“Ngã Ba Ông Tạ ” Sàigòn ngày cũ

Cù Mai Công ‘s phê tê bốc

ÔNG TẠ CÓ PHẢI LÀ MỘT “LÀNG” BẮC DI CƯ CÔNG GIÁO “TOÀN TÒNG” KHU BIỆT?*

Nhanh chóng hội nhập Đô thành Sài Gòn, bà con cố cựu lẫn người tứ xứ tìm đến mà vẫn giữ bản sắc Bắc 54 của mình; chủ động tiếp nhận những cách sống, văn hóa khác biệt – dù ít nhiều có những “va đập” tất yếu chứ không phải “mâu thuẫn đối kháng” đã tạo nên một Ông Tạ rất khác biệt với các khu Bắc 54 khác ở miền Nam. Cư dân Ông Tạ có sự hòa trộn của tính cách cứng cỏi, liều lĩnh miền Bắc với nét hiền hòa, dễ thương Nam bộ, Sài Gòn.…

Đêm thứ sáu Tuần thánh dịp lễ Phục sinh 1974. Như nhiều nơi, các nhà thờ khu Ông Tạ tổ chức long trọng nghi lễ Táng xác Chúa Giêsu. Bỗng ít phút sau, tiếng loa phóng thanh từ trường Thánh Tâm (nay là Tân Bình) liên tục vang lên khẩn thiết: “ Xin các cha xứ kéo chuông nhà thờ để bà con giáo dân ra cứu chúng con đang bị đánh đập bắt bớ…”; “Cha ơi cứu con! Cha Thanh ơi, cha Định ơi”…

ÔNG TẠ CÓ LÚC NHƯ “LÀNG KHÁNG CHIẾN”CỦA NHIỀU BÊN

LM Trần Hữu Thanh và Nguyễn Cao Kỳ

Cha Thanh là linh mục Giuse Trần Hữu Thanh, dòng Chúa Cứu Thế; cha Định là linh mục Giuse Maria Đinh Bình Định, chánh xứ Tân Chí Linh. Đây là hai vị tổ chức, lãnh đạo “Phong trào nhân dân chống tham nhũng” khởi phát từ đầu năm 1974, chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu rất quyết liệt.

Hàng loạt nhà thờ khu Ông Tạ: Nghĩa Hòa, Sao Mai, Tân Chí Linh… kéo chuông inh ỏi. Hồi chuông các xóm Đạo vang lên cùng tiếng loa…

Đụng độ tràn vào khu chợ Nghĩa Hòa. Nhiều thanh niên Nghĩa Hòa lấy khăn thấm nước bịt mũi miệng chống hơi cay; lấy gậy gộc, gạch đá…đối đầu với Cảnh sát dã chiến tay khiên mây, tay dùi cui và lựu đạn cay. Trẻ con cũng không bỏ qua dịp “vui” này, núp trên sân thượng dùng ná thun bắn gạch đá xuống. Các bà, các chị đang buôn bán tại chợ cũng xúm vào lấy đòn gánh đập cảnh sát vì… “(cảnh sát là) người lớn mà bắt nạt, đánh đập tụi nhỏ là bậy!”. Gạch đá chất đầy ban công hai bên đường vào cổng Tân Chí Linh. Xe cảnh sát dã chiến bị đốt ở khu vực giáo xứ Tân Sa Châu…

Phong trào này có một mục tiêu mà được sinh viên học sinh ủng hộ: “Chống bắt lính”, tức chống lệnh tổng động viên của chính quyền Sài Gòn lúc đó (do quân đồng minh đã rút hết về nước sau Hiệp định ngừng bắn Paris 1973).

Có lẽ đây là lý do xuất hiện một dòng khẩu hiệu (nghe nói) do sinh viên viết trên bức tường đá rửa nhà thờ Nghĩa Hòa rất khó chùi rửa: “150.000 cảnh sát + lính ma lính kiểng hãy ra chiến đấu. SVHS (sinh viên học sinh) chúng tôi quyết tâm phòng thủ hậu phương”.

Trước đó 10 năm, tháng 8-1964, cuộc biểu tình chống Hiến chương Vũng Tàu cho Mỹ đổ quân vào miền Nam ở khu vực Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH (nay là Bộ Tư lệnh Quân khu 7) cũng có mặt giáo dân nhiều giáo xứ khu Ông Tạ. Sáu người bị bắn chết, trong đó có Truyền, 17 tuổi, giáo dân Nam Thái và hai người ở An Lạc: Nguyễn Thị Thảo và Nguyễn Văn Tình. 

Image may contain: people walking, sky, tree and outdoor

Biểu tình lại tiếp tục, lớn hơn, dữ dội hơn ở khắp Sài Gòn. Nhà một trung tá VNCH tên M., trong khu cư xá Sĩ quan Chí Hòa, cũng dân Ông Tạ, bị nhóm biểu tình Ông Tạ bao vây do nghi ông này đã ra lệnh bắn vào đoàn biểu tình. 

Các cuộc biểu tình này đã góp phần quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định cho việc “khai tử” Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, trong đó, ông Nguyễn Khánh sẽ có quyền làm quốc trưởng suốt đời, ngay từ khi mới manh nha. Lúc ấy ông Khánh là thủ tướng VNCH, chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, tổng tư lệnh và tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH.

