“Thương nữ bất tri vong quốc hận;cách giang do xướng hậu đình hoa”-Khổng Trung Linh

Khổng Trung Linh

CHÚNG TA HIỂU GÌ

VỀ CÂU THƠ “THƯƠNG NỮ BẤT TRI VONG QUỐC HẬN”

No photo description available.

Thương nữ bất tri vong quốc hận..

.(Đỗ Mục)

Thương nữ là gì?Trong chương IV, Tận Tín Thư, cụ Hoàng Văn Chí đả phá vấn đề tin vào sách vở một cách mù quáng.

“Đường Thi có câu:

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang, do xướng Hậu Đình Hoa

Hỏi Cụ đồ: Thương nữ là gỉ?

Chiếu theo sách, Cụ đồ giảng: Thương là buôn bán. Thương nhân là lái buôn. Thương nữ là con gái đi buôn.

Hỏi thêm: Tại sao con gái đi buôn lại ca hát ở tửu điếm?

Cụ đồ bảo: Tại mấy cô ấy buôn son bán phấn.

Hỏi tiếp: Tại sao mấy cô buôn son bán phấn, tức là “gái mãi dâm” lại có “hận vong quốc”? Các cô ấy mất nước với ai? Từ bao giờ?

Sách không giảng nên Cụ đồ quát:

Hỏi gì mà hỏi lắm thế?

Không phải chỉ có Cụ đồ Việt Nam lúng túng, mà tất cả những người Tàu chúng tôi hỏi đều lắc đầu. Lý do là tại chữ thương có hai nghĩa khác nhau.

1) – Người thuộc chủng tộc Ân, thành lập triều đại nhà Thương, ở lưu vực Sông Hoàng từ Thế kỷ 16 trước Tây Lịch.

2) – Nghề buôn. Thương nhân là người đi buôn. Tại sao một chữ mà có 2 nghĩa khác nhau?Tại vì sự thể như sau: Theo nguyên nghĩa “Thương nhân” là “Người thuộc chủng tộc Ân”, những người đã lập nên một nước, có triều đại thường gọi là Nhà Thương. Do đó, lúc đầu, “Thương nhân” có nghĩa là “Dân của nước Thương, của Triều đại Nhà Thương”.Người Thương, tức là “Người Nước Thương”, đã phát triển văn hóa nông nghiệp, nghĩa là đã định cư và khai thác ruộng đất. Thế kỷ 11 trước Tây Lịch, họ bị người Chu là rợ du mục từ Thiểm Tây tràn vào, cướp nước và giết họ, nhiều đến nỗi “máu chảy thành suối làm trôi cả chày giã gạo”Hơn nữa, vì người Chu là dân du mục, chỉ sống về chăn nuôi, không làm ruộng, không công nhận tư hữu tài sản về ruộng đất, nên thả dê, bò, phá hoại mùa màng của người Thương.Người Thương phải chạy thoát thân. Nhiều nhóm chạy bằng thuyền sang Đài Loan, hoặc dọc theo ven biển, sang tới California và Guatemala.

Người ta biết như vậy, vì các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở bờ biển California và Guatemala những tảng đá hình tròn, to như bánh xe hơi, ở giữa có khoét lỗ tròn, mà người Thương dùng để neo thuyền. Vì ra đi tay không, người Thương phải kiếm sống bằng cách đi chợ nọ, chợ kia, buôn bán, kiếm chút tiền lời.

Vì vậy nên chữ “Thương nhân”, nguyên nghĩa là “người nước Thương”, về sau có nghĩa là “lái buôn”. Cũng như chữ Juif của tiếng Pháp, nguyên nghĩa là người Do Thái, sau này lại có nghĩa là “người bủn xỉn”, vì lẽ họ là những người mất nước, mất cơ nghiệp, phải di tản khắp nơi, nên phải ăn tiêu dè xẻn. Trong khi đàn ông Thương phải ngược xuôi buôn bán, đàn bà con gái phải đi làm “gái bar”, ca hát ở mấy tiệm rượu, để kiếm thêm chút đỉnh góp vào quỹ gia đình, nuôi con cái. Về đời Đường, người Hán chưa có chủ trương cố tình “Hán hóa” các sắc tộc phi Hán, nên người Thương còn được coi là một sắc tộc riêng biệt, và chữ Thương nhân còn hiểu theo nguyên nghĩa: Người thuộc chủng tộc Ân, đã lập nên triều đại nhà Thương.Đỗ Mục, tác giả bài Đường thi kể trên dùng chữ “Thương nữ” với nghĩa “Cô gái thuộc chủng tộc Thương”. Ông có ý chê mấy cô không nhớ nhục mất nước, và lòng hận thù người Chu, nỡ mang nhan sắc và giọng ca, hát, vào những bài ẻo lả như bài Hậu Đình Hoa để mua vui cho mấy chú Hán tộc, con cháu người Chu cướp nước. Có hiểu chữ “Thương” theo nguyên nghĩa mới hiểu tại sao Đỗ Mục lại chê mấy cô đã “quên vong quốc hận”.Sau này, tự điển Tàu chỉ giảng Thương nhân là “lái buôn”, bỏ hẳn nghĩa “Thương nhân là người thuộc chủng tộc Thương”, vì người Hán muốn xóa nhòa cái tội đã cướp nước, và đã tàn sát người Thương.

