà cụ chết hẳn. Ra tòa, Nụ lĩnh án chung thân.

Thời gian tôi ở Trại 5, từng chứng kiến mấy vụ tự tử. Chẳng ai chết ngay. Người muốn chết hình như khó chết, ít ai được toại nguyện. Sống, để gánh trọn kiếp tù đày. Buổi sáng hôm Nụ nhảy xuống giếng, cả phân trại nhốn nháo. Những nét mặt tù âu lo, hoảng hốt, thật tội nghiệp.

– Đang yên nó từ trong buồng đi ra, nhảy tùm xuống giếng. Chẳng nói năng câu nào.

Một người ở cùng buồng với Nụ thuật lại.

Nụ được bạn tù cứu, thoát chết. Sau vụ nhảy giếng tự tử nhưng không chết, Nụ có thêm biệt hiệu Nụ Giếng. Tù đồn đến ngày rằm hoặc mồng một là đôi mắt Nụ Giếng cứ long lên, miệng lẩm bẩm những gì không ai hiểu. Người ta bảo, ai từng giết người đều có biểu hiện như thế. Người tù tin rằng Nụ bị oan hồn bà cụ ám ảnh, đến đòi nợ và đẩy Nụ xuống giếng. Hôm Nụ Giếng tự tử, không phải ngày rằm, cũng chẳng phải ngày mồng một. Nụ thoát chết, nhưng không thoát án kỷ luật. Kỷ luật vì tội tự tử. Lũ tù chúng tôi gần cả ngàn người, ngồi xếp hàng giữa sân chung chờ đợi một cuộc đấu tố.

Nụ lạc lõng, ánh mắt đờ đẫn hơn là sợ hãi nhìn người cai tù đang tiến đến gần. Mụ ta dừng lại, cách chỗ Hoa đang đứng chừng dăm bẩy mét. Bằng giọng gắt gỏng, chát chúa, mụ ta đọc một lèo hết cái quyết định kỷ luật tù nhân, không lần nào nhấc nổi khuôn mặt lên nhìn. Cai tù nào cũng vậy, rất sốt sắng làm công việc trừng phạt tù. Mỗi lần như thế, chúng thấy oai hơn, quyền lực hơn trong mắt người tù và cả bọn đồng nghiệp.

Gấp văn bản lại, mụ ta tiếp tục màn đấu tố không giấy tờ. Màn đấu tố không giấy do cai tù tự biên tự diễn. Cai tù thường coi những cuộc kỷ luật tù nhân, hay ngày thứ hai đầu tuần là cơ hội để được đứng trước sân chung trổ tài ăn nói, và tha hồ nhiếc mắng người tù.

Nụ bị nhiếc mắng không tôn trọng kỷ luật trại giam, không chịu thay đổi tư tưởng nên mới làm chuyện dại dột. Rằng một khi đã được đảng và nhà nước quan tâm và chăm lo đời sống “phạm nhân” từ A đến Z, lẽ ra Nụ phải coi đó là động lực và trách nhiệm để phấn đấu cải tạo tốt, từ đó thành “phạm nhân” tốt mới mong làm công dân tốt khi ra ngoài xã hội. Mụ cai tù sẵng giọng: “Nếu ngay cả đi tù mà còn chán đời thì ở nhà các chị còn chán đời thế nào?” Rồi mụ chì chiết: “Các chị đi tù, không phải bươn chải cuộc sống, chỉ việc yên tâm cải tạo cho tốt rồi về. Còn ở ngoài, phải bon chen, lừa lọc nhau đủ kiểu mới có lý do để nghĩ đến cái chết.”.

Cứ thế, mụ thao thao bất tuyệt ca ngợi cuộc sống tốt đẹp mà chúng tôi may mắn “được” hưởng, chẳng để tâm đến lũ tù đang sốt ruột mong đến lúc xuất trại.

Mặc kệ bọn cai ngục cứ vu khống nhà tù là thiên đường, người tù vẫn dứt khoát coi nó là địa ngục. Cái địa ngục không cần đợi lúc chết mới nếm trải. Nó là địa ngục trần gian mang tên “nhà tù cộng sản.”

Màn cuối cuộc đấu tố, mụ cấm lũ tù không được nghĩ đến tự tử. Còn khi đã tự tử, là phải chết ngay, khỏi mang tiếng giả vờ muốn chết. Cũng khỏi làm ảnh hưởng đến thành tích thi đua của đội và của toàn phân trại.

Chuyện của Nụ rõ rành rành, nhưng có người vẫn ác khẩu, đổ cho Nụ tội “giả vờ tự tử”, “không có gan chết thật.” Những lời vu khống ấy, có cai tù khuyến khích.

Tôi ít khi ra sân chung ngồi xếp hàng. Tôi thường đứng tránh nắng ở một gốc cây nào đó. Hoặc thơ thẩn dưới căng tin chơi với thằng Quýt hoặc thằng Bim-bô rồi chờ giờ xuất trại. Tôi đặt tên con chó là Quýt, con mèo là Bim-bô. Chúng là vật nuôi của người cán bộ bán hàng ở căng-tin. Về sau, cả hai  người bạn nhỏ của tôi đều bị ban giám thị đem ra giết thịt khoản đãi đoàn kiểm tra từ Hà Nội về. Tù bảo ban giám thị cố tình làm thế để tôi đau đớn, buồn khổ như một cách trả thù tôi cho bõ ghét.

Tôi khóc thương chúng mất mấy ngày. Từ hôm ấy, mấy người cai tù mà tôi nghi là có mặt trong bữa tiệc ăn thịt Quýt và Bim-bô, dù có chào hay gật đầu cười với tôi khi giáp mặt, tôi cũng không thèm trả lời.

Thời gian đầu mới lên trại, cai tù còn nhắc nhở, yêu cầu tôi ra sân ngồi xếp hàng. Tôi bảo không có nhu cầu. Họ nhắc chán, tôi không nghe, cũng không cự cãi, cứ làm theo ý mình. Lâu dần không ai đả động đến tôi nữa.

Hôm Nụ bị đấu tố trước sân chung, tôi cũng ra ngồi xếp hàng. Tôi cần chứng kiến một màn đấu tố.

Rờn rợn nghe, rợn rợn thấy. Cái man rợ mà người ta vẫn nói đến, là đây chứ đâu.

Tôi không hay nói chuyện với Nụ.

Chỉ biết Nụ sau vụ cô ta nhảy xuống giếng tự tử. Có hôm gặp, Nụ chào tôi, cười rất tươi. Cũng có lần Nụ coi tôi như người không quen biết.

Hôm tôi gần về, gặp nhau dưới căng tin, Nụ bảo:

– Chị Nghiên ơi! Em quý chị lắm. Nhưng cán bộ không cho em chơi với chị. Hôm nọ có người còn dọa em là nếu chơi với chị, thì khi em tự tử, sẽ không ai thèm cứu em nữa.

Tôi không tin câu chuyện ấy của Nụ.

Chắc nó tưởng tượng ra thế thôi.