Ngày 28-8-1964, tòa soạn báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm (bút danh viết báo Thiên Hổ) và nhà in trường Nguyễn Bá Tòng bị một nhóm Thanh niên Phật tử Cứu quốc quá khích bao vây, đập phá. Nhiều thanh niên Công giáo ở Nghĩa Hòa, Tân Sa Châu… cùng một số thanh niên giáo xứ Bùi Phát, Xóm Mới … ở Sài Gòn – Gia Định kéo đến. 

Lực lượng Thanh niên xung kích giáo xứ Nghĩa Hoà lúc đó mỗi người được phát một bộ đồ đen, một gậy để đi bảo vệ tòa soạn báo Xây Dựng lúc đó nằm trên đường Cống Quỳnh (quận 1). Lực lượng Nghĩa Hoà kéo nhau đi bộ lên Sài Gòn. Tới chợ Hoà Hưng, họ đụng trận với một nhóm Phật tử mang bàn thờ xuống đường; tới ngã sáu Dân Chủ đụng trận nữa với nhóm Viện Hóa đạo. 

Image may contain: tree, plant, night, sky and outdoor

Giáo dân vùng Gia Kiệm, Hố Nai, Long Khánh… thuộc tỉnh Biên Hòa được ông Nguyễn Văn Hiến, nghị viên Hội đồng tỉnh Gia Định, kêu gọi, hướng dẫn và đưa lên Sài Gòn bằng xe lam, xe đò…tiến về phía trường trung học tư thục Công giáo Nguyễn Bá Tòng (nay là trường Bùi Thị Xuân, quận 1)… Ông Hiến vốn là cư dân hẻm đền thánh An Tôn (nay là hẻm vô nhà thờ An Tôn).

Lực lượng Cảnh sát dã chiến bất lực không giải quyết được. Hai linh mục Vũ Khánh Tường (hiệu trưởng trường Đắc Lộ, nay là Ngô Quyền) và Nguyễn Quang Lãm đã đến nhà đại tá Bùi Dzinh cũng ở khu Ông Tạ để nhờ đưa vào trại Sư đoàn dù Hoàng Hoa Thám (nay là đường và chợ Hoàng Hoa Thám) gặp đại tá Cao Văn Viên, đề nghị đưa lính Nhảy dù can thiệp.

 Lính dù ra tay, tình hình được vãn hồi. Nếu không, e hai bên lại có chuyện lớn rất không hay, không cần thiết với nhau.

Sau đó, tòa soạn báo Xây Dựng dời về đầu đường Thánh Mẫu (nay là Bành Văn Trân), lúc đó thuộc giáo xứ Nghĩa Hòa (nay là nhà thờ Xây Dựng). Về xóm đạo “làng ta” cho an toàn.“

Image may contain: plant, tree and outdoor

Ngôi làng” Ông Tạ này được nhiều quan chức chính quyền Sài Gòn lẫn phe đối lập rất chú ý, quan tâm, coi như một “hậu cứ chính trị” của nhóm mình.

Không phải ngẫu nhiên cựu phó tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ cuối tháng 4-1975, khi Sài Gòn đang trong đích nhắm cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã tìm đến Lộc Hưng nói chuyện với 6.000 người dân trong khu vực; thề sẽ “tử thủ”, trang bị súng cho toàn dân… Ông Kỳ vốn Bắc 54 Sơn Tây và khu vườn rau đối diện nơi ông Kỳ nói chuyện lúc đó gọi là “Vườn rau Sơn Tây” – do những cư dân đầu tiên khu vực này vốn gốc Sơn Tây.

Trước đó 10 năm, khi làm chủ tịch Ủy ban Hành pháp Quốc gia năm 1965, ông Kỳ đã ký bổ nhiệm ông giáo Cảnh, hiệu trưởng trường tiểu học tư nhân Fatima trên đường Thánh Mẫu làm hiệu trưởng trường Quốc gia Nghĩa tử (nay là trường Lý Tự Trọng) trên đường Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ). Ông giáo Cảnh vốn cùng quê Sơn Tây với ông Kỳ.

Không chỉ ông Nguyễn Cao Kỳ, hàng loạt lãnh đạo VNCH cũng tìm đến Ông Tạ – dù Xóm Mới, Bình An, Trung Chánh… ở Sài Gòn – Gia Định vốn cũng là những khu định cư quy củ, tập trung hàng vạn bà con Bắc 54; thuở ban đầu số dân nhiều hơn Ông Tạ – vốn tự phát.

Theo một cư dân xứ Nghĩa Hòa là nhà báo Bùi Văn Phú, giáo sư đại học cộng đồng bên Mỹ, “khi ông Thiệu làm tổng thống cũng muốn được dân Ông Tạ ủng hộ. Việc xây bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất) ngay ngã tư Bảy Hiền cũng trong mục đích đó. Bà Thiệu, bà Khiêm (phu nhân thủ tướng VNCH Trần Thiện Khiêm từ 1969-1975) từng về Lộc Hưng khánh nhà trẻ. Phe đối lập với ông Thiệu cũng chọn Tân Chí Linh làm bản doanh của “Phong trào Nhân dân Chống tham nhũng” năm 1974 do cha Trần Hữu Thanh làm chủ tịch, cha Đinh Bình Định làm phó. Phong trào “cắm dùi” của thương phế binh thì ông Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó làm phó tổng thống đứng sau”. 

