Một mệ Huế ,Ninh Giang Thu Cúc,viết về một mệ Huế đã ra đi,Hoàng Hương Trang

Vẫn góp đời hương vị - Thơ Ninh Giang Thu Cúc - Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ  Chí Minh

Ninh Giang Thu Cúc

HOÀNG HƯƠNG TRANG

Họ tên: Hoàng Thị Diệm Phương

Năm sinh: 1937

Quê quán: Vân Thê, Hương Thủy, 

Thừa Thiên Huế 

 PHẦN TIỂU SỬ VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA

Nữ sĩ Hoàng Hương Trang có tên khai sinh là Hoàng Thị Diệm Phương. Chào đời vào một ngày cuối xuân năm Đinh Sửu (tức ngày 3 tháng 4 năm 1937) tại đường Gia Hội, thành phố Huế tỉnh Thừa Thiên quê ở làng Vân Thê thuộc huyện Hương Thủy (bây giờ là thành phố Huế mở rộng).

Được sinh trưởng trong một gia đình nho phong nề nếp, nhưng rồi song đường lần lượt khuất núi sớm, cô con gái út được nuông chiều trong ba anh em; phải nương tựa vào nhau, và bằng ý chí tự lập – cô nữ sinh Đồng Khánh đã vươn tới những thành công nhất định trong sự nghiệp một nhà giáo, một nhà thơ, một nhà văn, một họa sĩ…

Hoàng Hương Trang nguyên là giáo sư môn Văn và Hội họa các trường trung học, nguyên giáo sư Đại học Mỹ thuật Saigon và TP HCM. Giải thưởng: Giải Nam Phương Hoàng Hậu (Thiếu nhi 1948 Huế), Giải vẽ biểu mẫu nhà máy xi măng Long Thọ Huế (1958), Giải Văn học Vì Trẻ thơ, do UNICEF + Hội Nhà văn VN và Tạp chí Vì Trẻ thơ (Hà Nội 2000 – 2001), Giải Âm nhạc VN 2004 (đồng tác giả với nhạc sĩ Quỳnh Hợp), Giải Văn xuôi (10 năm NS Vô Ưu, tỉnh Đắc Lắc 2008) giải thơ văn Ngàn năm Thăng Long – Hà Nội 2010 (Báo Giác Ngộ); có tranh treo ở Viện Bảo tàng Tòa thánh Vatican từ năm 1989; đã xuất bản 6 tập thơ riêng + 1 tập truyện, in chung 1 tập truyện VN, 1 tập truyện Anh ngữ, 1 tập truyện VN chọn lọc ở Hoa Kỳ, trên 100 tuyển tập thơ trong nước và ngoài nước. Đã được giới thiệu trong: Présence Francophone (Canada 1972). Poems and Shortstories (Trung tâm Văn bút VN, Saigon 1965) Thơ tình VN và thế giới, Những gương mặt thơ mới (Hà Nội), Ngàn năm thương nhớ (Hà Nội), Tuyển thơ các tác giả nữ VN (giải thưởng một ngàn năm Thăng Long, in năm 2010), Nữ sĩ VN cổ đại, cận và hiện đại (2006). Chủ biên những tuyển tập thơ: Vườn thơ tao ngộ, Vùng trời quê mẹ, Bao la tình thơ, Dòng thơ dòng đời, Tứ ngũ lục, Hương thơ 1, 2, 3, 4, 5… Biên soạn và giới thiệu: Tác giả thơ VN đương đại tập 1 và 2 (2009). Cộng tác với các báo chí trong và ngoài nước từ 1953 đến nay. Hiện sống và sáng tác thơ, văn, hoạ, nhạc tại TP HCM.

HOÀNG HƯƠNG TRANG VỚI ĐỜI 

VÀ ĐỜI VỚI HOÀNG HƯƠNG TRANG

A ha! Cái biệt danh “Diệt Tuyệt Sư Thái” trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung được giới văn lâm Sài Gòn phong tặng cho nữ sĩ Hoàng Hương Trang từ trước 1975 đến nay ưng hay oan thế nào. Có lẽ chúng ta phải tìm hiểu kỹ, bới tận gốc, trốc tận rễ – xem nguyên nhân nào đã biến một cô gái kiều mị, một phụ nữ đa cảm (không có tố chất đa cảm thì làm sao làm nghệ thuật) trở thành một người đàn bà sắt đá lẫn đanh đá, lạnh lùng qua những trang viết lý luận phê bình bằng giọng điệu sát phạt không khoan nhượng với bất cứ ai, với bất cứ tuổi tác cao thấp trong làng nghệ thuật mà bằng “biệt nhãn” bà thấy ở họ có vấn đề là bà mổ xẻ không thương tiếc. Vì thế nhiều người bảo bà là kẻ ưa gây sự, hàm hồ chưởi bới vung tàn tán…

Điều ấy là phần đánh giá của công chúng. Riêng Ninh Giang Thu Cúc tôi khi thực hiện công trình này – công trình tôn vinh các nữ sĩ của quê hương Thừa Thiên Huế là làm bằng tất cả lòng kính trọng và sự công bằng không thiên vị cho một tình cảm riêng tư, hay một định kiến tốt xấu tị hiềm, mà chỉ bằng vào sự đóng góp tài trí, công sức lớn lao cho gia đình, quê hương Tổ quốc Việt Nam, của các nữ lưu hậu duệ quốc mẫu Âu Cơ, qua bao giai đoạn thăng trầm hưng phế riêng chung từ cá nhân đến cộng đồng xã hội.

Nữ sĩ Hoàng Hương Trang là một trong các vị nữ sĩ mà Ninh Giang Thu Cúc tôi giới thiệu ở hợp tuyển “Nữ lưu miền Hương Ngự”.

TÂM HUYẾT VỚI TỔ QUỐC CỦA HOÀNG HƯƠNG TRANG 

QUA CÁC BẢN TRƯỜNG CA Ở THẬP KỶ 60-70 (THẾ KỶ XX)

Trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng của toàn dân tộc Việt Nam, biết bao con dân đã từng ước ao và cầu nguyện mà Hoàng Hương Trang là một điển hình.

 …”Vùng trời đất nước bình yên

Bắc Nam chung một lời nguyền sắt son

(HHT – 1969)

Bằng lời nguyền sắt son ấy Hoàng Hương Trang đã rong ruổi theo dọc dài “Vùng trời quê hương” với sứ mạng của một chiến sĩ văn hoá thúc giục, ký thác cho lớp lớp các chàng trai, cô gái đồng trang lứa băng rừng vượt núi xẻ dọc Trường Sơn:

… Giữ gìn trời bể

Cho phù sa đất Mẹ thắm muôn nơi

Cho gái sông Hương trai Hà Nội mỉm cười

Cho gió Sài Gòn thổi về Thanh Hoá

Cho bát nước chè xanh thơm ngon khói toả

Cho cam xã Đoài ngọt lịm bưởi Đồng Nai

Cho gạo thơm hai xứ trong ngoài

Cho mắt em thơ Quỳnh Lưu hiền dịu

Cho những vì sao bầu trời không thiếu…

Để mẹ già đừng nhăn vừng trán

Để trai làng trẩy hội gái Lim xinh

Để trầu cau mai mối trao tình

Để chuyến tàu Bắc Nam đi, về từng bữa

Để cốm thơm mùa cưới thu về

Để chiều hè diều giấy rợp bờ đê

Để đình đám hội hè tháng giêng tháng tám...

Lòng người đọc làm sao không bồi hồi cảm xúc theo bao nguyện vọng mà người viết đã dàn trải trong từng thi ảnh cho một quê hương đất nước xuyên suốt từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, một không gian thống nhất ấm áp trong lành; giữa tình đồng bào ruột thịt không đố kỵ, hận thù – chỉ biết mở lòng đón nhận:

…Ôi, những trường giang

Những trường giang vời vợi

Mang tiếng hò giọng hát quê hương

Ra biển rộng đón thuyền về bến

Biển làm thơ sóng cả gọi muôn lời

Mẹ của biển và biển là lòng mẹ

Và biển rộng nuôi nghìn thế hệ

Suốt một đời tôi vẫn làm thơ...

Phải chăng đây là tuyên ngôn của Hoàng Hương Trang “Suốt một đời tôi vẫn làm thơ“. Hoàng Hương Trang làm thơ để ca ngợi quê cha đất tổ, ca ngợi bao thế hệ cha anh đã cống hiến sức thanh xuân và trí tuệ cho đất nước Việt Nam, cho mẹ Việt Nam với lời khẳng định:

…Con chỉ xin giữ lại trên môi

Một ngôn ngữ chân tình gọi: Mẹ!

(Hoàng Hương Trang – 1969)

Những dòng thơ, câu thơ được trích dẫn trên đây với niềm đồng cảm của người đọc – là những bản trường ca Hoàng Hương Trang đã viết trong những năm 60 – 70 thuộc thế kỷ 20 được in rải rác trong các tập như: “Khép đôi mi nhỏ”, Linh hồn cỏ biếc”… Người đọc viết cảm nhận này bằng tâm cảm của kẻ đồng hội đồng thuyền, đồng ý niệm tôn vinh: Những bàn tay dựng nước

Những bàn tay dựng nước

Tôi biết, anh với hai bàn tay nhỏ

với mắt nhìn đăm đắm nẻo đường xa

nhưng trong anh có cả một sơn hà

có cả một non sông bừng dậy

Hỡi những bàn tay măng non run rẩy

hỡi những bàn tay gầy yếu quanh năm

hỡi những bàn tay thần thánh oai hùng

hỡi những bàn tay cuốc cày vun xới

Ơi những bàn tay hãy chờ nhau với

hãy tìm nhau giữ chặt tương lai

quê hương này không phải của riêng ai

mà tất cả đều cùng chung đất mẹ

Thân thì nhỏ và đôi tay nhỏ bé

nhưng lòng cao chí cả vượt muôn trùng

núi sông này, núi sông của nhau chung

ôm ấp nhé, giữ gìn cho nhau nhé

Gái hay trai cũng là xuân thế hệ

trẻ hay già cũng bồng bế tương lai

cho vườn xuân còn thắm nụ hoa nhài

cho cúc trổ bông vàng trên đất mạnh

Cho những mùa đông đừng bao giờ lạnh

Bắc Nam cùng sưởi ấm bản tình ca

cho những mùa thu hoa lá không già

hoa lá đẹp nẩy mầm thơm sữa ngọt

Cho những mùa xuân ngoài đồng chim hót

những mùa hè vui áo trắng học trò

ôi những con đường đất nước quanh co

ao bèo tím, gái quê chiều giặt lụa

Ruộng đơm tràn bốn mùa tươi bông lúa

khoai sắn đầy nẻo chợ khắp làng quê

gió chiều lên diều giấy rợp trên đê

câu hát tuổi học trò thơm mộng thắm

Những bàn tay hỡi những bàn tay tìm nắm

những bàn tay cầm súng giữ quê hương

những bàn tay cày cuốc giữ ruộng vườn

thân mến quá những bàn tay dựng nước

Hãy bước đi hãy cùng nhau tiến bước

Tay trong tay gìn giữ một giang sơn

Đất nước mình đừng chia rẽ oán hờn

Hà Nội đó, mai về thăm em nhé.