Không biết sau này Nụ có tự tử thêm lần nào nữa không. Nếu có, không biết bao giờ nó mới đủ tiêu chuẩn xét giảm. Án chung thân của Nụ, vì thế mà dài hơn những án tù chung thân khác.

06 —

Giếng Tù – 2

Cái giếng khu tôi mới chuyển sang bị ô nhiễm, thi thoảng nước đen như nước cống. Có lúc lại trong veo. Kệ, người tù cứ dùng. Khi nào nó chuyển mầu đen thì sang khu khác dùng nhờ. Giếng trong, lại dùng tiếp.

Cai tù không khắc phục, không nạo vét sửa chữa gì và giải thích là tại… nguồn nước ở đây nó thế.

Tôi chuyển sang khu ấy được vài tuần, gặp đúng dịp nước đen. Chưa kịp đi gặp cai tù để phàn nàn, hai hôm sau họ thuê người dân vào nạo giếng. Bạn tù cho rằng tại cai tù “sợ” tôi nên phải cẩn thận. Tôi không mơ hão đến chuyện cai tù “sợ” mình, cùng lắm là họ ngại và muốn ra vẻ có trách nhiệm mà thôi. Thế cũng tốt.

Không chỗ nào trong tù nhộn nhịp, nhốn nháo hơn sân giếng. Đi làm về, việc đầu tiên của tù là lao ra sân giếng. Người ta có thể ăn ngót cái bụng, nhưng cứ phải tắm táp, thay quần áo cái đã. Những việc khác làm sau, cho kịp giờ bị lùa vào buồng. Khổ nhất là về mùa đông, trời nhanh tối nên điểm buồng rất sớm. Tôi không phải đi làm nên nhàn tênh. Lúc mọi người chen chúc ngoài giếng tôi lang thang khắp sân trại, bế thằng Khoai Tây cho mẹ nó tắm giặt. Hoặc nằm khểnh trong nhà, chờ người bạn tù chung mâm tắm gội xong thì ăn cơm.

Hôm ấy đang nằm, tôi nghe thấy giọng con bé Túc la thất thanh: “Mọi người ơi, cái gì ở dưới giếng đây này.” Mọi người lao ra xem, hàng chục con mắt tù đổ xuống giếng. Một con mèo. Không biết con mèo ở đâu lang thang vào nhà tù để ngã xuống giếng như thế.

Cuộc giải cứu con vật tội nghiệp bắt đầu. Phải bằng mọi cách vớt nó lên, chứ nó chết ra đấy, lấy nước đâu mà dùng. Khó khăn lắm mới mượn được cái thang của bọn thi đua.() Con bé Túc, người dân tộc Thái, to cao, khỏe mạnh được phân công lội xuống vớt mèo. Con mèo chui vào hốc đá, liên tục gầm gừ. Túc ở trần, mặc độc chiếc quần lót, mặt đỏ gay, vừa chửi mèo vừa cố lôi nó ra. Mỗi lần Túc thò tay vào hốc đá đều bị ăn quả cào của con mèo. Lại rụt tay về. Hàng chục lần như thế.

Sốt ruột lắm rồi. Chưa cơm nước, tắm giặt gì.

Người ta giục Túc nhanh lên, kẻo bị lùa vào buồng, nhịn đói và chịu bẩn cả lũ. Những người khác lục tục bê xô chậu sang khu khác tắm nhờ. Bên này, còn nghe rõ cả tiếng cãi vã nhau vì giếng nhà hàng xóm quá tải.

Túc bị mèo cào rách cánh tay, tóe máu.

Hơn chục người tù đứng bên trên chỉ đạo. Người thì cổ vũ, người chửi Túc ngu. Túc vừa cố bắt mèo, vừa ngửa cổ lên cãi, thách những chị tù khác trèo xuống như nó. Không ai chịu hy sinh như Túc, nhưng vẫn đứng bên trên chỉ đạo. Tôi chạy ra xem, thấy tội nghiệp Túc. Tù cuống, nên đôi khi trở nên tối dạ, chứ thực sự việc bắt con mèo đâu cần nhọc sức thế. Vả lại, không cuống sao được khi sắp đến giờ điểm buồng mà chưa tắm giặt, cơm nước gì. Cứ vật lộn với con mèo, không biết đến bao giờ. Tôi đưa Túc chiếc áo cũ, bảo nó quấn vào cánh tay.

– Em té nước vào mặt con mèo đi.

Tôi nói với Túc.

– Té nước vào mặt để nó sợ, làm sao nó dám chui ra. Xúi dại à?

Một chị tù mắng tôi. Vài chị khác vào hùa, nhao nhao phản đối. Bảo tôi không biết gì nên ngồi trong nhà, xông ra đây làm gì. Tôi không để tâm, nhắc lại câu ấy.

Túc quý tôi, hay gọi đùa tôi là “ông trẻ” xưng “cháu.” Chắc vì thế mà nó tin, làm theo cách tôi bảo. Bị hắt nước túi bụi vào mặt, con mèo vội chui khỏi cái hốc, bơi ra mặt nước. Cánh tay Túc lúc này được bảo hộ bằng chiếc áo cũ của tôi, không sợ bị cào nữa. Nó tóm gọn con mèo, bỏ vào chiếc gầu múc nước tôi đã thòng sẵn xuống.

Vừa được kéo khỏi miệng giếng, con mèo nhảy khỏi chiếc gầu, chạy như bay. Không ngoái đầu lại nhìn lũ tù chúng tôi một lần. Mọi người thở phào. Mấy chị tù vừa mắng tôi, nhìn tôi cười ngượng.

Túc chèo lên đến nơi, vừa thở hổn hển, vừa khen:

– Cuối cùng chỉ có “ông trẻ” là thương cháu. “Ông trẻ” giỏi. Không có “ông trẻ” không bắt được mèo.

– Thôi đi đồ dở hơi. Nhìn mày chả giống ai. Đi tắm đi kẻo bị lùa vào chuồng, con ạ.

Tôi mắng yêu con bé. Lúc này Túc mới có thì giờ nhìn lại bộ dạng mình. Bộ dạng đứa tù trẻ mặc độc chiếc quần lót, tay quấn giẻ và đầu tóc bê bết nước. Nó nhăn nhở cười, lục tục gỡ dây gầu múc nước, không quên chổng mông vào mặt tôi rồi vỗ đét một cái.

Sau mười lăm năm tù, không biết Túc có còn giữ được nét hồn nhiên, chất phác như thế nữa không?

Điểm buồng. Mọi sinh hoạt đều phải dừng hết. Người đang tắm dở cũng phải mặc nhanh quần áo cho kịp. Mâm cơm đang ăn, cũng dẹp. Cửa buồng đóng, mấy chục con người lại lầm lũi trong bốn bức tường.

Mệt nhoài chờ đợi những ngày tù mới.