Image may contain: 16 people, outdoor

Lúc đó, chỉ trong vòng 24 giờ, anh Phú đã cùng bạn bè phụ hoạ sĩ Lữ Thê (nhà trên đường Thánh Mẫu) vẽ 500 biểu ngữ, treo đầy đường phố Sài Gòn, ủng hộ thương phế binh VNCH xuống đường chiếm đất trống “cắm dùi” trong phong trào “Người cày có ruộng, thương phế binh có nhà” đầu thập niên 1970. Khu Chăn nuôi ở ngã tư Bảy Hiền và trước trường Quốc Gia Nghĩa Tử có nhà thương phế binh từ đó. 

Cũng không phải ngẫu nhiên cư xá Sĩ quan chọn nơi đây để xây dựng. Cửa ra vào chính của cư xá mở ra đường Bắc Hải. Dày đặc các đơn vị nhảy dù, biệt kích cũng đóng xung quanh đây. Nhiều vị sĩ quan VNCH khi thất thế, bị truy lùng cũng về đây ẩn náu.

Nhóm sĩ quan làm cuộc đảo chính tướng Nguyễn Khánh ngày 19-2-1965 cũng vậy. Hôm đó, thiếu tướng VNCH Lâm Văn Phát cùng đại tá Bùi Dzinh, đại tá Phạm Ngọc Thảo và trung tá Lê Hoàng Thao đem 45 xe tăng, xe thiết giáp của nhiều lực lượng: trung đoàn 46 Sư đoàn 25 bộ binh, địa phương quân và Trường bộ binh Thủ Đức chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhứt…

 Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã lấy máy bay cứu tướng Nguyễn Khánh, đưa ra Vũng Tàu. Cuộc đảo chính thất bại vì mục tiêu quan trọng hàng đầu của cuộc đảo chính là bắt Nguyễn Khánh không thành. 

Image may contain: outdoor

Một trong những sĩ quan ấy là Phạm Ngọc Thảo, vốn chiếm được cảm tình của linh mục Nguyễn Quang Lãm (báo Xây Dựng). Cha Lãm đã che chở, giữ liên lạc và làm tất cả những gì có thể làm được để giúp ông Thảo. Sau khi Phạm Ngọc Thảo bị bắt và sát hại bí ẩn (tới giờ chưa rõ ai chủ mưu, ai hành sự; có thông tin cho là tướng Cảnh sát Quốc gia Sáu “lèo” Nguyễn Ngọc Loan), báo Xây Dựng đã đăng loạt bài điều tra 40 kỳ về cái chết của ông. Chín năm sau, 1974, nhà báo Thiên Hổ (bút danh của cha Lãm) còn đăng loạt bài nhiều kỳ trên báo Hòa Bình, mở lại hồ sơ ai bán đứng, ai giết đại tá Phạm Ngọc Thảo. 

Đại tá VNCH Phạm Ngọc Thảo vốn gốc miền Tây, sanh ngày 14-2-1922 ở Sài Gòn; gia đình Công giáo toàn tòng. Cha ông là Adrian Phạm Ngọc Thuần, một địa chủ quốc tịch Pháp, có hơn 4.000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long… Các con ông Thuần đều du học Pháp, trong đó có Phạm Ngọc Thảo. 

Lúc đó, ít ai ngờ ông Thảo là đại tá tình báo của QĐND Việt Nam hoạt động trong Quân lực VNCH, một trong những gương mặt tình báo xuất sắc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã chỉ thị ông không tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam để hình thành “lực lượng thứ ba” trong trường hợp Hiệp định Geneve không được thi hành. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng cho biết: “Anh Ba Duẩn rất tin cậy Phạm Ngọc Thảo và đã giao cho đồng chí Thảo một nhiệm vụ đặc biệt”. 

Theo anh Phú, Ông Tạ là “hậu cứ chính trị” của dân Bắc 54, vì gần Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH và sát bên trung tâm Sài Gòn.

Tôi chỉ xin nói thêm: Đó cũng là lý do hàng trăm nhân vật lớn của hệ thống chính trị miền Nam trước 1975 đã tìm cách có nhà ở khu vực Ông Tạ vốn vô cùng chật chội: khu trung tâm Ông Tạ chỉ rộng 3km2 mà đến 1975, số dân đã lên đến cả trăm ngàn người.…

VỚI NHIỀU “LÀNG” NHỎ, VÔ SỐ XÓM

Ai ngày xưa, trước 1975 đi từ đường Lê Văn Duyệt nối dài/Phạm Hồng Thái (nay là Cách Mạng Tháng Tám) quẹo vô đường Thánh Mẫu đều nhớ một trạm gác của nhóm Nhân dân tự vệ, toàn thanh niên giáo xứ Nghĩa Hòa, tự lập ra để kiểm soát người ra vào.

