thư giản mùa ôn dịch :đọc thơ Arthur Rimbaud

Jean Nicolas Arthur Rimbaud was a French poet known for his influence on modern literature and arts, prefiguring surrealism. Born in Charleville, he started writing at a very young age and excelled as a student, but abandoned his formal education in his teenage years to run away from home to Paris amidst the Franco-Prussian War. During his late adolescence and early adulthood he produced the bulk of his literary output, then completely stopped writing literature at the age of 20, after assembling his last major work, Illuminations.

Ảnh đính kèm

Jean Nicolas Arthur Rimbaud (20/10/1854 – 10/11/1891) là nhà thơ Pháp, một trong những người sáng lập trường phái ấn tượng, là nhà thơ có ảnh hưởng lớn tới văn học và nghệ thuật hiện đại, sinh ở Charleville (nay là Charleville-Mézières), miền đông bắc nước Pháp. Bố là Frédéric Rimbaud, một sĩ quan phục vụ ở Algeria, mẹ là Vitalie Cuif, xuất thân từ một gia đình nông dân. Bố mẹ chia tay nhau khi Arthur Rimbaud mới 4 tuổi nên sự giáo dục chủ yếu là từ mẹ.

Thời kỳ học ở trường tiểu học đã nổi tiếng học giỏi tiếng Hy Lạp, tiếng Latin và các môn lịch sử, địa lý. Năm 1865, vào học trường Colege Charleville, là một trong những học sinh xuất sắc nhất của trường. Năm 1869, lần đầu tiên in ba bài thơ viết bằng tiếng Latin Xuân đã về (Ver erat), Thiên thần và đứa bé (L’Ange et l’enfant), Jugurtha. Bài thơ Jugurtha được tặng giải nhất trong một cuộc thi thơ. Năm 1870, lên 16 tuổi Rimbaud in những bài thơ đầu tiên bằng tiếng Pháp, sau đó đi du lịch lên miền bắc nước Pháp và Bỉ. Ở Paris, Arthur Rimbaud làm quen và trở thành người yêu của Paul Verlaine, làm xôn xao dư luận Paris. Rimbaud tham gia Công xã Paris.

Năm 1872, Verlaine bỏ gia đình cùng Rimbaud đi sang London. Khi trở về Bỉ, hai người cãi nhau, Verlaine dùng súng lục bắn Rimbaud bị thương phải vào tù 2 năm, còn Rimbaud trở về quê Charleville. Kể từ đây cuộc đời của Rimbaud sang một trang mới, ông bỏ làm thơ hẳn và đi chu du hầu như khắp thế giới. Năm 1875 sang Đức, hết tiền phải đi bộ sang Milan (Ý), sau đó ốm nặng phải quay về Pháp. Năm 1876 sang Áo, bị trục xuất, ông quay sang Hà Lan tham gia đội quân lê dương đi sang Indonesia. Ba tuần sau theo tàu chiến Anh trở về quê, sau đó sang Đức, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ… Từ năm 1880 ông sang các nước châu Phi (Ai Cập, Ethiopia, Yemen) buôn súng, buôn cà phê và da thú. Tháng 2 năm 1891 bị bệnh phải quay trở về Pháp, đến tháng 10 ông qua đời ở Marseilles vào tuổi 37.

Mặc dù sống một cuộc đời ngắn ngủi (thời gian sáng tác lại càng ngắn) nhưng Arthur Rimbaud đã đánh dấu một mốc mới trong sự phát triển của thơ ca Pháp. Ông là người có công trong việc làm giàu ngôn ngữ, hình tượng cũng như thể loại thơ ca… Nửa cuối thế kỷ XX, Arthur Rimbaud trở thành một hiện tượng văn hoá đại chúng. Hình tượng Rimbaud được thể hiện qua rất nhiều bộ phim nổi tiếng thế giới.