Buổi sáng buồng giam cũng nhiều chuyện đáng để kể lắm. Lúc chờ mở cửa, người thì tranh thủ cãi nhau — thường do các xung đột phát sinh từ ban đêm không thể giải quyết ngay vì vướng giờ khóa mồm —, người thì cặm cụi gấp chăn màn. Có người dấm dúi làm việc riêng. Việc riêng được hiểu là giấu tiền hay thư tình sao thật khéo để qua mặt được cai tù lúc xuất trại. Tấp nập nhất là khu vực nhà mét, kẻ ra người vào va cả vào nhau. Đi vệ sinh cũng cần nhanh chân, chậm thì không đến lượt.

Đang chờ cai tù mở cửa, bỗng một tiếng “rầm” vang lên rất to. Tiếng cãi nhau, tiếng rì rầm im bặt. Ai cũng dỏng tai nghe xem âm thanh phát ra từ đâu. Rõ ràng không phải buồng bên này. Túc nhanh chân, chạy huỳnh huỵch từ trên gác xuống, ghé mắt dòm qua khe cửa.

– Bên kia có người bị ngã cầu thang.

Giọng Túc hớt hải.

– Cán bộ vào rồi. Có người bị khiêng đi.

Túc tường thuật lại cho lũ tù đang hồi hộp, đứng một đống phía sau lưng nó ngóng tin.

Cuối cùng cửa buồng tôi cũng được mở.

Người bị ngã từ cầu thang xuống là Linh, bạn ăn chung mâm với Túc.

Chiều qua, Linh đang ăn dở bát cơm thì đến giờ bị “lùa vào chuồng.” Nó đánh liều mang cơm vào buồng để ăn. Sáng nay, khi đang đi từ cầu thang xuống với lỉnh kỉnh âu bát, nó nghe tiếng người cai tù đi vào cổng khu. Linh sợ cai tù biết nó mang cơm vào buồng, cuống quá, nó bước hụt rồi ngã. Tiếng “rầm” mà buồng bên này chúng tôi nghe thấy là tiếng đầu Linh đập xuống nền nhà.

Linh được nằm dưới y xá ngày hôm ấy. Nó đau và choáng váng không đi làm được. Bạn tù bàn ra tán vào, nói số nó may. Đầu đập xuống nền nhà như thế mà không chết, không chấn thương sọ não là may chứ còn gì nữa.

07 — 

Khó Chết.

Vụ kỷ luật Nụ Giếng vì tội tự tử nhưng không chết ít nhiều cũng làm các tù nhân chán đời khác hoang mang, đắn đo. Người ta không sợ chết bằng sợ phải “bán thịt mặt” trước đông đảo bạn tù. Tức bị bêu mặt giữa sân chung nghe cai tù chì chiết, xúc phạm khi đọc quyết định cảnh cáo hoặc kỷ luật. Những cuộc đấu tố trước đám đông do cai tù chủ trì thường khiến nạn nhân mất tinh thần nhiều ngày sau. Tự tử chết, người ta thương. Không chết, người ta cười. Rút kinh nghiệm từ thất bại của Nụ Giếng, chị Hồng Tỷ chọn cách táo bạo hơn: Thắt cổ!

Buổi trưa hôm ấy, vừa nhập trại thì nghe tiếng la thất thanh: “Có người thắt cổ, có người thắt cổ!

Tiếng người chạy rầm rầm. Rồi tiếng la hét, hô hoán. Tiếng quát tháo. Tiếng tò mò, hốt hoảng hỏi nhau. Chỉ không có tiếng cười. Đầy đủ âm thanh ghê rợn của nhà tù vào buổi trưa hôm ấy. Chị Hồng Tỷ lại được cứu.

Và mấy ngày sau chị bị đứng trước sân chung nghe đấu tố. Cuộc đấu tố chị lâu hơn cuộc đấu tố Nụ Giếng. Vì chị cãi — đúng hơn là vùng vằng lại cai tù mấy câu. Thành ra phải dạy dỗ, giáo huấn và trì chiết lâu hơn.

Chị Hồng Tỷ bị án tù chung thân vì tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản.” Nghe nói số tiền đến mấy chục tỉ. Vì thế chị có biệt danh “Hồng Tỷ.” Như bao tù nhân khác, chị cũng cố phấn đấu để đến kỳ được giảm án. Phấn đấu, có nghĩa chị đã gom đủ vốn liếng mười hai năm tù để được giảm án lần đầu. Lần giảm đầu của án chung thân sau khi thụ án đủ mười hai năm là “được” chuyển xuống “án số” — tù có thời hạn — ba mươi năm. Khi may mắn chạm cái đích đầu tiên là thành người tù ba mươi năm, coi như đã đi được một nửa cuộc đời tù.

Để được vào vòng xét giảm, đâu có dễ. Một trong nhiều điều kiện giảm án là phải “Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên.” Một câu quen thuộc mà cai tù thường ném cho tù nhân để thấy chuyện chấp hành nội quy trại giam không phải chuyện dễ: “Tù, hễ mở mắt ra là vi phạm.” Năm nay, chị Hồng Tỷ lại háo hức chờ đợt giảm án. Chị hồi hộp lắm. Tù lâu, nếu không có tiền chạy án, mỗi kỳ chỉ được giảm vài tháng, không biết bao giờ mới trôi hết mấy chục năm tù. Chị mơ tới một ngày được đặc xá, dù biết giấc mơ ấy cũng phải trả bằng tiền. Thôi thì cứ mơ trước, chuyện tiền nong tính sau.

Nhưng ước mơ của chị vỡ vụn sau khi nghe cai tù giải thích về điều kiện đặc xá. Muốn được đặc xá, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn, cần phải bồi thường thiệt hại, tức chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền. Đến tiền mua khoán, tiền tiêu cực để lấy lòng cán bộ, tiền chạy chọt giảm án còn chật vật, lấy đâu ra mà bồi thường, mà hoàn thành hình phạt bổ sung lên tới hàng tỉ đồng. Tuyệt vọng, chị thắt cổ. Nhưng nhà tù này cần chị, để tiếp tục đày đọa. Nên chị không chết.

Vụ tự tử bất thành của chị Hồng kéo theo hệ lụy cho lũ tù chúng tôi. Tất cả dây phơi quần áo do tù tự tạo bằng thừng hoặc bằng dây vải đều bị dỡ bỏ, thu giữ. Dây phơi thép cố định sau dãy buồng giam không đủ chỗ làm khô những bộ quần áo nhếch nhác, ẩm ướt của lũ tù đông đúc chúng tôi. Không còn cách phơi quần áo vụng trộm ở bất cứ chỗ nào có thể, từ bờ rào đến cửa sổ. Và cầu vận may không bị cai tù bắt được. Nhẹ thì khiển trách, nặng thì đống quần áo bị quẳng vào thùng rác. Cãi thì kỷ luật. Tù tức lắm, không làm gì được cai tù quay sang trách “tại con Hồng dùng dây tự tử nên chúng tao khổ thế này”

Vài tháng sau vụ Nụ Giếng và chị Hồng Tỷ tự tử bằng hai cách khác nhau nhưng vẫn không chết, đến chị Thao uống thuốc sâu tự tử. Chị Thao cũng không chết. Khi bạn tù khiêng chị ra cổng để đưa lên xe cấp cứu, tôi chỉ biết đứng nhìn theo mà khóc. Ai cũng tưởng chị sẽ chết. “Đã ỉa đùn ra, không tự chủ được thì chết là chắc rồi.” Người ta kháo nhau như thế, với vẻ ái ngại. Nhưng chị Thao chưa chết được. Nợ đời, nợ tù vẫn đeo đẳng chị.