Image may contain: 12 people, people standing, wedding and indoor

Vô trong rồi, cũng chưa hẳn an toàn bởi khu chợ Nghĩa Hòa là nơi nhiều người khu khác qua lại ban đêm, có thể gặp rắc rối – dù rằng dân trong đó, có nhà ngủ… quên đóng cửa cũng không sao. Anh Nguyễn Văn Minh, cư dân xóm Tư Lì trong đây nhớ có lần chị gái mình bị giựt dây chuyền trong đêm ở trước nhà thờ Xây Dựng, gần đầu đường Thánh Mẫu. Hôm sau, kẻ giựt dây chuyền tự động đến nhà trả và xin lỗi (!). Anh họ của Minh vốn là sĩ quan Đà Lạt một buổi tối ghé nhà Mình đã bị một nhóm thanh niên khu này thấy “kẻ lạ” đã chặn đường, bao vây và “tẩn” cho một trận.

Đó chỉ là một trong vô số chuyện về thực tế “trai làng ta” của các “làng”, khu xóm ở Ông Tạ mà đã là dân Ông Tạ trước 1975 không ai không biết. Đám trẻ con, thanh niên Ông Tạ tôi nghĩ khó ai chưa từng trải qua thực tế này?!

Xóm tôi, dân đền thánh Vinh Sơn (trước đây vì năm 1973 trở thành nhà thờ Vinh Sơn), một đền thánh của giáo xứ Tân Chí Linh, tức anh em một nhà chứ có xa lạ gì nhau đâu, có lúc cũng trở thành “kình địch” của thanh niên “làng” Tân Chí Linh.

Bạn Vũ Minh Tâm, nhà ở khu chợ Ông Tạ có “một kỷ niệm không bao giờ quên”. Hồi thiếu niên 12-13 tuổi, Tâm từ khu chợ Ông Tạ, qua cầu, vô hẻm Vinh Sơn chơi, xong qua thăm ông bác bên hẻm Tân Chí Linh (cổng hai hẻm này đối diện và xéo nhau). Ngay lập tức, Tâm bị một đám thiếu niên trạc tuổi mình chặn đường tính đánh hội đồng vì tưởng nhà bên Vinh Sơn qua. Hên sao ông anh họ xuất hiện “Ê… ê… Nhà nó ở chợ Ông Tạ chư không phải dân Vinh Sơn” (!).

 “Hên ghê, không là bị phù mỏ rồi” – Tâm nhớ lại, suýt xoa.

 Ngược lại, khi Tâm đi từ Tân Chí Linh qua bên Vinh Sơn cũng bị tóm cổ, suýt bị “một trận”. Lần này, Tâm rút kinh nghiệm: nhờ một thằng bạn trong Vinh Sơn ra rước. Sau này Tâm mới biết là hồi đó, thanh thiếu niên hai bên không ưa nhau; ai lớ mớ không biết, khéo “đầu không phải phải tai”. 

Hồi đầu thập niên 1960, có lúc trai hai “làng” này còn tổ chức “phục kích” nhau ở khu sình lầy sau này là rạp hát Đại Lợi. Đến mức cố linh mục Đaminh Đinh Tiến Khoa, chánh xứ Vinh Sơn có lần phải nhắc nhở trong bài giảng Phúc âm lễ chủ nhật: “Cha thấy con gái xứ mình cũng xinh lắm mà sao các con cứ phải sang bên Tân Chí Linh để đánh nhau bên đó” (!).

Image may contain: 18 people, people standing and wedding

Thậm chí, dân cùng “làng”, cùng đường nhưng khác xóm cũng có khi trở thành mục tiêu của nhau. Thằng Nguyễn bạn tôi, dân hẻm 148, có lần vô xóm Bụi Tre, cả hai đều thuộc ấp Vinh Sơn bị một thanh niên xóm này chặn đường, tát “nổ đom đóm” mà không hiểu lý do gì (!). Đám con nít “xóm ngoài” trong ngõ Con Mắt mà vô xóm trong, đến xe phở ông Địch lượm khí đá vụn là luôn có màn “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với nhau. 

Đó là chưa nói thanh thiếu niên khu Ông Tạ cũng thường “có chuyện” với xung quanh. Con nít Nghĩa Hòa sang khu rừng 1 Phú Thọ, sau nhà thờ Chí Hòa, bên này đường Nguyễn Văn Thoại (nay là đường Lý Thường Kiệt), tức vẫn thuộc Nghĩa Hòa, chơi không sao. Nhưng sang rừng 2, 3 bên kia đường là dễ đụng đám lượm rác sở Mỹ “cát cứ” bên đó.

Bạn Huỳnh Tuấn, dân hẻm 47 Nguyễn Thông nhớ lại chuyện hồi nhỏ, năm 1972 của mình: “Hẻm tui qua Ông Tạ cũng gần, đi tắt đềpô (depot) xe lửa, qua hẻm rạp chiếu bóng Thanh Vân để đến khu Nghĩa Hòa mua bông vụ (cù). Mỗi lần đi mua sợ thấy mồ, sợ nhất là đám con nít đường Thánh Mẫu “lì bà cố” luôn. Có lần bị đuổi chạy muốn chết,nhưng thấy tui hồi đó… mập và bé nên… tha…” (!).*

Đó có phải là một lý do quan trọng khiến tới giờ, sau 66 năm hình thành, phát triển (1954-2020) thành một khu vực nổi tiếng khắp Sài Gòn – Gia Định nhưng rất nhiều cây bút lớn, tài năng, của Ông Tạ vẫn chưa ai “chịu” viết một tập sách “toàn cảnh” về nó?