(Bàn tay dựng nước – HHT)

THƠ TÌNH VÀ TÌNH YÊU CỦA NỮ SĨ HỌ HOÀNG

Một người con trai làm thơ của xứ Huế chúng ta đã từng khẳng định:

Khi yêu không đắn đo gì

Phân phô chừ biết nói vì cớ sao…

(ĐC – NĐ Thư)

Thế nhưng, với con gái Huế khi yêu thì lại khác, hình như ít khi họ bị “tiếng sét ái tình” chi phối, mà họ “đắn đo” âm thầm tìm hiểu – bởi tình yêu của người con gái đối với con trai bao giờ cũng bắt đầu bằng sự cảm phục ngưỡng mộ tài năng, đức hạnh nhân phẩm và khi đã yêu rồi thì họ nguyện “chết một đời” cho tình yêu ấy (không biết tôi có bị ghép tội chủ quan áp đặt với ý nghĩ của bạn đọc là phủ binh phủ, huyện binh huyện không đây?).

Nét đặc trưng của đa số con gái Huế là chung thủy trong tình yêu. Cả cuộc đời hình như họ chỉ yêu một lần duy nhất, nếu thuận buồm xuôi gió, thuyền yêu cập bến hôn nhân thì đó là phúc phận, bằng không họ ôm lòng chịu đựng mọi bất hạnh trái ngang, đào sâu chôn chặt…

Nhưng, chúng ta đọc mảng thơ tình của Hoàng Hương Trang, của một nàng thơ Huế, chúng ta mới thấy được cái bản lĩnh, sự bộc trực của tác giả – cho dù đó là chuyện tình của chính tác giả, hay nhân vật xưng tôi trong thơ chỉ là sự hư cấu, vay mượn để Hoàng Hương Trang từ tình yêu này, nói đến “tình yêu” khác – thì người đọc vẫn thấy sự biểu đạt này dữ dội quá, đào cùng tát cạn quá và ngay thẳng ngang tàng như bản chất của một nữ anh hùng Lương Sơn Bạc (?!).

Hoàng Hương Trang hay nhân vật của Hoàng Hương Trang đã từng được yêu và từng say đắm trong tình yêu của một thời tuổi trẻ – nhưng rồi đường tình nổi cơn gió bụi, người tình vì ngàn lẻ một lý do nào đó đành quay lưng sấp mặt với nàng thơ.

Và thế là “còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi”. Sự căm thù ấy, sự thất tình, thất vọng ấy đã được nữ sĩ xâu chuỗi thành 23 bài thơ để bạn đọc có thi phẩm Túy ca.

Túy ca– hát trong cơn say. Người xưa và người thơ Hoàng Hương Trang hôm nay cùng gặp nhau ở chỗ “Dụng tửu phá thành sầu”.

Ô hay! Rượu đắng tình đau

Người trong ảo ảnh cũng sầu như ta

Rượu hay nước mắt chan hòa

Ai say? Ai khóc? Là ta hay người?

(Túy ca 4)

Khóc cho mình, khóc cho người, khóc cho đời, đó là trạng thái chung của bao cô gái bị tình phụ, nhưng ở Hoàng Hương Trang thì lại khác; không những bà khóc, cười, mà còn chửi nữa trời ạ. Nhưng khổ nỗi là bà chửi hay như hát – cho nên người đọc vẫn thấy thích khi đọc “Trường đoạn” chửi của Hoàng Hương Trang:

“Không ngủ được, dậy làm thơ chửi đổng

Tiên sư đời, cái giống u mê

Trăm năm ai đã chán chê

Yêu nhau cũng thể trò hề múa men

Đèn màu bật, hoa chen lá trỗi

Nhạc tưng bừng, kèn nổi trống khua

Thủy chung ai bán mà mua…

Gió thoảng mát qua mành liếp cũ

Thức dậy đào lưng hũ nếp than

Nâng ly độc ẩm đêm tàn

Mồ cha cuộc thế, ngâm tràn thơ say!

Chẳng có miếng đưa cay nhấm nháp

Chẳng đốt đèn ấm áp đêm thâu

Rót thêm ly nữa quên sầu

Trời cao thăm thẳm, đỏ ngầu hơi men

Tiên sư đứa bon chen danh lợi!

Mả mẹ phường phản bội tình chung!

Chửi tràn vung vít lung tung

Rót thêm chén nữa để nung nấu hờn

Ly rượu tràn ướt trơn đất lạnh

Ngã vùi say, trong trận lốc tình

Ôm chân tượng đá đinh ninh

Vuốt ve những tưởng người mình dấu yêu

Trong cơn say, phiêu diêu ân ái

Mặc trần truồng phơi phới thịt da

Tình người cũng thể tình ta

Chim quyên hót cuối vườn xa tỉnh dần

Nhìn chung quanh, bâng khuâng kinh ngạc

Đêm qua say, thân xác mình đâu?

Mặt trời soi cảnh bể dâu

Mất còn có nghĩa gì đâu mà buồn!

(Khuya say, Hoàng Hương Trang 1971)

Uất hận, cay cú, vật vã, quằn quại vung tàn tán cũng chẳng cứu vãn được gì, lại đành tự an ủi mình:

Mặt trời soi cảnh bể dâu

Mất còn có nghĩa gì đâu mà buồn

Phỉnh phờ mình như vậy thôi chứ dễ gì… bởi nhân vật của Túy ca đã bao lần:

Khóc đi cho vỡ tiếng cười

Cười đi cho vỡ trăm lời lệ say!

A ha ha! Ngửa bàn tay

Đong đưa quờ quạng tìm dây tử thần…

Thì người đọc đã hình dung ra trạng thái tận cùng bi phẫn của cuộc tình oan khốc… biết nói gì, viết gì để chia xẻ với người thơ, với nhân vật trong thơ!

Tình là dây oan mà! Nhưng nhân sinh tự cổ có ai thoát khỏi sợi dây mềm như tơ dẻo như kẹo mạch nha ấy đâu! Từ một người trên ngôi cao chín bậc đã bao lần:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi…

Cho đến gã thi sĩ cùng đinh lang thang đi chở gió cũng ngất ngây điên loạn bởi cuộc trăm năm đứt đoạn nửa chừng…

Còn với phụ nữ ư! Chỉ cần một ánh nhìn, một cử chỉ chăm bẵm tế nhị của người đàn ông mà họ ngưỡng mộ yêu thương là họ đã tự xem mình như hoa có chủ và ôm lòng chờ đợi chuyện trầu cau trăm năm duyên phận đá vàng, để một đời thắt lưng buộc bụng lo tròn tứ đức tam tòng, quên mình vì giang san nhà chồng. Bao người con gái thế hệ chúng tôi suýt soát nhau 5 – 7 tuổi đều có chung ý niệm ấy. Hoàng Hương Trang cũng vậy; nhưng khi chạm đến thực tế phũ phàng, bà không cam chịu “im hơi lặng tiếng” nuốt nước mắt vào trong như bao người đàn bà khác:

Dã quỳ ngẩng mặt cười kiêu bạc

Len lén đêm về khóc chút duyên”

(Thơ Ninh Giang Thu Cúc)

Với bản năng ngang tàng trời phú, và bản lĩnh được trui luyện qua bao va chạm với cuộc tình đầy thiên tai trắc ẩn, oan khiên đã biến người con gái dịu dàng khuôn nếp, thành kẻ lãng tử cuồng ngông:

Nát đá phai vàng

Hoa tàn nguyệt khuyết

Trăng lu chìm vào mây biếc

Cỏ ôm mồ, gió quạt xanh thơm

A ha, quả trứng bát cơm

Nén nhang khói tỏa trong cơn say cười

A ha, thấy rõ mặt người

Từ phương nào lại tươi cười với ta?

A ha ha! A ha ha!

Người hay ta?

Ta hay ta?

Sao môi cười đó vỡ òa lệ rơi…

Đập tan chén rượu ê chề

Nổ tung men ứa lê thê chuỗi cười

Khói hương mộ xám bời bời

Vẽ trong tiềm thức tên người tên ta

Nhà hiền triết, nhà thơ Tago đã từng bảo: “Tình yêu là hành vi cao cả nhất của tâm hồn, là kiệt tác của con người”.

Macxim Gorki cũng từng viết: “Tình yêu là thơ ca của cuộc đời. Cuộc sống thiếu tình yêu không phải là sống mà chỉ là tồn tại”.

Đúng vậy! Cho nên nhân vật của Túy ca chỉ “tồn tại” mang niềm u uất tháng lụn ngày tàn:

Gác khuya đốt nến hai hàng

Gom bao kỷ niệm ẩn tàng trong tôi

Liệm sâu tận đáy quan tài

Chôn sâu ngày tháng, hình hài, tuổi tên

Cuộc tình đã trót lênh đênh

Tan theo bọt sóng, biết tìm nơi đâu..