Hình như tù khó chết hơn người thường thì phải.

Độ một tháng sau, chị Thao ra viện. Cai tù cho chị tiếp tục nằm bệnh xá điều trị. Nằm tại bệnh xá, lúc nào chị cũng nơm nớp về cái án “kỷ luật.” Thi thoảng tôi xuống thăm, lần nào chị cũng lo lắng hỏi “Liệu chị có thoát án kỷ luật không, em?” Chị mong mình ốm lâu thêm nữa, để khỏi bị kỷ luật lúc bình phục.

Rời bệnh xá, chị được xếp vào đội bếp, không phải xuất trại ra đồng trồng rau nữa, nhất là không phải “ăn” kỷ luật, thoát nạn bị đấu tố. Một kết quả mỹ mãn với người tù sau khi phạm tội tự tử. Không ngẫu nhiên mà chị Thao được “ưu ái”, đối xử “nhân đạo” thế. Chị cũng không có tiền đấm mồm đấm miệng bọn cai tù. Nếu có tiền, chị đã trả tám trăm ngàn đồng cho bà Chín Lứ. Nợ mấy tháng không trả được. Bà ta đòi. Rồi đe mách cán bộ. Mẹ con bà Chín Lứ liệt vào thành phần không ai thèm dây. Bà ta cũng như đứa con gái, cái Hiền AK, đều không cần giảm án. Hai mẹ con buôn bán và cho vay lãi trong tù. Vừa nuôi được thân, vừa nuôi cai tù. Sống khỏe.

Bị siết nợ, bị đe gặp cán bộ, lại biết tin con trai ở nhà bỏ học, chơi bời lêu lổng, chị bạo quẫn lắm. Thế nên chị mới găm thuốc sâu mang về. Cán bộ quản đội suýt rụng sao. Chị Hoa Lùn, đội trưởng đội trồng rau cũng bị liên đới trách nhiệm vì tội “không phát giác” chị Thao mang thuốc sâu về trại uống. Cán bộ quản đội và chị Hoa Lùn mất cả đống tiền để cứu mình. Và cứu luôn chị Thao nên mới được nằm bệnh xá, chuyển đội và không bị kỷ luật. Chả nhân đạo ưu ái gì. Đều là do chịu chi tiền mà ra.

Nhưng chị Cúc không “may mắn” như thế. Chị bị ung thư giai đoạn cuối. Đau đớn vẫn phải lê lết đi làm tới khi gần quỵ. Sáng hôm ấy, không thấy chị dậy gấp chăn màn như mọi khi. Bạn tù gọi, không thấy chị thưa. Người ta lật chăn lên, thấy cánh tay chị Cúc ngâm trong xô nước, đỏ lòe đầy máu. Chị cắt ven tay. Chắc từ đêm rồi. Chị chí chết. Chị khát chết. Và quyết tâm chết. Nên mới ngụy trang khéo như thế. Vậy mà vẫn không chết nổi.

Mấy ngày đầu, cai tù cấm không cho ai lại gần, tiếp xúc với chị. Dăm hôm sau, chị được chuyển về nhà ốm. Từ bữa ấy, ngày nào tôi cũng sang chơi với chị. Chị bảo, trước chị không dám gần tôi vì còn hy vọng có ngày về, cần giữ gìn. Nay hết cơ hội được tự do không còn sợ bị cai tù gọi đi uống cà phê vì tội giao du với con “phản động.” Chị cùng quê Hải Phòng với tôi. Nhưng gia đình chị không còn ai. Anh chị em ly tán, chồng con cũng bỏ bê từ khi chị vào tù vài năm. Nhà cửa không có, ra tù cũng không biết về đâu. Chị Cúc có lý do chính đáng để chết, để tuyệt vọng. Tôi cũng tuyệt vọng thay cho chị.

Chị Cúc tự tử đúng dịp tôi gần hết án. Từ khi xảy ra sự việc, ngày nào tôi cũng yêu cầu gặp ban giám thị. Họ hẹn rồi lại không gặp, cho cấp dưới tiếp tôi.

Tôi không chịu. Tôi tuyệt thực. 

Đấy là cách bất đắc dĩ tôi phải chọn, như vài lần trước đấu tranh cho quyền lợi người tù. Để bớt cái khổ, bớt cái oái oăm đang đầy đọa chúng tôi. Tôi cũng không chắc lần tuyệt thực này mang lại kết quả gì. Dù sao, còn ở tù một ngày vẫn tiếp tục phải thương yêu những đời tù còn ở lại. Tôi tuyệt thực đến ngày thứ ba thì phó ban giám thị Nguyễn Thị Can mời tôi lên gặp. Hôm ấy là ngày 12 tháng 9, tức chỉ còn sáu ngày nữa tôi hết án.

Chắc tại tôi sắp về, nên phó ban giám thị bất đắc dĩ phải tiếp tôi. Bà ta hỏi tôi có nguyện vọng gì cứ đề đạt. Nghe chữ  “nguyện vọng”, tôi càng khinh ghét cai tù. “Tiêu chuẩn” dành cho tù nhân theo quy định Nhà Nước vốn đã quá ít, phải cố gắng xoay sở mới tồn tại. Vậy mà những “tiêu chuẩn” tối thiểu ấy còn bị cắt xén, thăn thiến đi thì nói gì đến hai chữ “nguyện vọng.”

Tự nhiên khi ấy tôi thật sự muốn đứng dậy bỏ về.

Không gì ớn hơn là ngồi nghe cai tù hứa hẹn. Nào hứa giảm mức khoán, cho trại nấu nước nóng bán cho tù, ra hạn thêm thời gian tắm giặt rồi mới lùa vào buồng…

Nhưng đương nhiên bà ta chối nhiều chuyện lắm, như không bắt người bệnh nặng phải xuất trại đi làm nữa. Rồi việc tù gọi cai tù bằng “ông, bà” xưng “cháu” là do “phạm nhân tự nguyện chứ chúng tôi có bắt ép đâu.”

Trong số điều bà ta hứa, tôi chỉ hy vọng duy nhất một điều là chị Cúc sẽ không bị kỷ luật. Vì chị yếu lắm rồi. Lúc này, tôi bỗng thấy thất vọng về chính mình. Tôi không giúp được gì cho chị Cúc và những người tù khác. Tôi sang chào chị Cúc, để ngày mai tôi về. Chị cảm ơn tôi đã tuyệt thực vì chị. Tôi ngượng. Chị em ngậm ngùi nhìn nhau, không khóc được. Khuyên một người sắp chết phải vui sống, phải hy vọng là điều giả dối. Và ác. Tôi không làm được, lẳng lặng ra về.