* Phải chăng cũng vì vậy nên bà con lối xóm trong các “làng” rất rành rẽ về làng xóm mình; ai con ai, làm gì, đi đâu, ăn quán nào… , dân “làng” biết hết; còn chuyện, con người “làng” khác e là khó?

Thậm chí cổng vào nhiều giáo xứ trước đây đều có cổng “làng”, có cửa khóa lại hẳn hoi. Ở ấp Hàng Dầu trước đây chẳng hạn (khoảng năm 1972, 1973 tách làm hai ấp: Hàng Dầu và Hòa Bình), đường ra vô ấp đều có cổng rào sắt chắc chắn. Như đầu ngõ Con Mắt (nay là hẻm 766 Cách Mạng Tháng Tám), đầu hẻm (nay là) 686 Cách Mạng Tháng Tám, đầu đường (nay là Lưu Nhân Chú) đều có cổng rào. Thậm chí giữa cây cầu Sạn thông từ khu ruộng rau muống xứ An Lạc sang đường Bùi Thị Xuân cũng có một cánh cổng – như cái cổng trên cầu Bến Hải trước 1975.

https://scontent-lax3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/130696782_1116179835494735_3577757417823791850_o.jpg?_nc_cat=109&ccb=2&_nc_sid=730e14&_nc_ohc=9SX4G09N4HYAX-tK2dF&_nc_ht=scontent-lax3-1.xx&oh=7167e4fefc022e317213916a5cc8312a&oe=5FFBEF57

 Cứ giới nghiêm, các cổng đóng lại. Ai về trễ ráng chịu; không chịu được thì lội, bơi qua rạch Nhiêu Lộc để về nhà trong khu này. Khi cảnh sát bắt lính, các cổng cũng bị cảnh sát tận dụng đóng lại, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Thế là nhiều anh nhảy ùm xuống rạch Nhiêu Lộc, bơi sang bên bờ kia là khu Tân Chí Linh. Hôm 30-4-1975, những cổng này cũng khóa chặt…

Giờ một vài cổng vẫn còn đó dù không ai đóng nữa.

Đường đi lại chung mà. Chỉ như chứng nhân một thời.

Không chỉ vậy, ngay trong các xứ đạo, có lẽ do thực tế sau này những con người không chỉ từ một làng, một xứ ở miền Bắc mà từ nhiều nơi tìm đến nên chuyện “chén bát trong sóng” cũng không phải không có. Năm 1973, ở một giáo xứ, khi vị Tổng giám mục Sài Gòn đến công bố quyết định nâng nơi này lên thành giáo xứ độc lập, một số biểu ngữ phản đối đã được giăng ra. Không rõ nguyên nhân gì vì lúc đó tôi mới hơn 10 tuổi, chỉ biết là hai bên không thuận thảo với nhau. 

Thậm chí, có giáo xứ mà nhà nguyện, đền thánh nơi đây, vốn thuộc giáo xứ thực tế hoạt động như một giáo xứ riêng, độc lập. Cha chánh xứ và ông chánh trương, ông trùm nơi đây buộc phải thừa nhận, áp dụng nguyên tắc “giáo xứ tòng nhân”, tức giáo dân trong xứ ai muốn là dân của giáo xứ nào cũng được…

Những chuyện này có lẽ khó xảy ra nếu giáo dân nơi đây cùng giáo xứ cũ, cùng làng cũ ở miền Bắc.

MÔ HÌNH “LÀNG” NGUYÊN GỐC CỦA LỊCH SỬ

Ai có bà con ở Gia Kiệm (nay thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai), hoặc từng đi qua khu vực cách Sài Gòn khoảng gần 70km này hẳn ấn tượng về một khu dân cư Công giáo đến nay hơn 100.000 dân, giàu có và quy củ: rất nhiều nhà thờ Công giáo rải rác dọc theo đường cái, cách nhau chỉ khoảng vài trăm mét. Tên các xứ đạo nói lên gốc gác quê hương miền Bắc của bà con nơi đây: Phát Hội, Thanh Sơn, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim Thượng… 

Gia Kiệm chỉ là một trong mấy trăm khu tái định cư ở miền Nam giai đoạn 1954-1960 của bà con Bắc 54 theo mô hình tái định cư của chính quyền Sài Gòn lúc đó: tạo ra những khu vực Bắc 54, Bắc Công giáo toàn tòng; ít nhiều tách rời khối dân cư bản địa, cố cựu.

 Đây là là một trong sáu khu định cư trong phạm vi tỉnh Biên Hòa (ranh giới hành chính của VNCH năm 1954). Trừ Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn, tỉnh Biên Hòa có nhiều dân Bắc 54 định cư nhất miền Nam với đại đa số là bà con Bắc 54 Công giáo: Hố Nai, Gia Kiệm, Tân Uyên, Phước Lý, Tân Mai và Bến Cỏ. 