(Túy ca 3)

Biết không tìm lại được vì chẳng ai tắm hai lần trên một dòng sông, nhưng quên thì không quên được. Yêu và hận, càng yêu càng hận, càng hận càng yêu. Nàng thơ của Túy ca cứ bị vây hãm trong trận đồ ma mị, càng vùng vẫy càng bị siết chặt như chiếc vòng Kim cô trên đầu Tôn Hành Giả Mỹ Hầu Vương… Khi trái ngọt ở vườn địa đàng không còn hấp lực với A Đam ta hãy đọc bài “Cuộc tình trái đắng” để chia nỗi đau cùng tác giả:

Kiếp sau xin chẳng làm người

Đớn đau dằng dặc, vui cười bao nhiêu?

Yêu người chẳng được người yêu

Lời chung thủy đó như diều bay cao

Chỉ còn một trái tim đau

Chỉ còn một kiếp u sầu xót xa

Chết đi xin làm hồn ma

Để đi trả mối thù ta yêu người

Để đòi món nợ một đời

Để đòi cho được một lời thề xưa

Ô hay, chợt tỉnh cơn mơ

Cuộc tình trái đắng ngẩn ngơ gọi thầm

(CTTĐ – Hoàng Hương Trang)

Với Túy ca, ta càng đọc càng đau – đau cho đời, đau cho tình. Trời ơi! Giữa cõi nhân gian dâu bể này thử hỏi có bao nhiêu cuộc tình duyên trọn vẹn, nên vợ nên chồng đến đầu bạc răng long, và có bao cuộc tình dở dang cay đắng, e rằng nếu đem đong đếm thì tỉ lệ chẳng cân bằng, tiếng khóc bao giờ cũng nhiều hơn nụ cười. Nỗi đau dài như nước mắt, chỉ phải tội vì tự tôn, tự ái, vì đủ thứ ràng buộc nên các cô các chị cứ cắn răng ngậm bồ hòn khen ngọt. Chỉ có nhân vật của Túy ca là anh dũng, là can đảm bộc bạch hết nỗi khổ niềm đau, sự bất hạnh của cuộc tình tan vỡ, mà sự mất mát thua thiệt bao giờ cũng về phần con gái đàn bà. Hậu quả của sự rạn vỡ là một vết thương không bao giờ kín miệng, một trầm kha thương tật,  một u nhọt ung thư đã vỡ mủ vô phương cứu chữa:

Thuốc nào chữa được bệnh sầu

Tim khô máu cạn nát nhàu tâm tư

Tay buồn mười ngón bỏ dư

Tóc ngôi rẽ lệch mắt mù đợi trông

Xác thân bỏ lạnh mùa đông

Phổi ung khói thuốc mịt mùng âm u

Nửa khuya cất tiếng thầm ru

Vỗ về giấc ngủ thiên thu mộng người

Từ anh làm lỡ tình tôi

Xa nhau để giết một đời yêu thương

Tuổi nào áo lụa môi hường

Tuổi nào hò hẹn cuối đường lá bay

Tuổi nào mộng ngút trời mây

Anh neo tình ái cho đầy biển yêu

Bây giờ con nước dâng triều

Biển âm vang động, bọt bèo cuối truông

Bây giờ vô vọng tình buồn

Chứng nan y đó ngọn nguồn bởi anh.

(Nan y – Hoàng Hương Trang)

Tình yêu đổ vỡ là ngọn nguồn của bao bi kịch – bao biến thái tâm tính của kiếp người. Người mình yêu vừa là thiên thần lại vừa là ác quỷ, tình yêu song phương thủy chung tương ứng sẽ là lực đẩy cho đôi bên viên thành sự nghiệp; và hôn nhân là ga cuối đưa nhau về cư ngụ bến yêu thương, hạnh phúc nồng nàn như nắng mật ong đầu hạ, vợ chồng nâng nhau sải cánh giữa trời rộng đất dài. Trân trọng nhau như lời xưa giáo huấn “Phu phụ tương kính như tân”.

Còn chẳng may duyên tình dang dở thề hẹn phôi pha cau trầu chưa bén “tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi” thì một trong hai đương sự sẽ là nạn nhân, sẽ là vạn cổ chi thù như cha ông ta từng quy kết… Túy ca là bằng chứng của sự vạn cổ chi thù đó vậy.

Túy ca” là một bản cáo trạng dành cho những ai quay lưng sấp mặt với khối tình chung thủy của nàng thơ.

Túy ca” là bản trường ca kết quặn, là lời truy điệu thống thiết, tiễn biệt một tình yêu sâu nặng nồng nàn của một người phụ nữ tài hoa phong vận gởi đến một người yêu đã xa cách nghìn trùng.

Túy ca” – Vâng, say hát – hát lúc say. Tôi nhớ Bạch Cư Dị cũng có một “Trường hận ca“. Phải chăng đấy là: Phong vận kỳ oan… của kiếp văn nhân nghệ sĩ.

Túy ca, 23 bài thơ máu lệ ra đời vào năm 1971, xuất bản 1972 do Nhà xuất bản Huyền Trân Sài Gòn ấn hành. 

Nhưng rồi cái gì cũng có luật bù trừ vì trời chẳng ngoảnh mặt với ai.

Sau bao giai đoạn lao lung khổ ải trong trường tình đoài đoạn. Trong thất vọng ê chề của cuộc hôn nhân không tình yêu bảo chứng mà chỉ có tính toán lợi dụng đê hèn bằng cuộc tình giả tưởng vợ chồng nhạt thếch gối chăn… Có ai ngờ ân sủng cuối đời lại đến với nàng thơ khi tóc xanh đã pha màu khói sương hư huyễn, tay run gối mỏi trên bước phiêu bồng ngựa nản chân bon, nàng đã gặp lại chàng sinh viên thời hoa mộng của tuổi dại khờ 17 băng trinh.

Cuộc tình e ấp đầu đời thiếu nữ ấy – tưởng đã trôi theo mây khói phù du mơ hồ của thời cắp sách, ai ngờ lại trùng lai sum họp ở tuổi xế chiều khi hai bên đã no đầy thương tật. Phải chăng đó là tặng phẩm của trời đã ban phát cho khách văn nhân!

Nhân vật Túy ca đã bơi lội thỏa thuê hoan lạc trong niềm hạnh phúc muộn màng và thảng thốt kêu lên:

Ai đem cơn gió tình cờ

Xô nghiêng thuyền cũ vào bờ bến xưa

(Biển – Hoàng Hương Trang)

CUNG CHIÊU ANH HỒN…

Có một cuộc hội ngộ – một Tao Đàn vô tiền khoáng hậu, một đêm thơ huyền ảo liêu trai – mà người điều khiển chương trình kiêm trưởng ban tổ chức, kiêm khổ chủ là lão bà bà Diệt Tuyệt sư thái Hoàng Thị Diệm Phương có biệt hiệu thời con gái là “Phương ba de” tức nữ họa sĩ, thi sĩ Hoàng Hương Trang còn có biệt danh là Hỏa Diệm Sơn từ cái tên Hoàng Diệm Phương.

Buổi họp này được tổ chức tại tư gia của nữ sĩ có địa chỉ 2/2A Tăng Bạt Hổ, TP HCM, vào đêm trừ tịch Nhâm Thân Quý Dậu (1993). Đêm nguyệt tận đất trời như một màng lụa đen bí ẩn. Khách mời toàn những khuôn mặt vĩnh cửu trên thi đàn dân tộc – họ về đây từ thượng giới bằng những chuyến xe bus cuối cùng và dò dẫm nương theo ánh lửa bập bùng của các nồi bánh chưng đang sôi sùng sục trên bếp ấm, của một góc sân nhà hai bên phố vắng. Họ vân tập về theo lời mời trân trọng của chủ nhân và đêm họp mặt có cái tên gọi rất thân mật, rất bình đẳng, rất ngông như phong cách vốn có của người phụ nữ làm thơ này “Uống rượu với người xưa”.

Trong vuông sân nhỏ nhưng ấm cúng với 33 vị thi tiên nhiều thế hệ (cả trong và ngoài vùng lãnh thổ VN) cùng chủ nhà đối ẩm hàn huyên, bậc thi hào đại lão là tác giả của Bình ngô đại cáovà nữ học sĩ, người dạy lễ nghi trực tiếp cho vua Lê Thái Tôn đang ngậm ngùi nhắc lại nỗi oan vườn vải đầy máu lệ… (!)

Tố Như tiên sinh đang thắc mắc hỏi Hoàng Hương Trang: Này túc hạ, liệu sau này có ai cảm thông niềm đau đứt ruột của ta chăng?

Và một nữ sĩ ngang tàng không thua gì chủ nhân về bút pháp đã phá và cả cảnh ngộ riêng tư của duyên tình… bà cụ miệng nhai trầu môi cắn chỉ rất duyên, ghé tai hỏi nàng thơ: Em có mời Chiêu Hổ?

Từ mảnh đất láng giềng phương Bắc hai đại biểu Tống – Đường; văn học đỉnh cao của nhân loại đang xì xồ kể lại giai thoại sửa thơ Vương An Thạch, vì còn lại mới đi có một thôi đường mà đã nghẹn ngào lẩm bẩm: Đê đầu tư cố hương

Cô công chúa bé bỏng bỗng thành quả phụ khi vừa tuổi đôi mươi đang sụt sịt bao lời Ai Tư Vãn. Cứ thế và cứ thế năm câu ba chuyện cho đến 2 vị khách cuối cùng là một tú tài. 

Một tuồng rách rưới con như bố

Ba chữ ê a vợ chán chồng

Cho đến anh chàng nửa Tàu nửa Việt si tình đợi người yêu mà điếu thuốc cứ cháy lụi dần trên hai đầu ngón tay gầy guộc.

Trống điểm canh, phút giao thoa đất trời sông núi tống cựu nghinh tân – cũng là lúc chủ khách nói lời chia biệt ngân nga:

Chúc cho muôn kẻ ở trên đời

Vua quan sĩ thứ người trong nước

Sao được cho ra cái giống người

(TX)

Thú thật là đọc xong 276 câu ngũ ngôn ở bài “Uống rượu với người xưa”tôi phục lăn chiên cái sự tinh nghịch, dí dỏm, và thông tuệ của tác giả quá chừng.

