chuyện bâng quơ mùa ôn dịch :đồng hương Kontum Trang Y Hạ lói về “Vô ný và có ný”

VÔ LÝ & CÓ LÝ

Image may contain: one or more people, eyeglasses and closeup, text that says 'Em đi bên ấy chân tròn khép Hai ong mo hô mói một hang.'

Chung quanh chúng ta và chính bản thân chúng ta còn có rất nhiều cái vô lý… và có lý! Thiển nghĩ, cái vô lý như là: cái ác – nó luôn luôn chống lại cái thiện, là: có lý. Sự xung đột nầy dai dẳng triền miên sẽ không bao giờ chấm dứt.

Có một vị giáo sư ở đâu đó (xin giấu tên) – nói rằng: thi sĩ Bùi Giáng là: “ÔNG TỔ CỦA THƠ VÔ LÝ”. Và trong bài thơ: “Chào Nguyên Xuân” – câu thứ hai “… Mùa xuân phía trước miên trường phía sau”, cũng vô lý tuốt… (?) Tôi không phải là nhà phê bình thơ- văn, nên không dám có ý kiến, ý cò, trong lĩnh vực nầy. Nhưng cũng hơi ngờ ngợ… chuyện đi tìm cho ra cái “có lý” trong từng câu thơ, hay bài thơ…, thì không dễ dàng chút nào (ngoại trừ: thơ mà không có thơ, thơ xu nịnh, thơ phục vụ cho cái ác…). Bởi thơ không phải là cái động cơ, hoặc khẩu súng mà đem tháo bung ra rồi ráp trở lại một cách dễ dàng. Hơn nữa trong đời sống hằng ngày có rất nhiều cái vô lý vẫn tồn tại mà mọi người trên thế giới vẫn vui vẻ chấp nhận.

Người xưa nói: trong cái họa có cái mầm của phúc, và trong cái phúc có cái mầm của họa. Hay chuyện: có lý vẫn ẩn chứa vô lý và ngược lại. Phân biệt rạch ròi – ai chân, ai ngụy là chuyện cần phải có nhiều thời gian. Huống hồ một câu thơ, một bài thơ, cũng cần phải có rất nhiều thời gian và trải qua nhiều người đọc, và các nhà phê bình văn học đánh giá… Hơn nữa tên tuổi của thi sĩ Bùi Giáng đã nổi tiếng và tồn tại hơn nửa thế kỷ nay. Chúng ta có thể khẳng định rằng: Thi sĩ Bùi Giáng, ông đã có một chỗ đứng nhất định trong lòng những người yêu thơ của ông. Nếu thi sĩ Bùi Giáng là: “Ông Tổ Của Thơ Vô Lý” thì có lẽ tập thơ: “MƯA NGUỒN” của thi sĩ, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1962, đã bị giới văn học nghệ thuật và những người yêu thơ ông thời đó – tại Miền Nam Việt Nam, thẳng tay ném nó vào trong sọt rác từ lâu rồi.

Chào Nguyên Xuân

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (vô lý)… (?)

Tóc xanh dù có phai màu

Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng

Xin chào nhau giữa lúc này

Có ngàn năm đứng ngó cây cối

và Có trời mây xuống lân la

Bên bờ nước có bóng ta bên người

Xin chào nhau giữa bàn tay

Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con

Thưa rằng: những ngón thon thon

Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau

Xin chào nhau giữa làn môi

Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam

Thưa rằng bạc mệnh xin kham

Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

Xin chào nhau giữa bụi đầy

Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu *

Hỏi rằng: người ở quê đâu

Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

Hỏi rằng: từ bước chân ra

Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

Thưa rằng: nói nữa là sai

Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào

Hỏi rằng: đất trích chiêm bao

Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau

Thưa rằng: ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

Bùi Giáng

(Trích trong thi phẩm Mưa Nguồn, xuất bản lần đầu tiên 1962)