Chỉ trong một năm (1954-1955), dân số tỉnh Biên Hòa tăng lên gần gấp đôi, từ 130.000 người lên tới 240.000 người. Khu định cư lớn nhất là Hố Nai có bảy làng, chia theo gốc dân di cư theo các tỉnh miền Bắc: Hải Phòng (20.000 dân), Thái Bình (11.050 dân) Bùi Chu (6.000 dân), Bắc Ninh (4.000 dân), Thanh Tâm (3.250 dân), Thanh Hóa (2.858 dân). 

Cái Sắn, khu định cư lớn thứ hai ở miền Nam trước 1975 cũng một khu vực Bắc 54 trù mật; xưa thuộc hai tỉnh Kiến An, Long Xuyên; hiện số dân cũng cả trăm ngàn người cũng vậy. Vùng này thuộc giáo phận Long Xuyên gồm hai hạt Vĩnh Thạnh, Tân Hiệp với hơn 56 giáo xứ, 112 nhà thờ… Bà con Bắc di cư nơi đây thoạt đầu được phân chia khu vực sinh sống, quần tụ cư dân chung làng, chung xứ ở ngoài Bắc. Cái Sắn trong hai năm 1956-1957 đã nhận khoảng 42.000-50.000 người di cư.

 Vài trăm gia đình, mấy ngàn người các giáo xứ khu Ông Tạ hồi năm 1956 cũng đã rời khu vực Ông Tạ vốn chật chội để về đây, bởi mỗi gia đình di cư ở đây nhận được một khu đất ngang 30m, nhìn ra các dòng kinh, dài 1.000m; tức tổng cộng mỗi gia đình nhận 3 hecta. Bằng cả diện tích Tòa Tổng giám mục Sài Gòn cấp cho toàn bộ cộng đoàn giáo dân Tân Việt với gần trăm gia đình ở ngã tư Bảy Hiền lúc đó.

Ngày 6-7-1956, bộ trưởng Cải cách Điền địa VNCH báo cáo Phủ Tổng ủy Di cư Tị nạn: “Dân cư Cái Sắn ở dọc bên bờ con kênh chính và dọc theo 19 nhánh kênh đào mới. 18 kênh là dân định cư Công giáo; mỗi kênh là nơi ở của một nhóm dân định cư thuộc một giáo khu nhất định ngoài Bắc. Riêng con kênh cuối cùng dành riêng cho dân di cư theo Phật giáo và Tin lành”. 

Ngay Sài Gòn – Gia Định cũng ít nhiều có sự tách biệt này. Ở giáo xứ Bình An, quận 8 hiện nay chẳng hạn. Cuối năm 1954, gần 10.000 người đa phần là giáo dân gốc Phát Diệm đã theo linh mục Phaolô Hoàng Quỳnh và một số linh mục gốc Phát Diệm, quy tụ và định cư trên dải đất Bình Xuyên, dọc Bến Phạm Thế Hiển; gọi là “Trại định cư Bình Xuyên”. Ngày 1-5-1955, giáo xứ Bình An chính thức được thành lập, nhận Đức Mẹ Mân Côi, vốn là quan thầy giáo phận Phát Diệm làm quan thầy giáo xứ. 

Gần Ông Tạ, giáo xứ Hà Nội thuộc hạt Xóm Mới cũng khởi nguồn từ một số gia đình Công giáo Hà Nội theo linh mục Phêrô Nguyễn Đức Tín về quần cư, lập nghiệp trên vùng đất mới…

Đó là những khu vực nằm trong kế hoạch, mô hình định cư của Phủ Tổng ủy Di cư Tị nạn của chính quyền VNCH lúc ấy: các khu tái định cư Bắc 54 ít nhiều xa rời khối dân cư cố cựu, bản địa miền Nam, miền Trung.

Mô hình này đúng sai, phục vụ mục tiêu chính trị, quân sự ra sao nằm ngoài phạm vi bài viết, xin không mở rộng, bàn luận. Chỉ biết rằng ít nhất nó được nhiều bà con Bắc di cư Công giáo ủng hộ. Phải chăng từ những ẩn ức lịch sử bị người không Công giáo, phong trào Văn Thân cực đoan… tấn công về thể xác cuối thế kỷ 19 với 100.000 người Công giáo bị sát hại? Và cả thói quen mới hình thành từ các đội dân quân có vũ trang Khu tự trị Công giáo Bùi Chu – Phát Diệm?

ÔNG TẠ BỖNG… NGOẠI LỆ

Ông Tạ thoạt đầu cũng không ngoại lệ. Tám giáo xứ đầu tiên ở khu Ông Tạ đều được hình thành từ những nhóm dân cư cùng làng, cùng xứ ở ngoài Bắc trước 1954. Hiện tượng các cổng rào, “trai làng”… không thể phủ nhận là kết quả của “ẩn ức” này. 

Tuy nhiên, sự khác biệt về văn hóa giáo hội miền Bắc với văn hóa giáo hội miền Nam, văn hóa miền Bắc với văn hóa miền Nam ở khu Ông Tạ rất nhanh chóng bị nhòa dần. 