Và thật có lý khi còn là sinh viên sư phạm mĩ thuật Sài Gòn năm 1962, giáo sư Đinh đã tặng bà hai vế đối.

“Căn thâm, đế cố, tinh thần Việt

Nguyên viễn, trường lưu, khí tượng tân”

HOÀNG HƯƠNG TRANG VỚI CÂY CỌ VÀ NÉT VẼ

Hội họa là một ký hiệu thẩm mỹ không bằng ngôn ngữ văn tự, người ta không thể cảm nhận cái hay, cái đẹp như qua giọng ngâm thơ mượt như nhung của Hồ Điệp hay tiếng hát cao vút trong veo của Thái Thanh…

Hiểu và cảm hội họa là bằng ý, tài hoa của người họa sĩ thể hiện ở chỗ pha trộn màu sắc và trải từng nét cọ lên “toan” để ký thác những ý, những tình mục đích tối cao là phục vụ cái đẹp của cảnh sắc, của đất trời cỏ cây hoa lá. Có nhiều trường phái cho mỗi họa sĩ chọn để thể hiện sự tài hoa, thông tuệ và thiên hướng mà họ muốn biểu cảm.

Tựu trung người họa sĩ tự kim cổ đông tây đều mang trọng trách là tạo dựng cái đẹp để dâng tặng cuộc đời, tùy theo sự cảm thụ của người thưởng ngoạn mà tuổi tên của tác phẩm và tác giả trường thọ hay yểu mệnh.

Với bộ môn nghệ thuật thứ tư này tôi là kẻ ngoại đạo, thành ra với bao tên tuổi danh họa tôi chỉ nhớ lỏm bỏm được mấy người như Bùi Xuân Phái (Phố Phái), Tề Bạch Thạch và Leonard de Vinci với họa phẩm người phụ nữ có đường nét mềm như lụa cùng nụ cười thiên cổ sầu vương… Bức họa chân dung ấy đã bất tử trong giới yêu hội họa của cả hành tinh này.

Nữ sĩ Hoàng Hương Trang là một người phụ nữ mê hội họa, yêu hội họa, say hội họa cũng bằng với say tình, nhưng rất may cuộc tình này chưa một lần phản bội bà qua bao năm tháng, kể từ ngày hai bên mới ngỏ lời yêu mà chứng nhân là trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế từ năm 1957; rồi trường Sư phạm Mỹ thuật Sài Gòn. 1961 được đi nghiên cứu Mỹ thuật Á Châu tại Tokyo Nhật Bản năm 1963 và bà là giáo sư của Đại học mỹ thuật Sài Gòn từ 1972 đến 1978 cũng như đã từng dạy môn này cho các trường trung học. Tranh của bà được chọn treo ở Viện bảo tàng Tòa thánh Vatican và ở bộ sưu tập gia đình họ Kosco Illinoise . Tình yêu hội họa của bà đã được đền bù xứng đáng. Công bằng mà nói lên cảm nhận thô thiển của người thưởng thức (NGTC) là tranh của bà phần nữ tính hơi nghèo, hay đó cũng là nét biểu trưng cho đức tính, cho nghị lực của người phụ nữ này vậy?

HOÀNG HƯƠNG TRANG VÀ ÂM NHẠC

Cầm kỳ thi tửu họa đều có tố chất mạnh trong người đàn bà này trời ạ! Ngâm thơ cũng tốt, ca trù cũng hay, Nam ai, Nam bình đều thành thạo, về tân nhạc bà đã tự phổ nhạc thơ của mình. Đây là một người đàn bà dài tay trong nhiều bộ môn nghệ thuật.

Ca trù và hát quan họ là hai làn điệu của đồng bằng Bắc bộ bà cũng am tường và chơi cũng tốt không thua chi các liền anh liền chị.

Còn với rượu thì hình như là người bạn thân thiết của người phụ nữ đủ nam tính này.

VĂN XUÔI CỦA HOÀNG HƯƠNG TRANG

Tôi đã đọc một số truyện dài, truyện ngắn và tạp bút cũng như những bài phê bình lý luận của nữ sĩ Hoàng Hương Trang.

Trước tiên tôi xin bàn về mảng truyện ngắn dành cho thiếu nhi của bà. Vì đó là vùng đất màu mỡ cho bà gieo trồng các mầm cây nhân ái, cũng như ý niệm giáo dục được ký thác nhẹ nhàng. Ở đó ta tìm được thiên tính làm mẹ và lòng nhân hậu của người đàn bà đa tài và không ít đa đoan, cương trực đến cực đoan, lạnh lùng đến tàn nhẫn. Với những sự, những tình mà bà cho là không đúng, và bà không thỏa hiệp…

Ở mảng truyện ngắn dành cho thiếu nhi bà thu bao móng vuốt sắc bén của cây bút phê bình gai góc, gác kiếm cất đao, Diệt Tuyệt sư thái hiện nguyên hình là một phụ nữ nhân hậu qua “Chú bé bắt gián”, “Ăn cơm mã”, “Con sáo mỏ vàng”và tính ngụ ngôn thật dí dỏm trong các truyện “Quả trứng đại bàng và cây cao muôn trượng”, “Chị gấu lười”…

Về mảng truyện ngắn phổ thông mà tôi được đọc như truyện “Bến tâm hồn”, “Quả phụ trinh tiết”, “Tiếng trống da trâu“… mà mỗi truyện là một sự đổi thay về thủ pháp, về xây dựng nhân vật.

“Bến tâm hồn”là truyện đầu tay – chưa già dặn về bút pháp nhưng với cái kết thúc có hậu, khiến người đọc có suy nghĩ, là không gian nghệ thuật, và tâm hồn tác giả trong thời điểm ấy còn nhu thuận, đầy nữ tính, so với khi viết Túy ca(10 nhà văn nữ Sài Gòn 1965).

Ở “Quả phụ trinh tiết”tính phê phán những hủ tục lạc hậu xa xưa của dân Trung Hoa khiến bao người con gái phải hy sinh một đời xuân sắc, làm vật hiến tế cho cái gọi là “xung hỷ” của một bọn trưởng giả học làm sang.

Viết “Quả phụ trinh tiết”có lẽ tác giả bị ảnh hưởng từ tác phẩm “Kinh hoa yên vân” của Lâm Ngữ Đường mà bản Việt ngữ do nghĩa phụ của mình là kịch tác gia Vi Huyền Đắc dịch thuật với tên gọi “Khói lửa kinh thành”.

Tiếng trống da trâu” là tiếng thở dài sâu thẳm, là nỗi đau di họa của thời hậu chiến, là sự đợi chờ thống khổ cam chịu của bao người yêu chờ đợi người yêu từ trận mạc trở về hậu phương. Khi chiến tranh chấm dứt, để rồi những sinh linh bất thành nhân dạng được kết tinh trong niềm đau tột đỉnh của bậc sinh thành…

Truyện ngắn được giải thưởng của đặc san “Vô ưu” năm 2008 vẫn theo cái mô típ của nhiều tác giả khác nhưng “Người mẹ tật nguyền” vẫn gây xúc động cho người đọc với sự hy sinh thầm lặng của nhân vật Mẹ trong tác phẩm.

HẠNH PHÚC CỦA MỘT NGƯỜI LÀ “CÓ MỘT NƠI ĐỂ NHỚ VỀ”

“Lưu đắc tàn hà thính vũ thanh”

(Tào Tuyết Cần)

Mưa như mưa Huế buồn da diết

Tình cũng mốc meo nhớ mặt trời

Ai nhớ ai qua vườn lá biếc

Đứng lặng tần ngần hứng mưa rơi

(MNMH – Hoàng Hương Trang)

Mưa là thế, gió là thế, bão lũ thiên tai dịch họa là thế – mà đố người Huế tha phương nào quên nổi Huế. Quê hương càng khắc nghiệt với nắng lửa mưa dầu – thì những người con dân của xứ sở này vì ngàn lý do phải sống xa quê càng thắt lòng nhớ Huế – một nỗi nhớ dai dẳng khôn nguôi. Nhà thơ Hoàng Hương Trang cũng vậy, bà đã gom góp niềm nhớ thương thành chuỗi qua thi phẩm “Một nơi để nhớ về”:

Một chút Huế trong tận cùng nỗi nhớ

Đi mô xa cũng canh cánh bên lòng

Một chút thương từng khoảnh khắc bâng khuâng

Giọt đàn khuya tiếng dương cầm ấm áp

Có một nơi vương ngàn cơn bão táp

Thổi qua đời rũ rạp tóc xanh tơ

Có một nơi vừa tập tễnh làm thơ

Vần điệu đầu tiên, nỗi đau thứ nhất

Có một nơi tình đầu đánh mất

Khắp địa cầu không tìm lại dấu xưa

(Một nơi để nhớ về – Hoàng Hương Trang)

Đọc đoạn thơ trên ai mà chẳng thấy mình ở trong đó. Một hoài niệm tuổi hoa niên sao mà dễ thương đến lạ

Năm xưa lên núi Ngự

Buộc một chùm tóc xanh

Hẹn mai sau về lại

Sẽ tìm trên lá cành…

(ĐTSTTN)

Nhưng bao biến động của tháng năm của thời tiết, của gió bão đất trời, khi tác giả về lại cảnh cũ:

… Chiến tranh đã mấy mùa

Gốc thông già gục ngã

Thông xanh giờ thay lá

Tìm đâu nữa tóc xưa.