Từ xưa đến nay hễ nghe nói đến thơ là ai cũng nghĩ ngay đến mấy ông bà thi sĩ : Lãng mạn, tưởng tượng…, trời trăng mây nước… dùng chữ nghĩa: “ẩn dụ, hoán dụ, nhân cách hóa, thi vị hóa…” tìm các từ ngữ mới lạ để chở những ý thơ mới lạ… Hoặc trong thơ có nhạc; trong thơ có họa, mà người bình thường ít ai hiểu nổi. Còn nếu ai cảm nhận được hồn thơ, ngôn ngữ thơ, thì khen thơ hay bình thơ…! Nhưng, chỉ có một người lúc nào cũng hiểu rất rõ về thơ – chính là người đã mần ra bài thơ đó. Như vậy đi tìm cái “có lý” trong hồn thơ coi bộ không dễ dàng chút nào. Cái có lý chính là có thơ! Cái vô lý là tại sao con người sống trên trái đất nầy lúc nào cũng mang một mớ nỗi buồn hiu quạnh… ! Buồn có cớ; buồn vô cớ hay còn gọi là nỗi buồn không tên, nỗi buồn vu vơ…! Do đó mới có “nghề” mần thơ…!

Từ đó, người đời thương cảm – phong cho các ông, các bà cái tên: Thi sĩ. Người thi sĩ than mây, khóc gió… gom hết những nỗi buồn trên thế gian đem dệt thành những vần thơ ướt át, còn thơ có hay, hay không hay – thì còn tùy tâm trạng của mỗi người, mỗi nơi… Người thi sĩ dù có tưởng tượng ra bao nhiêu thơ đi chăng nữa: trên trời, trên mây, dưới đất cũng mặc, nhưng không thể nào thoát khỏi hình bóng của con người. Thi sĩ không phải mần thơ để cho thần tiên ở trên trời đọc, mà để cho con người ở dưới đất đọc. Con diều no gió vi vút nhào lộn trên không trung vẫn còn phải mắc nợ suốt đời cái sợi dây nhỏ xíu của mấy đứa trẻ cầm trên tay chạy lon ton ở bờ mương, con đê, và những đám ruộng mùa khô trong những ngày hè nắng đẹp!

Coi phim “Tây Du Ký”, khi thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh trở về bị tai nạn rớt đâm đầu xuống sông… Thầy Tam Tạng cằn nhằn: – “Chúng ta cực nhọc biết bao năm mới ẵm được mớ kinh, giờ bị ướt, bị thất lạc hết ráo trọi!”. Tề -Thiên- Đại- Thánh, an ủi với ông thầy của mình rằng: – “Thầy ơi! Trời đất còn không hoàn hảo, huống hồ mấy tờ kinh bị ướt hay mất có đáng kể chi. Còn giữ được cái mạng sống để trở về quê nhìn lại quê hương ông bà cha mẹ là quá may mắn rồi!”.

Trong cuộc sống hằng ngày chung quanh chúng ta có biết bao nhiêu điều: vô lý, phi lý – chẳng hạn sự hủy diệt của thiên nhiên: động đất, núi lửa, sấm sét, bão tố, lũ lụt, hạn hán, hỏa hoạn, dịch bệnh… Và cũng chính sự hủy diệt đó trở thành – có lý! Đó là quy luật đào thải và sinh tồn trong vũ trụ.