Hai tháng sau, một bạn tù về hết án gọi điện cho tôi. Nói đủ thứ chuyện vui buồn trong trại. Bạn tù cho biết, lúc gần chết, chị Cúc được đưa đến bệnh viện như trường hợp chị Thìn, chị Mai, chị Biển, chị Tuyên hay nhiều chị tù khác, để không phải chết trong trại.

Núi Mành, lại đón nhận thêm linh hồn vất vưởng, khốn khổ của một người tù.

08 — 

Ăn, Mặc, Ở

Tôi dám chắc có người sẵn sàng chấp nhận, thậm chí mơ ước được chết nhưng chưa một ai trên thế giới có nhu cầu ở tù, nhất là nhà tù cộng sản. Đó là điểm chung tuyệt đối và bình đẳng của loài người. Nhưng người ta vẫn muốn biết về nhà tù, về cuộc sống của những con người trong cái nơi mà bản thân tên gọi của nó vốn tạo nên sự “rùng rợn” và gợi trí tò mò một cách mãnh liệt.

Nhiều người tin “kẻ phạm tội” đáng bị quăng vào cuộc sống tù khổ ải như thế. Tuy nhiên, ít người đủ lý trí, công tâm, lòng trắc ẩn để hiểu yếu tố phạm tội, án tù dành cho một con người phải xét theo hành vi, vụ việc, hậu quả gây ra, nếu có, của người bị kết án, rồi xét đến hệ thống luật pháp, lạc hậu hay tiến bộ, phục vụ cho ai, với các yếu tố liên quan khác. Đề tài này khó gom trong bài viết ngắn của một người không có chuyên môn như tôi. Và cũng không hợp với câu chuyện tôi sắp kể. Tuy nhiên, cần khẳng định ngay là trong tương lai, hệ thống pháp lý Việt Nam —  không riêng phạm vi liên quan đến xét xử hay án tù — sẽ phải dựng lại từ đầu nhằm kiến tạo một nhà nước dân chủ.

Nhắc đến hai chữ “nhà tù”, người ta liên tưởng ngay đến sự trừng phạt và khốn cùng. Cuốn sách nhỏ này không có cao vọng thỏa mãn mọi hình dung hay đáp ứng tìm hiểu cần thiết của bạn đọc về nhà tù cộng sản. Song, hy vọng bạn sẽ thấy một góc nhỏ trong nhà tù với các chuyện còn chưa kể hết trong thời gian bốn năm tù của tôi. Tất nhiên, tùy thuộc từng vùng miền cụ thể, hay mỗi giai đoạn lịch sử, chuyện tù của mỗi người mỗi khác. Dù vậy, cần thẳng thắn thừa nhận nhà tù cộng sản là mọi khổ đau cùng cực, mọi nỗi uất hận nghẹn ngào. Là đau thương, rệu rã, mệt mỏi, tăm tối và cả chết chóc. Là sự tàn bạo và bất lực, là nhẫn tâm, thù oán, là trông đợi, tuyệt vọng, là nỗi chết. Và là “địa ngục.” Địa ngục của những người còn đang hít thở, đi lại và cười khóc.

Nhà tâm lý học Mỹ Abraham Harold Maslow () cho rằng về căn bản, nhu cầu con người chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản – basic needs và nhu cầu bậc cao – meta needs. Dựa vào phân loại của Maslow, những gì diễn ra hàng ngày với lũ tù chúng tôi không hẳn là “cuộc sống”, mà chỉ gần giống thế thôi. Chính xác hơn, nó là cuộc “tồn tại.” Chúng tôi chỉ được “hưởng” một phần ít ỏi các nhu cầu tự thân, tối căn bản của con người. Nếu không là tù, hẳn bạn sẽ không bao giờ biết ngoài cái ăn, nhu cầu hít thở, ngủ, tắm, đi vệ sinh…quan trọng thế. Mà đã thuộc về nhu cầu tự thân thì dù là tổng thống Hoa Kỳ, tổng bí thư đảng cộng sản, ông giáo sư, nhà tu hành, anh kỹ sư, chị công nhân, cậu bé đánh giày, chị lao công quét rác hay người tù…đều bình đẳng. Khái niệm “bình đẳng” hiểu theo nghĩa duy trì sự tồn tại, chuyển động của cái hình hài mang tên Con Người.

Thiếu những thứ ấy, con người không còn tồn tại.

Do đó tôi muốn kể bạn nghe những điều về tiêu chuẩn ăn, mặc, ở mà lũ tù chúng tôi hưởng trong nhà tù trại 5 Thanh Hóa. Đương nhiên chỉ tính thời gian tôi ở đây là giai đoạn từ tháng 3/2010 đến tháng 9/2012 thôi. Theo lời kể của những người tù lâu án dài, điều kiện giam giữ trước thời gian tôi lên trại, hay nhiều năm trước nữa, khó khăn và khốn khổ hơn nhiều.

Tiêu chuẩn về “Ăn”

Mỗi tù nhân một tháng được 17 kg gạo; 7 lạng thịt lợn; 8 lạng cá; 5 lạng đường; 15 kg rau xanh; 0,75 lít nước mắm; 1 lạng bột ngọt và 15kg than và củi. Nhà nước căn cứ vào giá cả thị trường thực tế tại địa phương để định lượng cho các tiêu chuẩn này. Quy định còn ghi các ngày lễ tết được ăn thêm “nhưng không quá năm lần tiêu chuẩn ngày thường.” Con nhỏ của “phạm nhân” (chữ quy định của nhà nước) được hưởng như mẹ, được tặng quà trong ngày lễ thiếu nhi 1/6 và tết Trung Thu.

Tiêu chuẩn về “Mặc”

Mỗi tù nhân một năm được phát hai bộ đồng phục tù; 1 chiếc chiếu; 1 chiếc nón lá; 1 đôi dép nhựa; 3 lạng xà phòng; 2 bộ đồ lót. Mỗi bốn năm được cấp 1 chiếc màn; 1 chiếc chăn. Phải đủ hoặc hơn bốn năm mới được, chưa đủ thì…đừng mơ. Người mới lên trại cũng phải chờ nộp đủ bốn năm công tù mới được hưởng xuất chăn màn như thế. Ngoài ra, mỗi tháng, mỗi người được phát hai gói giấy vệ sinh, loại vuông mỏng dính, 80 tờ một gói.

Tiêu chuẩn về “Ở”

Theo quy định, tiêu chuẩn chỗ nằm dành cho tù là 2m2, tức rộng 5 viên đá hoa 20 cm, dài 10 viên. Trên thực tế, nhà tù luôn quá tải nên tù chỉ được 60 cm bề ngang.

Những thứ liệt kê trên gần như là tất cả những gì bạn có. Trong khi bạn vẫn phải lao động khổ sai, phải chấp hành vô số quy định ngặt nghèo, vô lý của trại giam và của chính cai tù đặt ra. Bạn sẽ đo lường được khả năng tồn tại và mức độ chịu đựng của mình trong nhà tù cộng sản. Đấy là về số lượng, chưa bàn đến chất lượng.