(ĐTSTTN)

Chỉ có người thơ mới lãng mạn là đi làm cái chuyện không ai làm như vậy. Tìm một nhúm tóc của thời hoang dại không ra thì đi tìm Dáng Huế

Dáng Huế xưa mơ màng

Lung linh tà áo tím

Dáng Huế tà áo tím

Dáng Huế xưa dịu dàng 

Tiếng ai hò ngọt lịm 

Dáng Huế còn trong tim

Áo lụa mềm sóng sánh

Dáng Huế nghiêng vành nón

Ánh mắt thuyền hồ thu…

Tôi đọc đi đọc lại toàn tập như một tên khổ sai lao động đãi cát tìm vàng – tám mươi bài thơ trong “Một nơi để nhớ về” thì bài “Đêm sông Hương” là bài mà với cảm nhận của riêng tôi đó là bài thơ hay nhất với không gian thực tế, và không gian nghệ thuật, bàng bạc chút thi vị của Tống Đường, chút phiêu dật sầu thương của Bạch Cư Dị. Người đọc thật sự tâm đắc với ba khổ thơ và cứ đọc đi đọc lại mãi :

Đã chết nửa hồn đêm sông Hương

Bài thơ trường đoạn nhạc mê cuồng

Bởi trăng viễn mộng mây tiền kiếp

Sóng vỗ chương đài khói Tiêu Tương.

Để lại nửa hồn với sông Hương

Với nghìn cung bậc ý vô thường

Phiêu du tiền sử vương thanh khí

Huyền hoặc sương chìm sóng viễn phương

Mang nặng nửa đời nhớ sông Hương

Mênh mang lưu thủy dặm hồ trường

Liêu trai nửa giấc tỳ bà vọng

Âm hưởng cung trầm gợi vấn vương

(ĐSH)

Cái thuộc tính chung của dân Huế – dù có đi khắp sông hồ, khắp bốn bể năm châu thì vẫn không thể nào quên được Huế, vẫn xôn xao trong những buổi quay về, vẫn hồi hộp reo vui khi tàu, xe qua khỏi Hải Vân quan.

Loay hoay mãi với tập “Một nơi để nhớ về” mắt tôi dừng lại ở bài “Neo bến Huế” xin mượn bài thơ này để đóng lại bài cảm nhận, đồng thời bày tỏ chút tâm tình, chút cảm thông cùng tác giả qua sự thủy chung với đất Mẹ.

Trái tim tôi

Một đời neo bến Huế

Cột chặt thuyền

Trên sóng nước Hương Giang

Lỡ đi xa

Lỡ chưa về

Vẫn Huế…

TÔI ĐỌC “RỒI CŨNG NGÀN THU” CỦA HOÀNG HƯƠNG TRANG

Có nhận xét rằng: “Rồi cũng ngàn thu” của tác giả như một lời chào tống biệt, có người kỹ tính lại bảo, sao Hoàng Hương Trang nói “gở” thế…

Nhưng theo thiển nghĩ của Ninh Giang Thu Cúc – với tuổi đời đã đến tuần thất thập thì sự “đi” hay “ở” là chuyện không có gì đáng kiêng cữ, một nhà thơ của nền thơ ca Trung Hoa đã từng ngạc nhiên khi thấy sao tuổi đời của con người lại dài đến thế ông đã thốt lên:

Nhân sinh thất thập cổ lai hy…

(Đỗ Phủ)

Vậy thì ở tuổi bảy hai (1937 – 2009) nhà thơ Hoàng Hương Trang cố thu xếp hành lý để ra đi – âu đó là điều thuận lẽ tự nhiên, thuộc tính của phụ nữ chúng ta là thế – lo xa và chuẩn bị mọi sự chu đáo. “Rồi cũng ngàn thu” chỉ là sự chuẩn bị, ngày xưa ở quê hương chúng ta các cụ chuẩn bị “sinh phần” và “áo quan” mà đến mấy chục năm sau mới giã từ cõi thế…

Nhưng bằng hữu cũng chạnh buồn khi đọc cặp đề từ ở đầu thi phẩm:

“Một mai về chốn xa xăm ấy

Rồi cũng ngàn thu nấm mộ buồn”

Nhưng sao tác giả lại đóng ngoặc kép nhỉ?

Xuyên suốt 78 bài thơ ở phần một, đó là những tâm sự vui buồn, những được mất đoạn trường… mà người thơ dù muốn dù không đã phải mang vác suốt lộ trình thăm thẳm của nghiệp dĩ văn chương.

Ninh Giang Thu Cúc thường nửa đùa nửa thật với bằng hữu và đồng nghiệp: những người phụ nữ làm văn chương là những kẻ mang nghiệp chướng trời đày – nhưng may thay đó là sự đọa đày đầy hạnh phúc (tất nhiên đó phải là thứ hạnh phúc thật sự do anh hoa phát tiết, do lao động nghiêm túc của tự thân để có những tác phẩm bằng tất cả tâm huyết, phụng sự đời, phụng sự cái đẹp).

Công chúng yêu thơ ai cũng biết thơ – một loại hình nghệ thuật ít được sự đồng nhất trong cảm thụ – tùy trình độ thẩm thức để có thể thẩm định cho mỗi bài thơ, mỗi tác giả.

Nhưng không một độc giả nào khi đọc thơ lại “cắt nghĩa một mùi hương”.

Trở lại với “Rồi cũng ngàn thu” ở đó ta bắt gặp những hỉ, nộ, ái, ố, những khát vọng u uẩn, u uất của nhân vật trong thơ mà bài “Tình liêu trai” là một dẫn chứng cụ thể:

Đêm say mưa gió lạc nẻo về

Ngủ trọ bên lề nấm mộ khuya

Bỗng vén rèm thêu em hiện đến

Mặt hoa da phấn tóc đầm đìa 

Đôi tay như rắn choàng thân thể

Ghì chặt ta sờ sẫm quanh mình

Đôi chân như ngựa chiến rập rình

Giam giữ ta giữa gò đồi điên đảo 

Vòng ngực nhấp nhô, đôi môi mã não

Mắt âm u, cười giông bão bất ngờ

Ân ái liên hồi, tơ tóc phất phơ

Thân ngà ngọc tuổi đời chừng đôi tám 

Ta cuồng loạn ngất ngư quên cõi tạm

Hiến cho nhau ngàn cơn mộng tràn trề

Thân kề thân, tứ chi ngập si tê

Môi vồ vập tìm hôn môi ấm lạnh…

(Trích Tình liêu trai)

Đọc bài “Tình liêu trai” người ta không nghĩ đó là thơ của phụ nữ. Bởi một phụ nữ nhất là phụ nữ Huế… Nhà thơ HHC có mấy câu thơ, mà tôi không nhớ kỹ nên không dám dẫn mà chỉ biết đại ý HHC bảo là con gái Huế yêu thì yêu ghê gớm mà chẳng bao giờ hé môi, hình như có một câu ông ấy viết là “Tình ở đằng sau những chấn song…” Chấn song đây phải chăng là chấn song của lễ giáo, của đức hạnh mà người con gái đàn bà phải nép mình sau đó, nói như nhà văn nữ Nguyễn Thị Thụy Vũ đó là “khung rêu” đã bao thế hệ phụ nữ Á Đông đã tự nguyện vì gia phong, hoặc vì cái thế bắt buộc phải sống trong khung rêu ấy. Sau khi tôi lẩn thẩn tự hỏi, có thật họ hạnh phúc trong sự tự nguyện nép mình trong khung rêu ấy hay cũng muốn bức thoát mà không dám vì nhiều lẽ, vì muốn chứng tỏ mình con nhà nề nếp, cẩn ngôn cẩn hạnh… Duy chỉ có Hoàng Hương Trang dám bức phá mọi rào cản để nói nên tiếng lòng thầm kín, khát vọng yêu và được yêu đam mê rực lửa của nhục thể tự nhiên. Bà chẳng thèm quan tâm gì đến điều mà người ta bảo là đức hạnh nết na, bà sổ toẹt mọi giáo điều dành cho phụ nữ của nền giáo dục Khổng Mạnh – đã giam giữ bao cuộc tình câm từ chớm yêu cho đến hết cuộc đời để được nhận tấm bảng vàng TIẾT HẠNH KHẢ PHONG (!?)

Nhân vật của “Rồi cũng ngàn thu” là một tay lưu linh có hạn, lúc nào ta cũng thấy bà say, say sướt mướt một đời, say cho nỗi mình ngang trái cho nỗi đời đa đoan.

Tài hoa hệ lụy sa mù

Chén vui, hề! Chén buồn xưa hiện về

Ơi Hoàng, nửa chén si mê

Ơi Hoàng nửa chén vụng về trao tay

Rượu đây, hề! Ta cứ say…

(Trích CSNH)

Say một mình, uống một mình, vui một mình, buồn một mình, sự cô độc miên viễn ấy đã khiến người thơ chao đảo trong niềm hiu quạnh của cuộc tình gãy gánh.

Buồn như ly rượu phản

Ai bội ước tình xưa

Buồn như ly rượu mưa

Nhạt nhòa đêm giông bão

Buồn như ly rượu hão

Tan biến mộng hững hờ

Buồn như ly rượu lạnh

Trên bia mộ hoang vu

Nâng chén – hề! Ảo hư

Bia đá – hề! Đối ẩm

Đọc và chia sẻ cùng nhân vật “Rồi cũng ngàn thu” bao nghiệt ngã chao chát của cuộc đời – phong vận kỳ oan… 

Đôi khi nàng thơ cố vẫy vùng giữa biển đời bão táp – tìm về một cõi miền êm ả để làm ốc đảo trú thân, nhưng nào có được đâu bởi nỗi lòng có yên đâu – cho dù về bến tịnh.

“Chiều mưa bến tịnh lao xao!”

(BT)

Mâu thuẫn chưa, nghịch lý chưa – cứ cái kiểu thiền không định, tịnh không yên ấy nàng thơ dù có đến tận Tây Trúc của đức Phật thì lòng vẫn ngổn ngang ở miền phố thị, lãng đãng theo chân “Cô gái bán trầu cau”

… Khách mua đã đi rồi

Cô gái buồn xa vắng

Trầu cau bán cho người

Riêng tình mình vắng lặng

(CGBTC)

May thay! Đến lúc tính sổ đời tác giả “Rồi cũng ngàn thu” vẫn thấy mình hạnh phúc, tất nhiên là niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh song hành không rời nửa bước với người thơ, nhưng chấp nhận thôi, bởi nghiệp chướng đã vương vào chối bỏ sao được.