Không cần phải là nhà triết học, hay nhà thần học, chỉ quan sát, chú ý nhìn qua những sự việc rất ư là đời thường để nhận ra cái: vô lý và có lý, trong thiên nhiên và con người. Con người không thể thoát ra khỏi những ràng buộc của thiên nhiên. Những ông bà nhiều chữ ngày xưa nói: “Thiên- Địa -Nhân”, tất nhiên có những mầu nhiệm, huyền bí mà con người quyết tâm tìm kiếm, và cố gắng vượt qua…”Xưa nay nhân định thắng thiên đã nhiều!” Trong con người luôn luôn mâu thuẫn bởi – thiện, ác, tốt, xấu, nóng, lạnh… Đó cũng là nguyên nhân gây ra xung đột, hận thù, chiến tranh. Chiến tranh trong chính bản thân con người, chiến tranh giữa người với người, chiến tranh trong một đất nước, chiến tranh thế giới – để tranh giành, từ: lãnh thổ, tài nguyên, phe phái, chủ thuyết… Có một điều – dù thua hay thắng ai cũng cho rằng phe bên mình có lý cả!

Có những cái “vô lý” không bao giờ thấy, nhưng hằng ngày chúng ta vẫn tin, vẫn cầu nguyện không ngừng. Đó là Thiên Đàng! Đó là Niết bàn! Đó là chân lý! Niềm tin tuyệt đối trở thành có lý, mà không một ai dám chối cãi hay nói ra những lời nói cố ý phạm thượng, phạm thánh. Những người theo – chủ thuyết xã hội, họ cũng có niềm tin vào ” thế giới đại đồng”. Thế giới đó cũng giống như thiên đàng, nhưng là: thiên đàng ở nơi hạ giới. Trong thế giới đại đồng mọi người đều bình đẳng không ai bóc lột ai. Không tôn giáo, không tổ quốc và cũng không có gia đình. Một chủ nghĩa xã hội, đầy “nhân bản và tốt đẹp”! Như vậy ai mà không tin là có thật? Nhưng gần cả trăm năm rồi vẫn là: “thời kỳ quá độ”! Có những con đường đi không bao giờ tới – biết thế nhưng vẫn âm thầm bước đi…!

Có những cái vô lý là kẻ thù tìm mọi cách đánh cho tả tơi, xâm chiếm đất, biển, biên cương… Vậy mà họ vẫn ôm nhau bày tỏ tình cảm anh em thắm thiết! Tình hữu nghị đời đời bền vững không gì lay chuyển nổi. Có những cái có lý, nhưng trở thành hoàn toàn vô lý không chịu nổi – tức đến ói máu! Nhiều người bày tỏ tinh thần yêu nước; yêu quê hương dân tộc trước kẻ thù xâm lăng… Nhưng bị luật pháp ghép tội…!

Cái vô lý là nhà người ta đang ở, đang sống yên ổn. Mượn dựng cớ: “các anh đang bị “đế quốc tư bản giãy chết kèm kẹp”, bị chết đói, chết khát, không tự do dân chủ”. Không ai mời, cũng cứ nhào vô “giải phóng” dùm rồi tước đoạt hết mọi thứ… đuổi lên rừng, bắt đi tù…, cực khổ quá, sống không nổi, đành bỏ nước ra đi…!

Những kẻ trong tay không có một tất sắt – thì họ “chống bằng mồm”; bằng cây viết để đòi lại nhà, lại đất, đòi lại công bằng là chuyện đương nhiên chẳng nói mần chi. Đàng này, cái vô lý, là: Họ có quyền, có vũ khí, có quân đội… Được thế giới công nhận. Nhưng tại sao trước kẻ thù xâm lăng họ cũng “chống giặc bằng mồm” ỏm tỏi…, mà chống rất hăng!

Chung quanh chúng ta và chính bản thân chúng ta còn có rất nhiều cái vô lý và có lý! Thiển nghĩ, cái vô lý, như: cái ác – nó luôn luôn chống lại cái thiện, là có lý. Sự xung đột nầy dai dẳng triền miên sẽ không bao giờ chấm dứt. Vậy thì có nghĩa lý gì một câu thơ, một câu văn – dù cho rằng có vô lý đến đâu đi chăng nữa cũng không đến nỗi phải ghép cho người khác, là: “ÔNG TỔ CỦA THƠ VÔ LÝ”! Vậy ai là: “ông tổ của thơ có lý”…? Thơ văn là người – là người thì đều có đủ: thất tình, lục dục… Làm sao có thể đi tìm cái – “tuyệt đối” ở trong vũ trụ nầy?