Lý do rất đơn giản: Trước hết Ông Tạ sát bên Đô thành Sài Gòn. Văn hóa Sài Gòn tác động, ảnh hưởng từng ngày, rõ mồn một lên dân Ông Tạ, từ cách sống, món ăn đến giọng nói (sẽ là một stt khác).

Thậm chí nhà thờ lớn nhất vùng là Chí Hòa, trường học lớn nhất vùng, ít nhất trong thời kỳ đầu 1954-1960 là Thánh Tâm (nay là Tân Bình), Tân Sơn Hòa (nay là Ngô Sĩ Liên)… là nhà thờ Nam, trường học Nam. Chợ Ông Tạ ban đầu cũng do một nhóm chủ đất làng Tân Sơn Hòa (lúc đó Tân Sơn Hòa chưa lên xã) cũng là người Nam. Ông thầy thuốc nổi tiếng nhất vùng là Ông Tạ cũng dân Nam…

 Lý do thứ hai quan trọng không kém: Ông Tạ là vùng định cư tự phát, ai đến đều tiếp nhận chứ không phải là vùng đất định cư “toàn tòng”, nguyên khối – dù ban đầu nó có thể ít nhiều nguyên khối – từ các nhóm tìm đến đây.

Nhưng cái nguyên khối này trở nên nhỏ bé trước những di dân mới, có Bắc, có Trung. Thậm chí có những người Nam, người Trung, người Tàu đã ở đây từ cả trăm năm trước. Đa số vẫn ở lại, chung sống vui vẻ với bà con Bắc. Có khu vực của Nghĩa Hòa là đất phát canh trồng lài của một gia đình người Huế. Đất Sao Mai do hai ông bà biện, người Nam cố cựu nhượng lại. Đất An Lạc hầu hết từ 113.000m2 của ông chủ đất Nguyễn Văn Thêm hiến cho xã, cho nhà thờ, sang nhượng cho bà con Bắc. 

Ngay đất xóm Đại Lợi của tôi cũng là sang nhượng lại của bà con tại chỗ. Đến 1975 có khoảng hơn 40 nóc gia (nhà), ngoài những nhà Bắc 54 còn có bốn nhà là bà con người Nam cố cựu (bà Sáu mẹ chị Đặng, bà Sáu “xạo”, ông Mười “thợ mộc”, bà Đại Đức), bốn nhà người Tàu (hai nhà hai bên cổng Vinh Sơn, hai tiệm thuốc Bắc), hai nhà người Huế (ông bà Hà Thanh, gia đình nhạc sĩ Văn Giảng) và một nhà người Pakistan (nhà bida của ông Tâm Bi).

Tức gần 30% gia đình xóm tôi không phải Bắc 54. Vào các xóm Nam bên trong các nhà mặt tiền khu Ông Tạ, tỉ lệ này lên đến 50-60-70%. Và tôi ở đây cả đời, chỉ con nít con nôi bày trò kình địch chứ chưa bao giờ thấy bà con các khu này cãi cọ, đánh nhau… Bà con đi chợ, thăm viếng tết, hỗ trợ lẫn nhau rất vui vẻ. Ma chay, cưới hỏi đủ mặt mọi nhà…

Đám con trung tá VNCH Nguyễn Văn Nhã ở giữa ngõ Con Mắt nhiều buổi tối vẫn há hốc mồm nghe ông Năm Châu, con rể cụ chủ đất Nguyễn Văn Thêm kể chuyện. Ông Năm này mà kể thì ai cũng không nhịn cười nổi. Anh em nhà ca sĩ Giang Tử những đêm Ông Tạ thuở ban sơ cũng tụ họp ở quán cà phê chú Chín cạnh chợ Ông Tạ nghe ca vọng cổ mùi mẫn. Đám thanh thiếu niên khu Ông Tạ mê mẩn những đòn thế của đại võ sư Huỳnh Tiền mở võ đường gần chợ…

Ngay ở khu Nghĩa Hòa toàn Bắc 54 cũng có những người miền Trung, miền Nam và cả người Tàu… Hẳn dân Nghĩa Hòa không quên một đám tang đặc biệt của linh mục chánh xứ, giáo dân dành cho một người Tàu “lang bạt giang hồ” ở chợ Nghĩa Hòa thập kỷ 1960. 

Ông Tàu này có mặt ở đây từ hồi mới thành lập trại Nghĩa Hoà. Thời gian đầu ông bán dạo cao dán mụn do ông làm, sau ế ẩm, kéo nước giếng thuê bán cho mấy bà bán cá. Ông có vợ con, có năm, dịp tết, con trai ông đến thăm, muốn đón về nhưng ông không về. Thỉnh thoảng, ông bảo do ông cờ bạc nên vợ con khổ nên không về. Tối ông ngủ ngay chợ. Bà con xung quanh có người vẫn chơi cờ tướng với ông, cho ông ít quà bánh.

 Khổ vậy nhưng ông tự trọng. Khi ông theo đạo, cha chánh xứ Nghĩa Hòa Đinh Huy Năng làm phép rửa tội cho ông; bố đỡ đầu là cụ Mạnh ở xóm Tư Lì. 