Tác giả Hoàng Hương Trang đã tìm cho mình một cứu cánh để vin vào đó mà tìm cho bản thân sự bình yên cuối đời, cứu cánh đó là chiếc nôi êm từ thuở lọt lòng được bàn tay mẹ ru à ơi dỗ dành, chiếc nôi sự nghiệp cho bà bơi lội trong thăng trầm vạn nẻo giữa quần sinh

Nằm nôi là chiếc phao, là cứu cánh, là lời cảm tạ Hoàng Hương Trang gởi lại đời:

Nằm nôi

Nôi thơ

Nôi mẹ

Nôi đời

Ta còn nằm mãi không rời cách xa

Bây giờ bảy chục năm qua

Vẫn còn nghe tiếng ru ta à ời

Nôi Mẹ ru thuở đầu đời

Nôi thơ ru đến suốt đời yêu thơ

Nôi đời ru ta mộng mơ

Cảm ơn nôi mẹ nôi thơ nôi đời.

(Hoàng Hương Trang)

PHẦN THƠ TIÊU BIỂU CỦA HOÀNG HƯƠNG TRANG

TRẦM CA 4

Gác khuya đốt nến hai hàng

gom bao kỷ niệm ẩn tàng trong tôi

liệm sâu tận đáy quan tài

chôn sâu ngày tháng, hình hài, tuổi tên

cuộc tình đã trót lênh đênh

tan theo bọt sóng, biết tìm nơi đâu

giờ tôi gác trọ đêm thâu

đốt hương thắp nến đào sâu huyệt tình

hương tàn, nến lụn lung linh

còn lưa bia đá, tên mình trăm năm

xin trao người chốn xa xăm

để làm kỷ niệm một lần yêu tôi

ừ, xa nhau, ừ quên rồi

mộ bia mai mốt lên ngời cỏ xanh.

Cuối đông 1971

BIỂN MẸ

Và rêu xanh muôn đời mang sắc biển

và sóng cồn mãi mãi níu chân tàu

và nghìn đời lưu luyến buổi xa nhau

tay tôi vẫn vẫy hoài từng khơi rộng

biển luân lưu trọn đời thăm thẳm

bởi trọn đời hải đảo vướng chân mây

bởi từng đêm thảo mộc võ gầy

nên những chuyến hải hành đầy xa lạ

và những bình minh nhớ nhung màu lá

biển xuôi dòng hay tôi đã xuôi dòng

tưởng trọn đời biển chẳng nhớ mong

nên phù sa chìm vào quên lãng

nên sông dài buồn theo năm tháng

con nước đi không về lại bao giờ

để khói tàu biển rộng bơ vơ

rừng núi ngó về khơi mỏi mắt

bỗng một sớm mây ngàn đổi sắc

mây ngàn in bóng nước trùng khơi

núi cao xanh nhung nhớ trọn đời

thả chiếc lá xuôi về biển cả

ôi, loài rêu võ vàng trên đá

mấy mươi đời mòn mỏi làm sông

đỏ triền miên bóng dáng sông Hồng

ru giấc ngủ nghìn đời lịch sử

dòng sông Hương xanh màu lữ thứ

những người đi kẻ ở thương nhau

Huyền Trân ơi còn lại gì đâu

vàng son cũ phai mờ cùng năm tháng

rồi Cửu Long, Cửu Long ca hùng tráng

lời ca vui sông Hậu gọi sông Tiền

phù sa về đất mẹ hát triền miên

con khôn lớn thơm ngon mùi gạo mới

ôi, những trường giang

những trường giang vời vợi

mang tiếng hò giọng hát quê hương

ra biển rộng đón thuyền về bến

biển làm thơ sóng cả gọi muôn lời

sóng ru chiều như mẹ hát à ơi

mẹ của biển và biển là lòng mẹ

và biển rộng muôn nghìn thế hệ

suốt một đời tôi vẫn làm thơ

và suốt đời tôi chỉ bơ vơ

nhưng chợt ngó về khơi lòng dịu ấm

bước chân đi dặm nghìn xa thẳm

nhớ nhung về biển mẹ, biển tình nhân

lời sóng ru, lòng ấm lại bao lần

lời sóng mẹ, sóng tình yêu tuổi dại

mắt mẹ hiền, đá rêu nâu chờ đợi

như mắt người yêu, buổi hẹn hò

tay sóng biếc, sóng mẹ ôm bờ cỏ

như tóc buồn nuôi dưỡng mấy mươi năm

như lời yêu biển mẹ thì thầm

lời biển mẹ, biển tình yêu tha thiết

lời biển mẹ, biển tình yêu muôn kiếp

dẫu con tàu xuôi ngược mấy trùng khơi

và người yêu xa vắng đến muôn đời

tôi vẫn chỉ yêu tình yêu biển mẹ.

CHIỀU SAY NHỚ HOÀNG

(Tặng thi sĩ Vũ Hoàng Chương nhân ngày giỗ thứ 30

14 tháng 8 âm lịch (1976 – 2006))

“Biết đâu Hoàng lại gặp Hoàng chiều nay!” (*)

Mới vừa dăm chén đã say

Trong men chếnh choáng nhớ ngày năm xưa

Bút gươm chém lệch đường thơ

Mực đau giấy ảo, kịch hờ thương Mây

Trả gươm cho gió nghiêng vai

Trả thơ cho mộng, trả ngày cho đêm

Kiều Thu, hề! dẫm gót sen

Mười hai tháng sáu trả men cho tình

Trời một phương, đất một mình

Cảm thông nhân thế cái tình phù du

Tài hoa hệ lụy sa mù

Chén vui, hề! Chén buồn xưa hiện về

Ơi Hoàng, nửa chén si mê

Ơi Hoàng, nửa chén vụng về trao tay

Rượu đây, hề! ta cứ say

“Biết đâu Hoàng lại chiều nay gặp Hoàng!

Chiều mưa Sài Gòn 10/10/2006

(*) Thơ Vũ Hoàng Chương tặng Hoàng Hương Trang, cảm đề Túy Ca – 1972

PHẦN VĂN XUÔI TIÊU BIỂU CỦA HOÀNG HƯƠNG TRANG

ĂN CƠM MẢ

(Truyện ngắn)

Ai cũng nghĩ rằng hai anh em thằng Hạnh thằng Phúc khó mà sống được, vì cha mẹ nó bị trận lũ lụt quá lớn xô tuột xuống dòng sông ầm ầm cuồn cuộn chảy xiết. Hai đứa còn nhỏ quá, thằng Hạnh mới bảy tuổi, thằng Phúc chỉ năm tuổi, nhà cửa cũng bị nước lũ hung hãn cuốn phăng cả rồi. Chừng ấy tuổi, không cha không mẹ, không nhà không cửa, làm sao mà sống được?

Ấy thế mà trời sinh trời dưỡng, chúng vẫn mạnh khỏe lớn khôn. Ai cũng bảo: cha mẹ chúng phù hộ cho chúng đấy!

Ngay khi vừa hết lũ, làng xóm đi tìm kiếm những người bị nạn. Cha mẹ của Hạnh, Phúc vướng trong một bụi cây gai, chết rồi mà còn cầm chặt tay nhau. Làng xóm đứng ra lo chôn cất. Bữa đưa hai người lên núi, chôn cất xong, mọi người về hết, hai anh em vẫn ở lại, ngồi cạnh hai cái mả đất đắp vội thấp tè. Trên mả, còn nắm nhang cháy dở, và mỗi mả còn một nắm cơm có một quả trứng nằm gọn bên trên.

Hai anh em không còn nước mắt để mà khóc nữa, chỉ ôm nhau ngồi dựa vào hai cá mả mới. Đồi núi đã vắng người, nắng hiu hắt, hai đứa thấy đói bụng và bấy giờ mới chợt nhận ra từ nay không còn cha mẹ lo cho những bữa ăn đạm bạc hằng ngày nữa. Thằng Phúc khóc rấm rứt kêu đói. Thằng Hạnh nhìn lên cái mả rồi bảo:

– Em ăn nắm cơm cúng cha mẹ đi cho đỡ đói.

Thằng em nín khóc, với tay cầm nắm cơm và quả trứng luộc đã bóc vỏ đặt trên tấm lá chuối. Nắm cơm đã khô lớp vỏ ngoài. Thằng Hạnh bảo em:

– Ăn nắm này trước, còn nắm kia để cha mẹ ăn, khi nào đói nữa mới ăn nghe em!

Phúc gật đầu, nắm cơm được bẻ đôi, quả trứng cũng được bẻ đôi mỗi đứa một nửa, chúng nhai ngon lành. Đã thấy ấm bụng hẳn, ăn xong Hạnh bảo em ngồi chờ nó đi xuống suối gần đó múc nước về uống. Phúc gật đầu, nhưng ngó quanh rồi sợ sệt bảo anh:

– Anh đi cho mau, em ngồi đây sợ ma lắm.

Thằng anh làm ra vẻ lớn khôn bảo em:

– Ma nào? Đây là mả của cha mẹ mình, không phải là ma đâu, đừng sợ, cứ ngồi đây anh đi múc nước uống.

Nói rồi nó chạy lẹ xuống suối gần đó, rửa tay chân mặt mũi xong, bẻ một tàu lá chuối uốn cong như cái gàu, múc nước về cho thằng Phúc vừa uống vừa rửa cái mặt lấm lem. Hai anh em đã no nê, mặt mũi đã sạch sẽ, thằng anh lại bảo em ngồi chờ nó đi bẻ lá chuối khô về lót ngồi cho sạch, hai đứa ôm lá trải thành một cái ổ giữa hai ngôi mộ, rồi ôm nhau nằm ngủ.

Lúc chúng thức dậy trời đã chập choạng tối, chúng lại cảm thấy cái đói cồn cào. Thằng anh nhớ ra còn một nắm cơm và quả trứng trên mộ. Nó không phân biệt được mộ nào của cha, mộ nào của mẹ, vì những người lớn trưa nay chôn cha mẹ chúng xong đâu có nói gì cho chúng biết. Hạnh lấy nắm cơm và quả trứng bẻ ra chia cho em ăn, rồi dắt em xuống suối uống một bụng nước. Xong, hai đứa lại dắt nhau về nằm lăn xuống đống lá khô.