Ai cũng biết thơ văn từ con người viết ra, hay dở cũng tùy theo cảm nhận của từng con người nhận định. Bài thơ, bài văn hay ở người nầy nhưng không mấy hay ở người khác đó là chuyện bình thường. Rất tiếc, có một số ít người dùng văn thơ vào những mục đích riêng, hoặc vô tình hay cố ý xúc phạm lên danh dự của người khác để nâng uy tín của bản thân mình lên…! Văn thơ luôn cần có người đọc, nếu không có người đọc thì viết ra mần chi cho mất thời gian? Chính người đọc họ sẽ đánh giá tác phẩm của các văn thi sĩ. Vậy tốt hơn hết, chúng ta nếu không hiểu được ý nghĩa ẩn giấu trong tác phẩm, hãy đi nhờ bạn hữu làm sáng tỏ cái ẩn ý cũng như tâm tình của tác giả gửi gắm vào tính cách của từng nhân vật trong thơ hay truyện.

Thi sĩ Bùi Giáng là thi sĩ lớn của nền văn học Việt Nam đã qua đời và để lại nhiều tác phẩm thơ, văn, truyện dịch… Đã đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam rất nhiều từ bấy lâu nay. Thiết nghĩ: ai thích, hay không thích thơ văn của thi sĩ Bùi Giáng (hoặc thi văn sĩ khác) thì cũng nên có cái nhìn trân trọng đối với các tác phẩm của họ, cho dù còn sống hay đã chết. Đừng ganh tỵ mà vạch lá tìm sâu phủ nhận tuốt tuột.

Thi sĩ Nguyễn Đình Chiểu đã từng viết ” Dù đui mà giữ đạo nhà. Còn hơn có mắt ông cha không thờ”. Như vậy dù điên hay đui, không thể làm mất nhân cách của một con người. Bởi không có ai muốn: “Điên hay Đui!”. Thơ lục bác của thi sĩ Bùi Giáng đã bức phá ra khỏi cái bóng “Đoạn Trường.. ” của thi hào Tiên Điền; góp phần nâng cao cái hay, cái tinh túy của thể thơ Lục Bác – Thể thơ Việt Nam – có từ nghìn năm xưa, đã đi vào cội nguồn văn hóa dân gian Việt Nam qua từng câu: Vè, Ca Dao, Tục Ngữ…

Cách đây không lâu, một số Văn Thi Sĩ của Việt Nam đã đề nghị – một giải thưởng lớn cho thơ Việt Nam – lấy tên: “GIẢI THƯỞNG THƠ – BÙI GIÁNG” nhưng chưa được sự chấp thuận. (Đã có một buổi tọa đàm thơ Bùi Giáng tại Hội Trường Trung Tâm Văn Hóa Pháp). Như vậy, vô lý hay có lý ở rất gần chúng ta chứ chẳng phải ở đâu xa. Làm thế nào dung hòa lại để cho cuộc sống mỗi ngày được vui vẻ thoải mái hơn…! Đó là điều mà bất cứ ai cũng đều mong ước! Xin mượn – mấy đoạn thơ lục bác của thi sĩ Bùi Giáng bên dưới đây, để chứng minh những điều đã nói.

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?

Ta đi còn gửi đôi dòng

Lá rơi có dội ở trong sương mù.

(Trang Y Hạ, đã viết bài bình…) *

Mẹ về trong cõi người ta

Một hôm mẹ gọi con ra bảo rằng

Trần gian vui sướng lắm chăng?

Hay là đau khổ hỡi thằng chiêm bao. *

Hỏi tên, rằng biển xanh dâu

Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đã xa

Gọi tên rằng một hai ba…

Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

(Thơ triết)Trang Y Hạ

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.