Hãy tự đặt mình vào vị trí kẻ “không gia đình”, tức không có người thăm nuôi, không được tiếp tế, bạn sẽ xoay sở thế nào để tồn tại nếu không có sự cưu mang của bạn tù? Bạn tù, tức là người cũng khốn khổ như mình, nhưng hàng tháng được gia đình tiếp tế để khỏi phải ngửa tay đi xin từng cuộn băng vệ sinh, cái bàn chải đánh răng hay ít dầu gội đầu. Nhắc đến băng vệ sinh, tôi nhớ đến những chuyện cười khóc, khóc cười trong cái Phân Trại chật trội với hơn một ngàn nữ tù nhân khốn khổ.

Hôm ấy, tôi đến tháng lần đầu từ ngày lên trại.

Đâu có gì lạ chuyện ấy, người phụ nữ nào chẳng như nhau. Không hẳn thế. Tôi đã lo lắng và hốt hoảng bao nhiêu khi chứng kiến nhiều chị em lúc vào tù không còn sự bình thường của người phụ nữ nữa. Gọi ngắn gọn là “mất kinh. “Có người bị “tịt” mấy tháng mới có lại. Có người vài năm và có người mất hẳn. Khi ra tù, tôi hỏi một số bác sĩ, được họ giải thích do bị thay đổi môi trường sống và vì yếu tố tâm lý nên xảy ra hiện tượng đó.

Tôi may mắn không rơi vào tình trạng đáng sợ ấy.

Tôi không hiểu vì sao chị Hoa, bạn tù bên cạnh cứ liếc sang chỗ tôi, dường như muốn gợi chuyện. Ba mươi ba tuổi, tôi không thấy xấu hổ khi bị bạn tù nhìn trộm lúc đang dán miếng băng vệ sinh vào đáy quần lót. Hình như chị ta muốn nói gì đó, song lại thôi. Ít hôm sau, đến lượt chị ta làm cái việc như tôi hôm bữa. Nhưng ở đáy quần lót của chị Hoa không phải miếng băng vệ sinh trắng phau như của tôi mà là miếng vải vụn đã cũ. Tôi bần thần, chẳng muốn tin vào điều mình trông thấy.

Chị Hoa, người dân tộc Thái. Khi tôi vào, chị đã ở tù gần chục năm rồi. Chị bị án chung thân vì buôn ma túy. Chị hiền, tôi không hiểu vì sao tôi gặp nhiều phụ nữ hiền như thế trong nhà tù. Những chị Hoa, chị Quế, chị Mùi, chị Huyền, chị Minh cùng buồng giam với tôi, nhẹ nhất mười sáu năm hoặc chung thân. Tôi tưởng đi buôn ma túy là phải ác, phải dữ dằn, chí ít cũng ghê gớm chứ.

Trong túi nội vụ của chị Hoa và nhiều tù “không gia đình”, luôn có những miếng vải vụn cắt ra từ các bộ quần áo cũ, giặt sạch sẽ, khâu lại cẩn thận để dùng thay băng vệ sinh hàng tháng. Không phải chị Hoa không mua nổi thứ tối cần ấy mà chị muốn dành tiền đóng khoán. Số tiền ít ỏi chị dành dụm từ việc múc nước, giặt quần áo, rửa bát thuê cho những tù khác. May mà làm thuê cho tù còn được trả công, không giống như làm cho trại, cho cai tù, vớ vẩn còn bị phạt, hoặc bị kỷ luật thì hết giảm án.

Ra xưởng lao động, chị cặm cụi ngồi, mắt không rời khung thêu. Thậm chí, buồn đi tiểu chị cũng nhịn: “Chờ hết giờ làm rồi về buồng “đái” một thể.” Chị nói với tôi thế. Chị tiếc mấy đường kim mũi chỉ, thiếu sản phẩm sẽ không được giảm án. Sức tù không đáp ứng nổi mức khoán “trên trời” nên phải mua sản phẩm từ tù khác, hoặc nộp tiền cho cai tù mới đủ chỉ tiêu. Nói thô một tí, mong thoát khỏi nhà tù cấp thiết hơn nhu cầu đi đái, đi ỉa, quan trọng hơn cả sĩ diện, dù sự cấp bách ấy có khi phải chờ đợi và gồng mình phấn đấu ngót hai mươi năm trời.

Từ hôm ấy, mỗi tháng tôi cho chị Hoa hai cuộn băng vệ sinh. Nhưng tôi vẫn thấy chị dùng các mảnh vải cũ. Hỏi, chị nói dùng vải cũ quen rồi, hai cuộn băng vệ sinh ấy để bán lấy tiền, “tiết kiệm chừng nào hay chừng ấy.” Lần nào chị cũng nói thế. Tôi phát bực, nhưng vẫn cho. Sau này tôi chuyển buồng, chị Hoa mất khoản thu nhập là hai cuộn băng vệ sinh hàng tháng. Không phải tôi không thương chị nữa, nhưng trong nhà tù chật chội này, đi từ khu nhà giam nọ đến khu nhà giam kia chỉ vài bước thôi, cũng xa lắm. Vả lại, buồng giam mới cũng có người dùng vải vụn thay băng vệ sinh, tôi lại có người để cho.

Những người tù lâu, thậm chí có người phải trở lại Trại 5 này lần thứ ba, đều coi việc không được phát băng vệ sinh là bình thường. Họ ngạc nhiên lắm, có chị tái mặt khi nghe tôi nói “nhà tù phải có nghĩa vụ cấp băng vệ sinh cho chúng mình.” Người ta rỉ tai nhau câu ấy, như sắp có cuộc cách mạng đòi băng vệ sinh trong phân trại.

Tôi gặp cai tù hỏi vì sao không phát băng vệ sinh. Hồi ấy mới lên trại, tôi còn chưa phân biệt được cai tù to với cai tù nhỏ nên gặp người nào hỏi người ấy. Người thì nói “quy định của nhà nước bao nhiêu năm vẫn thế. Chúng tôi chỉ thi hành chứ có làm ra luật đâu.” Cai tù khác trả lời “Thì băng vệ sinh đã được thay bằng giấy vệ sinh còn gì.” Hỏi thêm vài câu nữa, được trả lời “có thắc mắc gì chị đi gặp ban giám thị. Chúng tôi không biết”.

Nhưng ban giám thị không muốn gặp tôi. Có lần tôi thoáng thấy bóng dáng bà phó giám thị Nguyễn Thị Can, lượn ngoài sân chung, vừa chạy ra, bà ta đã biến mất.

Tôi không coi việc đòi xuất băng vệ sinh hàng tháng là tranh đấu ghê gớm. Nhưng các bạn tù yêu quý tôi căng thẳng lắm. Họ khuyên tôi mặc kệ mọi sự, lý luận rằng “Không có mày, bọn tù vẫn thế, vẫn chịu khổ được, có ai chết đâu. Với lại đòi cũng không được. Chả bao giờ chúng nó nhượng bộ.” Tôi bảo: “Đã đòi đâu mà nói không được. Các chị không cần, nhiều người khác cần.”