Tác phẩm:
– Poésies (Thơ)
– Le bateau ivre (Con tàu say, 1871)
– Une saison en enfer (Một mùa hè ở địa ngục, 1873)
– Illuminations (Linh cảm, 1874)
– Lettres (Những bức thư)

Vài bài thơ

Invocation à Vénus

Mère des fils d’énée, ô délices des Dieux,
Délices des mortels, sous les astres des cieux,
Vénus, tu peuples tout: l’onde où court le navire,
Le sol fécond: par toi tout être qui respire
Germe, se dresse, et voit le soleil lumineux!
Tu parais… A l’aspect de ton front radieux
Disparaissent les vents et les sombres nuages:
L’Océan te sourit; fertile en beaux ouvrages,
La Terre étend les fleurs suaves sous tes pieds;
Le jour brille plus pur sous les cieux azurés!
Dès qu’Avril reparaît, et, qu’enflé de jeunesse,
Prêt à porter à tous une douce tendresse,
Le souffle du zéphir a forcé sa prison,
Le peuple aérien annonce ta saison:
L’oiseau charmé subit ton pouvoir, ô Déesse;
Le sauvage troupeau bondit dans l’herbe épaisse,
Et fend l’onde à la nage, et tout être vivant,
À ta grâce enchaîné, brûle en te poursuivant!
C’est toi qui, par les mers, les torrents, les montagnes,
Les bois peuplés de nids et les vertes campagnes,
Versant au coeur de tous l’amour cher et puissant,
Les portes d’âge en âge à propager leur sang!
Le monde ne connaît, Vénus, que ton empire!
Rien ne pourrait sans toi se lever vers le jour:
Nul n’inspire sans toi, ni ne ressent d’amour!
À ton divin concours dans mon oeuvre j’aspire!..

Bản dịch của Huỳnh Phan Anh

Mẹ của Enée, niềm vui Thượng đế
Niềm vui con người dưới bóng thiên thể
Thần Vệ nữ, người đem lại mọi điều
Sóng cho tàu chạy, mặt đất phì nhiêu
Nhờ ơn người mọi vật thể biết thở
Đã nảy mầm, vươn lên và trông thấy
Vầng dương rực rỡ! Người xuất hiện và
Tan biến những gió bão cùng mây mù
Đại dương mỉm cười, trái đất màu mỡ
Trải dưới chân người hoa thơm cỏ lạ
Ánh sáng càng thuần khiết dưới trời xanh
Tháng tư lại về, chan chứa thanh xuân
Chực mang lại cho mọi người vị ngọt
Làn gió nhẹ đã phá tan tù ngục
Cư dân không trung báo hiệu mùa người
Dưới quyền năng của người, chim ngất ngây
Đàn thú hoang rủ nhau chạy trong cỏ
Và rẽ sóng bơi nhanh và tất cả
Bị chinh phục bởi vẻ đẹp của người
Nô nức theo người không một bước rời
Qua bao biển cả, thác ghềnh, đồi núi
Bao đồng ruộng xanh tươi, rừng đầy tổ
Chính người đã rót vào mọi trái tim
Mật ngọt tình yêu mãnh liệt thân thương
Để dòng máu đời đời truyền lưu mãi
Thần Vệ nữ, thế giới chỉ biết tới
Vương quốc của người thôi! Không có người
Chẳng vật gì vươn tới ánh mặt trời
Không có người, chẳng ai cảm nhận được
Tình yêu! Tôi hằng mong sự cộng tác
Thần thánh của người trong tác phẩm tôi


Nguồn: Rimbaud toàn tập, NXB Văn nghệ, 2006

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)

Est-elle almée ?

Est-elle almée ?… aux premières heures bleues
Se détruira-t-elle comme les fleurs feues…
Devant la splendide étendue où l’on sente
Souffler la ville énormément florissante !

C’est trop beau ! c’est trop beau ! mais c’est nécessaire
– Pour la Pêcheuse et la chanson du Corsaire,
Et aussi puisque les derniers masques crurent
Encore aux fêtes de nuit sur la mer pure !

Bản dịch của Trần Đông Phong

Em là vũ nữ hoá thân?
Sau giờ đêm hết tự tàn như hoa
Rạng ngời rực rỡ kiêu xa
Khiến cho đô thị phồn hoa sững sờ

Cần em xinh quá, quá xinh!
Pê-sơ-dơ diễn, khúc tình Cóc-xe
Vẫn tin mặt nạ cuối này
Biển đêm vũ hội em về tinh khôi.


Nguồn: Nhớ chuyện nay, Trần Đông Phong,

NXB Hội nhà văn, 2013

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.