Khi ông mất, cả chợ lo tang cho ông. Cụ Mạnh đeo tang và khóc như người thân. Quan tài của ông đặt giữa chợ Nghĩa Hoà để mọi người phúng viếng, đọc kinh. Sau khi chôn cất, nhiều bà con quanh chợ tới đọc kinh cho ông, đủ ba tối…

Bà con nơi đây rõ ràng không coi ông là dân “ngụ cư”. Họ đã tiếp nhận, hết mình với một người xa lạ với mình; như Sài Gòn đã hết mình tiếp nhận họ… Tính khu biệt văn hóa của người Ông Tạ hình như chỉ nhen lên thuở ban đầu, như mọi khu định cư Bắc di cư khác ở miền Nam. Và nó nhanh chóng hội nhập với miền Nam, với Sài Gòn, với tất cả những người các vùng miền tìm đến đây khi nó bắt đầu “cất cánh”.

Tính biệt lập tôn giáo cũng nhanh chóng bị xóa nhòa. Ngay sau khi khối Bắc di cư Công giáo tràn đến khu Ông Tạ, hàng loạt chùa Bắc (theo Bắc tông) cũng đồng thời được xây dựng. 

Sớm nhất là chùa Viên Giác trên đường Bùi Thị Xuân (1955). Chùa Hiển Quang có mặt năm 1956 gần nhà thờ Vinh Sơn, trước khi có đền thành Vinh Sơn (1960). Chuông chùa Khuông Việt ngõ Cổng Bom vang lên năm 1956, hầu như cùng lúc với nhà thờ Tân Chí Linh gần đó (1955). Chùa Hải Quang của Trung Việt ái hữu xây dựng năm 1961, có cổng tam quan xưa rất đẹp; trẻ con quanh vùng thường đến chơi trước cổng chùa. Chùa Thái Hòa ở khu chợ Ông Tạ cũng kịp có mặt năm 1962. Chùa Vạn Quang trong con hẻm thông từ Ngõ Con Mắt ra chợ Ông Tạ cũ trên đường Thoại Ngọc Hầu có từ năm 1965. Niệm Phật đường trong khu cư xá Tự Do năm 1969. Khi nhiều nhà thờ khu Ông Tạ đã xây dựng cơ bản xong, năm 1972, chốn từ bi của chùa Vĩnh Hòa ngay trên đường Đất Thánh…

Chuông nhà thờ và chuông chùa khu Ông Tạ vang lên bình yên bên nhau. Cha chánh xứ Vinh Sơn 3 xứ tôi xưa rất thân với các sư thầy gần nhà thờ. Noel, Phật Đản hai bên đều đến mừng nhau, uống trà đàm đạo thân tình. Cố linh mục Mai Ngọc Khuê xứ Tân Sa Châu xưa thân thiết như anh em với trụ trì chùa Bắc Việt…

Ông Tạ đã hội nhập Sài Gòn rất nhanh; không còn nguyên vẹn vùng khu biệt Bắc di cư thuở ban đầu như nhiều xóm Đạo, khu Bắc 54 ở miền Nam như vậy. 

Bạn Đặng Thông nhận xét về xóm Đại Lợi: “Hoá ra, khu Ông Tạ ta cũng “thế giới đại đồng” ra phết; Bắc – Trung – Nam; Ta, Tàu, Chà, Mỹ, Pháp… đủ vẻ. Hèn gì so với các khu khác, dân Ông Tạ đầu óc có vẻ khai phóng, rộng rãi và hoà đồng tôn giáo, Bắc – Nam hơn”.

Phải chăng, nhờ vậy, Ông Tạ phát triển mạnh nhất trong các khu Bắc di cư toàn miền Nam? Như Sài Gòn tiếp nhận tất cả, nên Sài Gòn khá giả nhất nước; như Mỹ tiếp nhận tất cả nên Mỹ giàu nhất thế giới?

Vậy nhưng nét xưa dường như vẫn còn đây, dù những đường sá, hẻm hóc Ông Tạ hôm nay thực sự đã trở nên rất lạ với cả những người chỉ mới xa Ông Tạ 10, 20 năm. Noel 2020 đang rất gần và có vẻ lạnh hơn mọi năm. Dù Covid-19 đang làm khiến mọi gia đình khó khăn hơn, nhưng “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”, “Bài Thánh ca đó còn nhớ không em – Noel năm nào chúng mình có nhau…” vẫn vang lên ở Lộc Hưng, An Tôn, Sao Mai… rực rỡ ánh đèn.…

Trong đêm gió may cuối năm 2020 se lạnh, giữa khu vực trung tâm sầm uất nhất: ngã ba Ông Tạ toàn nhà 3, 4 tầng, đa số có từ cuối thập niên 1960, tôi bỗng thấy một hang đá Giáng sinh lung linh ánh đèn trước một ngôi nhà nhỏ, một trệt một gác như hồi Ông Tạ cách đây 50-60 năm. Ngôi nhà ấy vẫn bán thuốc lào Ba số 8, bột sắn, chè Bắc, bài bất, tổ tôm, tam cúc… như hồi nào.

Bỗng nhớ da diết những mùa Noel xưa của ngày tháng cũ…

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.