Trời dần tối hẳn, sao mọc nhấp nháy trên cao, mảnh trăng non treo lơ lửng được những đám mây đẩy đi như một chiếc thuyền trôi bập bềnh giữa dòng sông mênh mông. Cả khu núi đồi nhấp nhô mồ mả, tiếng tắc kè kêu vang từng chặp, có con chồn hôi chạy thoắt qua làm chúng sợ run lên, ôm chặt lấy nhau. Giun dế kêu ồn ào, cả tiếng chim đêm kêu quạt quạt, hai anh em bỗng thấy sợ ma. Phúc mếu máo rồi òa khóc. Thằng anh lúc đầu làm dạn dỗ em nhưng không át được nỗi sợ nên lại khóc to hơn cả em nó. Núi đồi vắng lặng, tiếng khóc của anh em nó càng vang xa.

Bỗng có người cầm đuốc đi lại, chúng sợ đến chết điếng, tưởng chừng ma quỷ cầm đuốc đến thiêu chúng, như trong những chuyện cổ tích mà trước đây ba chúng thường kể cho chúng nghe. Hai anh em ôm chặt nhau khóc rống lên:

– Ba ơi! Mẹ ơi! Cứu con với!

Một người đàn ông đến gần lên tiếng:

– Hai đứa nhà cửa đâu mà ngồi giữa gò mả đêm hôm thế này?

Ông ta soi đuốc nhìn tận mặt. Chúng hé mắt nhìn, nhận ra là người lớn nào đó chứ không phải ma liền nín khóc. Thằng Hạnh run run đáp:

– Đây là mả cha mẹ con mới chôn hồi trưa nay. Tụi con không còn nhà cửa mà cũng không ai nuôi tụi con nữa, tụi con ở đây với cha mẹ con thôi bác ơi.

Người đàn ông trạc bốn mươi, khỏe mạnh, da sạm đen, đặt bó đuốc dựng bên cạnh mả ái ngại hỏi chúng:

– Rồi từ trưa tới giờ tụi con ăn gì? Chắc là đói lắm rồi phải không?

Thằng Phúc mếu máo:

– Tụi con ăn cơm với trứng luộc cúng trên mả, rồi uống nước dưới suối.

Người đàn ông chắt lưỡi:

– Chà, tội nghiệp quá, phải ăn cơm mả hả? Thôi cũng được, miễn sao no bụng thì thôi. Giờ nghe bác nói đây, hai đứa còn nhỏ quá ở đây khuya lạnh lắm, bịnh đó. Để bác dắt tới cái miếu hoang đằng kia, trải lá khô cho dày nằm ngủ kín gió hơn. Bác có mấy trái bắp nướng đây, tụi con ăn cho no rồi ở đó, đừng sợ gì hết, mai bác tới bác cho ăn nghe không? Tên bác là Trùm Tư, là vì bác làm trùm giữ mộ cả khu này. Nhà bác trong xóm đằng kia kìa, chỗ bụi tre là ngà đó, có gì thì kêu to lên là bác nghe liền, biết không?

Hai đứa dạ liên hồi, riu ríu đi theo ông Trùm Tư. Đến một đoạn xa thì có một ngôi miếu hoang xây gạch cũ kỹ, mái ngói âm dương. Miếu kín gió, bên trong chỉ có cái bệ thờ đã vỡ nát. Cái miếu vuông vức mỗi bề độ hơn một mét. Ông Trùm Tư ôm một đống lá khô trải dày trước bệ thờ, lục tìm hộp diêm trong túi, kéo cái đèn dầu trên bệ châm lửa, vặn nhỏ xuống, để vào một góc, bảo hai anh em:

– Tụi con cứ ngủ ở đây, yên tâm nghe không, bác để đèn trên bệ đây, gần sáng thì thổi tắt kẻo tốn dầu, mai sáng bác đem đồ ăn cho. Thôi ngủ đi, bác về.

Ông Trùm cầm đuốc đi vào xóm nhà xa xa còn ánh đèn dầu le lói. Hai anh em cảm thấy yên tâm, biết là xung quanh có nhà cửa xóm làng chứ không phải hoang vắng, lại có bác Trùm tốt bụng giúp đỡ. Hai đứa ngồi gặm hết hai trái bắp nướng thơm bùi, đã vững bụng, lại có ngọn đèn dầu làm chúng không lo sợ nữa. Hai anh em ôm nhau nằm xuống đống lá khô dày thật ấm áp. Chốc lát chúng đã ngủ say vùi.

***

Kể từ ngày ấy, hai anh em thằng Hạnh thằng Phúc đã quen thuộc với vùng đồi núi này, một vùng khá rộng lớn, chập chùng những ngọn đồi cao thấp gác chân lên nhau, những trái núi nhấp nhô bá vai nhau, con suối trong veo trải dài vô tận, rì rào ngày đêm. Mồ mả thì cơ man, ngày nào cũng có đám tang, cúng bái, đốt vàng mã, xây đắp mộ mới, sửa sang mộ cũ. Mâm cúng mả của nhà giàu phong phú xôi gà, chuối bánh, thịt quay. Chúng lại gần, xớ rớ làm phụ, dọn cỏ, xúc đất, ai sai bảo gì cũng làm. Thế nào lúc đã xong việc gia chủ cũng cho ông Trùm cả mâm lễ vật vừa cúng, cùng với tiền công. Ông Trùm Tư bao giờ cũng chia phần cho anh em nó, có khi ông cũng chia cho vài ba đồng bạc tiền công. Những đám nhà nghèo, chí ít cũng có đĩa xôi, miếng thịt luộc. Và theo tục lệ từ xưa, mả nào dù giàu hay nghèo cũng phải có nắm cơm quả trứng. Những đám cúng xả tang, khăn áo bỏ lại, chúng xin, đem giặt giũ rồi nhờ bác Tư gái may thành quần áo, lấy mủ chuối chà lên, ngâm nước, thế là có những bộ quần áo xám nâu, mặc cũng khá bền và ấm áp. Vùng núi đầy mồ mả đã nuôi chúng khỏi đói khát. Phần cúng người chết đã nuôi nổi người sống tạm ổn.

Chúng lớn dần lên, đen sạm, mạnh khỏe. Gặp ngày Thanh minh tảo mộ, hay trước Tết khối người đi chạp mả, hai anh em vác cuốc cùng ông Trùm Tư đi rẫy cỏ thuê, được trả công, cho xôi chuối, thịt trứng, ăn no nê. Cứ vậy, chúng đã dành dụm được ít tiền. Thằng Hạnh chợt nhớ ra em mình chưa biết chữ, nó quyết tâm nhờ ông Trùm Tư mua tập vở, bút mực để về dạy em học trong những lúc rỗi việc, mặc dù trước đây khi cha mẹ nó còn sống, nó cũng chỉ mới học tới lớp 2. Nó nghĩ dù ít nhiều gì cũng dạy em nó biết đánh vần, biết đọc, biết viết, biết làm toán, chí ít cũng được bằng nó, còn hơn để em mù chữ. Ông Trùm Tư nghe nó nói cũng phải công nhận đúng và hết lòng giúp nó. Ông còn cho anh em nó cả lít dầu để thắp đèn, đêm đêm có ánh sáng mà học. Ông bảo:

– Tụi con giỏi đó, bác khen, bác cho dầu thắp đèn mà học, hết dầu thì nói bác cho tiếp nghe không. Cố gắng anh dạy em cho biết năm ba chữ, sau lớn dễ kiếm công việc làm ăn, các con à. Thiếu cái gì cứ vô nhà bác mà xin, anh em tụi bay mồ côi mồ cút mà biết nuôi nhau, dạy nhau, thương yêu đùm bọc nhau, bác thương bụi bay lắm. Có lẽ cha mẹ tụi bay khôn thiêng cũng phù hộ đó.

Từ đó hai anh em theo ông Trùm đi làm khắp vùng đồi núi. Công việc không thiếu, rẫy cỏ, đắp mộ, đào huyệt, trồng hoa kiểng quanh những ngôi mộ nhà giàu. Thằng Hạnh đọc và ghi nhớ tên tuổi, ngày mất của người quá cố, để đến ngày kỵ của cái mả nào, là nó nhắc ông Trùm làm cỏ sạch sẽ, thể nào gia chủ lên thăm cũng khen và thưởng công. Gặp cái mộ nào bị bể gạch, sứt tường, họ cũng thuê ông Trùm và anh em nó xây sửa lại.

Những người mới chôn, vài hôm sau làm lễ mở cửa mả, ông Trùm và anh em nó giúp tang chủ và các thầy cúng bái hoàn thành. Trong lễ mở cửa mả bao giờ cũng có nhiều lễ vật, vàng hồ, giấy tiền, có cả một con gà mái còn sống, cột dây ở chân, dắt đi vòng vòng quanh mộ mới, gà phải vừa đi vừa kêu quang quác, như gọi hồn người chết, chỉ đường dẫn lối cho họ biết mà về hưởng lễ cúng và gặp người nhà. Nếu gặp con gà nào sợ sệt không kêu, thì đã có anh em nhà thằng Hạnh phụ một tay, vừa kéo con gà đi quanh vừa vỗ cho nó kêu to, giáp ba vòng thì mở dây mặc cho con gà muốn chạy đi đâu thì đi. Những con gà mở cửa mả ấy chỉ chốc nữa anh em thằng Hạnh tìm bắt đem về cho ông Trùm, hôm đó sẽ được bữa cháo gà, gà xé phay no nê.