Nhưng tôi không vội. Tôi cũng không hề nghĩ đến phải tuyệt thực để yêu cầu cai tù phát băng vệ sinh cho phụ nữ ở trong tù. Cai tù sai ăng-ten dò hỏi ý tôi, sẽ làm gì tiếp theo để “đòi băng vệ sinh.” Tôi cứ nửa đùa nửa thật, thái độ khi bông phèng, khi nghiêm túc.

Bẵng đi vài tháng, tôi không đả động đến băng vệ sinh. Cả tù lẫn cai tù đều tưởng tôi quên, hoặc đã buông, thoái lui không muốn đòi hỏi hay hoạnh họe nữa. Hôm ấy gia đình tôi lên thăm, tôi vui lắm. Tôi sẽ lại được gặp mẹ và các chị của tôi. Những cuộc thăm viếng, tiếp tế của gia đình khiến cuộc đời tù bớt cơ cực và bớt dài. Trên đường đi bộ từ Phân Trại ra nhà thăm gặp, tôi nói với người cai tù:

– Tôi hỏi thật nhé, nếu bây giờ có một tù nhân tuyệt thực đến chết chỉ để đòi quyền được cấp phát băng vệ sinh, thì sao nhỉ?

Người cai tù lặng thinh, không nói một lời. Tôi cũng không nói thêm câu nào nữa.

Chiều hôm ấy, tôi đang đi dạo quanh sân trại thì có người tìm. Chị Nga Phúc đang ngồi chờ tôi ở gần khu bệnh xá.

– Này, chúng nó sắp phát băng vệ sinh đấy. Hôm nọ chị đi họp, thông báo rồi. Nhưng cấm mày để lộ ra là chị khoe đấy nhé. Không thì chết tao.

Vẻ mặt chị Nga Phúc thật khó tả. Căng thẳng, sợ sệt nhưng vẫn không giấu được vẻ mãn nguyện. Làm như sự cai tù phải nhả băng vệ sinh ra là chiến thắng lớn lắm. Mà cũng lớn thật, từ trước tới nay đã được thế bao giờ.

Thường tôi rất ít ra sân chung xếp hàng nghe cai tù đọc thông báo hay giáo huấn mỗi thứ hai đầu tuần, trừ khi muốn chứng kiến điều gì mà mình quan tâm. Được chị Nga Phúc rỉ tai trước, tôi ra xếp hàng chứng kiến thành quả “cuộc cách mạng đấu tranh đòi băng vệ sinh.” Đấy là câu mà cánh tù mỉa mai, vụng trộm nói với nhau.

Vậy là từ nay trở đi, chị Hoa, chị Quế, chị Mùi và nhiều chị tù “không gia đình” ở khắp Phân Trại số 4 này sẽ khỏi phải dùng vải vụn để lót mỗi kỳ kinh nguyệt.

Nhưng cơn mừng của lũ tù nhân nữ không trọn vẹn. Xuất giấy vệ sinh hàng tháng bị cắt. Nói chính xác, nó đã được thay bằng băng vệ sinh, chứ cai tù chẳng mất đồng nào. Đa số chị em đều hài lòng, nhưng các bà già thất vọng. Có người chửi thầm ngay lúc cai tù còn chưa nói xong. Tất nhiên chỉ chửi đủ cho người ngồi sát bên nghe.

– Các chị sinh từ năm 1952 trở về sau thì được phát băng vệ sinh. Những chị sinh từ năm 1952 trở về trước thì được phát giấy.

Người cai tù dõng dạc, như vừa tuyên bố ban phát một ân huệ trước nay chưa từng có.

– Dở hơi!

Những người tù xung quanh quay sang nhìn tôi, không ai dám bàn tán. Mấy cai tù đứng gần đấy cũng nghe thấy, nhưng lờ đi. Tôi buông tiếp một câu nữa, cố tình để người xung quanh nghe thấy:

– Sinh năm 1952, tức là năm nay đã 59 tuổi. Má ơi, 59 tuổi vẫn bị ép dùng băng vệ sinh.

Tôi ít khi cười khẩy, nhưng nó thích hợp trong tình huống này. Nói xong, tôi đứng dậy, bỏ xuống khu căng tin chơi với thằng Bimbo, chờ giờ xuất trại. Tôi bỏ đi để đỡ phải nghe những điều ngớ ngẩn. Không cai tù nào cản tôi hoặc yêu cầu tôi trở lại vị trí xếp hàng. Họ quen với việc tôi “một mình một kiểu” rồi, không muốn can thiệp.

Tôi coi phận sự của mình đến đấy là xong. Còn việc phân loại tuổi tác, ai mãn kinh, ai còn kinh để chọn lựa giữa băng vệ sinh với giấy vệ sinh là việc còn lại của tù nhân và cai tù. Tất nhiên, không phải người tù nào cũng hiểu vì sao bỗng nhiên họ lại được phát băng vệ sinh sau bao nhiêu năm ở tù dài đằng đẵng.

Tôi cũng không nghĩ mình ghê gớm hay tài giỏi gì cho lắm khi làm được cái việc cỏn con như thế. Với lại, cai tù chẳng bao giờ thừa nhận vì tôi mà họ phải nhượng bộ. Tất cả đều do sự nhân đạo của đảng mà ra. Nhân đạo nên mới phát băng vệ sinh cho tù. Chỉ có điều, trước khi tôi vào, họ chưa kịp thi hành chính sách nhân đạo ấy thôi. Tôi thì chẳng quan trọng, miễn là chị em không phải nhếch nhác, khổ sở mỗi khi đến tháng.

Mọi chuyện khác không đáng nhắc đến.

Chuyện đọa đày, chuyện ăn, mặc, ở còn dài lắm. Nó là chuyện hàng ngày của người tù. Mà chuyện hàng ngày, kể đến bao giờ mới hết.

09 —

Mua Chỗ

Tài sản của tù khi lên trại gồm một chiếc hòm sắt đựng thức ăn và một số đồ dùng khác. Một chiếc túi nội vụ đựng quần áo do trại phát. Bên ngoài chiếc túi nội vụ có dán mẩu giấy ghi họ tên, tội danh, án phạt, tên đội và địa chỉ nơi đăng ký nhân khẩu thường trú của người tù.

Túi nội vụ — theo quy đinh — phải kê trên chiếc chiếu đã gấp gọn và đặt sát tường, ngay chỗ nằm. Mỗi dãy sàn đều có gác xép nhỏ cao hơn đầu người, là nơi để chăn, màn, gối đã gấp gọn trước giờ đi làm. Kể cũng khéo, cái gác xép chỉ đựng vừa ba thứ ấy thôi là đã chạm trần nhà rồi, không nhét thêm được những thứ khác nữa.

Ba thứ đồ dùng như xô, chậu, gầu múc nước đều để ở sân giếng. Những sân giếng thông thống giữa trời. Đằng sau dãy buồng giam là một lán chung có mái che bằng tôn, rộng chừng vài mét vuông là nơi để hòm của người tù.