Chỉ vì tự điển Tàu bỏ hẳn nghĩa cũ, mà các thày đồ Ta đâm ra lúng túng. “Đọc xong mấy trang sách, tôi thẫn thờ vì từ trước đến giờ nhiều học giả, thi nhân Việt Nam vẫn đinh ninh rằng Thương nữ là con gái thương nhân, gái buôn, hoặc bạo dạn hơn là gái ca, đào hát . Ta hãy đọc lại mấy bản dịch của tiền nhân.

泊秦淮 煙籠寒水月籠沙,

夜泊秦淮近酒家。

商女不知亡國恨,

隔江猶唱後庭花。

Bản dịch của Trần Trọng San

Khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát,

Thuyền đậu Tần Hoài, cạnh tửu gia.

Cô gái không hay buồn nước mất,

Bên sông còn hát “Hậu đình hoa”.

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Khói lồng nước, bóng trăng lồng cát,

Bến Tần Hoài, thuyền sát tửu gia.

Gái ca đâu nghĩ nước nhà,

Cách sông vẫn hát khúc ca “Hậu đình”.

Bản dịch của Mộng Sơn

Mây mặt nước, nguyệt đầu ghềnh,

Bến Tần vui chuốc chén quỳnh đêm thanh.

Gái “đêm” quên sóng khuynh thành

Bên sông hát khúc “Hậu đình hoa” chơi!

Bản dịch của Tú Mỡ

Khói lan nước lạnh, cát trăng xoa

Đêm đậu bến Tần quán chẳng xa

Đào hát biết chăng sầu mất nước

Cách sông hát khúc “Hậu đình hoa”

Bản dịch của Hoàng Giáp Tôn

Mặt nước lạnh khói loang, trăng tan trên cát,

Hận vong quốc biết gì, ca nhi còn hát!

Bến Tần Hoài, thuyền ta đỗ cạnh tửu gia,

Vẳng tự bên sông lại khúc “Hậu đình hoa”!

Tôi cũng có đem việc này trình bày cùng một người bạn tinh thông Hán văn. Sau khi tra cứu lại xem người Hoa giải thích thế nào thì anh thấy họ giải thích khác hẳn. “Thương nữ” chỉ có nghĩa đơn giản là “ca nữ”

– thời buổi bây giờ mình gọi là ‘nữ ca sĩ.’ Họ không giải thích rộng thêm tại sao lại là ca nữ, anh võ đoán chữ “thương” tuy có 1 nghĩa là buôn bán nhưng cũng là 1 âm trong ngũ âm (cung, thương, giốc, chủy, vũ 宮, 商, 角, 徵, 羽) nên mới gọi là ca nữ chăng?

Mà cũng có thể vì phải kiếm sống, các cô gái Thương phải làm “gái bar ca hát ở mấy tiệm rượu” nên Thương nữ được gán đặt là ‘ca nữ’.Anh cho biết thêm rằng theo tài liệu của người Hoa, Hậu Đình Hoa thật ra đầy đủ là Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa (NTHĐH) của Trần Hậu Chủ, tức là Trần Thúc Bảo (553-564), hoàng đế cuối cùng của Nam Triều. Ông ta sống trong nhung lụa, không màng việc nước, ngày tháng đắm chìm trong dục lạc và đã sáng tác bài NTHĐH để cùng các mỹ nữ hậu cung vui thú. Vui thú cho đến khi mất nước.

Bài NTHĐH được người đời sau gọi là ‘diễm khúc’ tiêu biểu cho nhạc đồi trụy vong quốc. Đến đời Đường thời ông Đỗ Mục thế nước suy vi, nội ưu ngoại hoạn, chẳng ai lo việc nước, quân thần chìm đắm trong tửu sắc, phần nhiều lại quanh quẩn ở Tần Hoài, nơi ăn chơi nổi tiếng. Cảm thán cảnh đó ông Đỗ Mục mới làm bài Bạc Tần Hoài, không phải để chê bai mấy cô “chủng tộc Thương … không nhớ nhục mất nước”, mà ông mượn cô ca sĩ để chỉ trích các quan lại thối nát.

Một số học giả người Hoa cho rằng có những quan lại thời đó “chán đời” nên la cà các tửu gia để giải sầu và họ thường yêu cầu các ca nữ hát bài Hậu Đình Hoa. Để kết thúc bài này, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trong phần viết thay đề tựa cuốn sách trên:

“Chúng ta có thể đồng ý, chúng ta có thể không đồng ý, nhưng có một điều chắc chắn là ở tác giả Hoàng Văn Chí không có vấn đề “tận tín thư”, không có vấn đề “giáo điều”. “Tin hoàn toàn vào sách vở thì thà không có sách còn hơn”, Mạnh tử ngày xưa đã chẳng dạy rồi sao? Vì không “tận tín thư” nên ông Hoàng Văn Chí đòi xét lại tất cả, mà còn cả những sự thật mà nhiều người trong chúng ta đã coi là hiển nhiên và không còn thắc mắc nữa.

Ông làm thế không phải để khuyến khích một tinh thần hoài nghi tất cả mà là để xây dựng trong ta một niềm tin có cơ sở hơn khi đã luận ra mọi nhẽ. Vậy đồng ý hay không với những điều ông trình bầy có lẽ còn không quan trọng bằng sự thảo luận với ông ở một trình độ khá sâu sắc. “

Khổng Trung Linh

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.