Mỗi khu giam giữ có hai buồng giam, mỗi buồng giam chừng sáu mươi đến bẩy mươi người tù. Cả hai buồng giam có khoảng một trăm mười đến một trăm bốn mươi tù nhân. Con số này có thể thay đổi, hơn hoặc kém, tùy theo số tù nhân về hết án hoặc lính mới nhập trại. Như thế, cái lán rộng vài mét vuông ấy là nơi chứa hàng chục chiếc hòm. Người ta quen gọi là khu bếp tập thể dù không ai được nấu nướng ở đấy.

Những chiếc hòm sắt có chiều ngang 45cm, chiều cao 35cm và chiều dài 65cm chen chúc và chồng lên nhau cao gần bằng đầu người. Việc bê chiếc hòm xuống để lấy thức ăn, đồ dùng có lẽ là một trong những việc tù ngại nhất. Nhưng nó vẫn là việc bắt buộc phải lặp đi lặp lại mỗi ngày.

Theo quy định, ai đến trước được để hòm bên trên, đến sau để bên dưới. Cứ thế lần lượt xếp vị trí cho chiếc hòm tương ứng với thời điểm nhập buồng của người tù. Hồi mới lên trại, tôi phải rời gần chục chiếc hòm khác mới lấy được chiếc hòm của mình. Nhiều chiếc nặng, phải nhờ người khiêng. Lấy đồ xong, lại lần lượt xếp vào chỗ cũ.

Tôi, cũng như nhiều người khác không ít lần lầm lẫn, xếp lộn chỗ những chiếc hòm. Người nào hiền còn đỡ, phải chị tù đành hanh, đanh đá là chị ta chửi um lên. Thành thử, luôn phải nhớ số thứ tự của những chiếc hòm để trả chúng vào chỗ cũ, tránh va chạm không cần thiết.

Nhưng chuyện cãi vã liên quan đến hỏng xiểng sẽ hạn chế hơn nếu được sở hữu một cái lều. Không biết ở các trại tù khác thế nào, riêng Trại 5 Thanh Hóa có thể xem là nơi kinh doanh bất động sản lý tưởng. Phía sau dãy buồng giam, là một dãy “lều” cá nhân. Gọi là “lều” vì có mái che hẳn hoi, và nhất là được mua bán và chi trả bằng tiền mặt. Mỗi lều có chiều ngang chừng bẩy mươi phân. Chiều dài khoảng hai mét. Ranh giới giữa các lều được kẻ bằng sơn hoặc xây ngăn bằng một đường vữa xi măng để tránh xâm phạm ranh giới của nhau.

Vào thời tôi lên trại, năm 2010, mỗi lều được bán với giá bốn triệu đồng. Có cái được hét với giá năm đến sáu triệu nếu ở khu buồng giam có sân sau rộng rãi. Sau này, thứ bất động sản mang tên “lều” ấy được bán với giá đắt hơn, theo thời giá ngoài xã hội.

Cũng phải thuộc hàng “đại gia” mới mua được lều. Mỗi xuất trị giá khoảng bốn triệu thì trong túi phải có ít nhất năm triệu. Một triệu để lo quà đút lót cho ít nhất ba loại cán bộ: trực trại, giáo dục, trinh sát. Lại còn quà cáp ít nhiều lấy lòng bọn trực buồng, bọn thi đua để đỡ bị săm soi, gièm pha gây khó khăn. Việc mua bán và xử dụng lều sẽ dễ dàng, an toàn hơn. Nếu không, mất như chơi. Mua cả đống tiền, chỉ cần một câu mách đểu, lều sẽ bị cai tù “tịch thu” để sang tay cho người khác. Tôi từng chứng kiến một số chị khóc rưng rức vì bị “tịch thu” lều cá nhân. Vừa khóc, vừa chửi cai tù. Chửi xuông, chửi sau lưng chứ không dám hé răng trước mặt.

Có lều, không phải chen chúc tắm ngoài sân giếng thông thống gió rét, nắng mưa. Những đồ dùng như hòm xiểng, xô chậu, dầu gội đầu, sữa tắm, bàn chải, kem đánh răng v.v… cũng để cả ở lều, giảm nguy cơ bị lấy cắp, lại tiện lợi. Kể cũng đáng đồng tiền bát gạo, lại được vênh.

Ở nơi tôi đã dầm mình hai năm rưỡi, Trại 5 Thanh Hóa, mỗi chỗ nằm dành cho tù còn hẹp hơn diện tích một mộ huyệt của mỗi đời người. Theo quy định — luật —, chỗ nằm dành cho mỗi người tù là 2 mét vuông, tức rộng năm viên đá hoa 20 phân, dài mười viên. Trên thực tế, nhà tù luôn quá tải nên tù chỉ được 60 phân bề ngang. Nên mới nói chết sang hơn tù vì được nằm rộng hơn.

Khoảng mươi năm trước, tù phải nằm úp thìa, thậm chí nằm chồng cả lên nhau.Lúc nhúc như lợn trong chuồng. Và mất chỗ như chơi nếu ban đêm dậy đi vệ sinh. Người ta chửi nhau, đánh nhau, gây thương tích vì chỗ nằm. 

Đấy là thời tù máu. Thời của người tù nào “đầu gấu” hơn thì thắng. Sau này, nhiều nhà tù được xây thêm, người tù không còn phải lấy số bằng máu nữa. Mà bằng tiền. Thời tù máu nhường chỗ cho tù tiền. Ai chịu chi tiền cho cai tù sẽ mua được chỗ nằm rộng hơn, thoáng đãng hơn trong cái buồng giam chật hẹp ấy. Bọn cai tù thường lên mặt răn đe tù nhân mỗi khi có vụ cãi nhau vì chỗ nằm: “ Sướng quá các chị phởn à? Ngày xưa ấy à, đi ỉa còn mất chỗ. Không thích nằm đây thì xin mời ra Núi Mành.” Cai tù, có vẻ tự hào vì không còn cảnh tù “đi ỉa mất chỗ”, như xưa nữa.

Tự nhiên tôi nhớ đến lời chúc của ông phó ban giám thị trại tạm giam Trần Phú, Hải Phòng khi đến chúc tết đám nữ tù chúng tôi. Hôm ấy, nhằm ngày mồng hai tết Canh Dần 2010. Sau khi chúc tụng vài câu nghi thức, ông báo tin vui đầu xuân với vẻ mặt đầy hãnh diện:

– Nhân thể, cũng xin thông báo với các chị tin vui đầu năm mới rằng chúng tôi đang xây thêm vài trại tạm giam nữa ở ngoại thành và sắp sửa hoàn thiện, đưa vào xử dụng. Lúc ấy, các chị sinh hoạt sẽ được thoải mái, rộng rãi hơn.

Lời chúc tết vừa dứt, tiếng vỗ tay nổi lên rầm rầm.

Đoàn chúc tết vừa ra khỏi cổng, tôi bị mấy người bạn tù khiển trách là không chịu vỗ tay hưởng ứng. Không chịu vui với cái tin có thêm nhà tù vào đầu năm mới. Kể cũng lạ, chả nhẽ ngoài nhà tù ra, chế độ này không còn gì để người ta tự hào, hay sao?

P.T.N.

(Còn tiếp)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.