Vùng đồi núi khô cằn này, mồ mả la liệt, cái to cái nhỏ chen nhau, ban ngày thì nắng cháy, chẳng có cây to bóng mát (vì người ta sợ trồng cây to rễ sẽ xuyên sâu vào mộ, nên họ chỉ trồng vài ba cây hoa nho nhỏ, vài bụi lá thấp tè chung quanh thôi, to nhất cũng chỉ vài cây hoa sứ cằn cỗi, rễ không xuyên sâu). Ban đêm thì gió hú ào ào, côn trùng kêu thảm thiết. Đúng là đất chết. Nhưng mấy ai ngờ rằng, anh em thằng Hạnh thằng Phúc nhờ vùng đất chết này mà sống khỏe, luôn luôn no đủ, còn no đủ hơn cả hồi cha mẹ nó còn sống. Hồi đó, lam lũ vất vả, vật lộn với mấy khoảnh ruộng cằn, chài lưới thâu đêm mà cũng chỉ bữa no bữa đói, mái nhà tranh dột nát trống trước hở sau, mấy khi chúng nó được ăn no, nói chi tới ăn gà xé phay, thịt quay xôi đậu, trong mơ cũng không thấy. Bữa ăn đạm bạc, tôm tép rau mắm đã là mừng rồi. Mùa đông tháng giá, cả nhà nhiều hôm phải ăn cháo khoai, có khi cha mẹ phải nhịn cho hai anh em nó ăn. Ấy thế mà giờ đây, anh em nó luôn luôn no nê. Đành rằng đó chỉ là ăn thừa của người chết, nhưng người chết chỉ hưởng chút hương hoa thôi, họ có ăn miếng nào đâu! Tất cả của cúng mả ít khi gia chủ đem về, mà dù có đem về họ cũng để lại một phần cho ông Trùm và anh em Hạnh Phúc. Đặc biệt là đĩa xôi, nải chuối, nắm cơm quả trứng thì không bao giờ họ mang về, cúng xong để lại trên mả, đó là những món ăn thường xuyên anh em nó có được.

Mỗi lần ăn một nắm cơm, quả trứng, chúng nó lại nhớ cha mẹ ngày mới mất, hai anh em nó lót lá khô ôm nhau nằm bên mộ, đói chỉ chia nhau nắm cơm quả trứng đỡ lòng. Thương cha mẹ lúc chết không được cúng xôi gà, chuối bánh linh đình như những người nằm quanh đây, vì vậy thỉnh thoảng anh em nó cũng nấu cơm nóng, chè đậu, luộc gà, bưng một mâm đầy đến đặt lên mộ cha mẹ, hai anh em thắp nhang khấn vái mời cha mẹ về ăn với chúng.

Mà nói đúng ra là chúng không chỉ sống nhờ người chết. Không một đồng dính túi, hai đứa còn thò lò mũi xanh, nhờ lòng tốt của ông Trùm Tư mà chúng đã biến cái miền hoang địa và ngôi miếu cũ thành một mái nhà ấm áp. Ông Trùm Tư và những nhà trong xóm thấy anh em biết đùm bọc nhau, lại chân thật hiền lành, tỏ ra thương cha nhớ mẹ rất hiếu nghĩa, nên ai cũng thương. Hai anh em nó rất lễ phép và vâng lời ông Trùm, chúng coi ông như người cha thứ hai. Nhà ông Trùm cũng chẳng giàu có gì, chỉ vài ba sào ruộng miệt núi, mùa được mùa thất, khi trồng luá, khi trồng khoai, bắp luân canh. Ông giữ mộ cho cả vùng này, nhận tiền công gia chủ cho tùy lòng. Anh Hưng, con trai ông, đi làm thợ mộc dưới phố, ở rể nhà cha mẹ vợ, thỉnh thoảng mới dắt vợ con về thăm vài ngày, ông còn cô cháu gái gọi bằng bác ruột, cha mẹ chết vì tai nạn xe cộ, ông đem về nuôi từ nhỏ, cũng cỡ tuổi thằng Hạnh, chúng nó gọi là Bông. Bông đi buôn bán, mỗi sáng tinh mơ gánh khoai sắn, bắp đậu, thổ sản miền núi về bán dưới phố. Bông rất siêng năng, chăm lo buôn bán, lúc rỗi thì phụ việc nhà cho bà Trùm Tư. Thằng Hạnh ít khi gặp Bông vì cô gánh hàng đi bán từ sáng sớm tối mịt mới về.

Anh em thằng Hạnh lớn lên khỏe mạnh, vạm vỡ, chúng rất ham làm việc. Nói đúng ra chỉ một mình thằng Hạnh là đi làm với ông Trùm nhiều hơn. Phúc chỉ theo anh vài ba năm đầu. Khi chùa Giác Duyên ở ngọn đồi bên kia được các thầy mở một ngôi trường tiểu học để dạy các trẻ trong làng, thì thằng Hạnh cho em đi học ngày một buổi. Nó cố gắng dành dụm mua sách vở, may quần áo cho em ăn học. Nó dự tính sau cấp tiểu học, nó sẽ cho Phúc về học trung học dưới tỉnh. Nó còn tính sẽ cố dành dụm sắm cho em một cái xe đạp, sáng đi tối về giống như chị Bông vẫn đi buôn bán. Ông Trùm thường khuyên anh em nó:

– Các con đừng nghĩ quá cao, lỡ không đạt được rồi buồn. Cứ lo làm ăn, còn học hành đến đâu hay đến đó.

Nhưng thằng Hạnh không nghĩ vậy. Nó quyết tâm gây dựng cho em nó một tương lai, còn nó miễn sao đủ ăn, khỏe mạnh, có một mái nhà che mưa nắng là ổn rồi. Nó phải thay cha mẹ lo cho em nó sau này có cơ hội khấm khá lên chứ. Nó tin chắc là cha mẹ nó sẽ rất vui lòng. Những đêm trăng sáng nó ra thắp hương trên mộ cha mẹ, thầm khấn vái xin phù hộ cho em nó khỏe mạnh, học hành tấn tới.

***

Thấm thoắt mà thằng Phúc ngày nào sợ ma, khóc rấm rứt bên mộ cha mẹ, bẻ nắm cơm, quả trứng ăn đỡ đói, nay đã là một sinh viên đại học, chỉ nay mai là nó thi tốt nghiệp lấy bằng kỹ sư điện tử. Anh nó bây giờ đã là một thanh niên cường tráng, làm việc suốt ngày không mệt mỏi. Ông Trùm Tư đã giúp chúng làm một ngôi nhà nhỏ kín đáo xây gạch lợp tôn, sát bên vách miếu, để trả lại cái miếu như cũ. Bà con trong xóm vẫn gọi anh em nó là “bọn trẻ miếu hoang”, mặc dù bây giờ đây ngôi nhà của chúng chỉ dựa vào vách miếu thôi chứ chúng không ở trong miếu nữa. Tuy vậy anh em Hạnh Phúc vẫn vui vẻ nhận cái địa chỉ miếu hoang là của mình. Tụi nó rất biết ơn cái miếu hoang, dù không biết miếu thờ ai nhưng chúng vẫn thành tâm thắp nhang đèn ngày rằm, mồng một để tỏ lòng tôn kính.

Một chiều nọ, giông gió đùng đùng, sấm sét ào ào, mưa như trút, Hạnh lấy lồng bàn đậy mâm cơm, ngồi chờ em đi học về. Nhìn ra núi đồi mưa gió sấm sét trong bụng thấy lo vì em nó phải đạp xe từ tỉnh về chắc ướt hết. Nó mong sao cho em biết tìm chỗ trú mưa chờ tạnh hãy về. Hạnh nói một mình: “Cái thằng chúa liều mạng này, không biết có ngu ngốc đội mưa gió sấm sét mà về không nữa chứ? Cầu cho nó đừng dầm mưa, lỡ ốm thì bỏ học mất mấy ngày, cái thằng…

Câu nói còn bỏ lửng, thì ngoài sân có tiếng con gái vọng vào:

– Anh Hạnh ơi, cho em vào trú mưa với, sấm chớp ghê quá!

Hạnh nhận ra tiếng Bông, cô cháu gái của ông Trùm, vội chạy ra mở cửa, đỡ đôi quang gánh cho Bông, cô gái lạnh run, áo quần ướt sũng. Hạnh dắt Bông tới bếp lửa và hỏi:

– Sao Bông không trú mưa chờ tạnh hãy về? Ướt lạnh thế này dễ ốm lắm. Thôi, hơ lửa đi cho ấm đã, lấy tạm quần áo khô của Hạnh mà thay, rồi ăn vài bát cơm nóng cho ấm bụng, chờ hết mưa hãy về. Bông mà về giờ này bác Trùm la cho đó.

Cô gái vào sau góc bếp thay vội áo quần. Trong bộ cánh đàn ông rộng thùng thình. Bông có vẻ mắc cỡ, hai má đỏ hồng. Cô gái trông càng xinh đẹp ở độ tuổi đôi mươi. Hạnh len lén nhìn Bông, lòng rộn lên một niềm vui khó tả, nó lên tiếng để phá tan im lặng:

– Bông ăn cơm đi, vừa lạnh vừa đói, rồi ốm cho coi!

Bây giờ Bông mới thấy nhà chỉ mình Hạnh, cô lo lắng:

– Phúc chưa về à? Thôi để Bông chờ mưa tạnh rồi chạy ù về nhà cũng được. Cơm còn phải để cho Phúc ăn chứ.

– Bậy nào! Hạnh xới cơm, để phần đồ ăn riêng cho Phúc rồi, Bông cứ ăn đi.

Bông đành nhận lời:

– Thôi được, Bông ăn với Hạnh cho vui vậy…

Cô gái xới cơm ra chén, hai người ăn nhỏ nhẹ, chậm rãi, và dường như có những ý nghĩ vì vương vướng, làm họ im lặng, chỉ len lén nhìn nhau. Mãi gần xong bữa cơm mà cơn mưa vẫn chưa tạnh, chớp vẫn ngoằn ngoèo lóe sáng. Cô gái ngập ngừng lên tiếng trước:

– Anh Hạnh này, anh định lập nghiệp luôn ở đây, lấy vợ ở đây, hay định về quê cũ của ba má anh hồi xưa?

Hạnh nhìn sâu vào đôi mắt đen láy của cô gái:

– Hạnh đâu còn quê cũ, nhà cửa, cha mẹ nữa. Hạnh tính ở đây luôn làm con nuôi bác Trùm, rồi lấy vợ ở đây luôn thôi. Chỉ chờ Phúc học xong, có công ăn việc làm rồi Hạnh mới lo cho mình được… À, mà Bông này – Hạnh ngập ngừng – mình nghèo khó, mồ côi cha mẹ, ở giữa mồ mả núi non vầy, ai mà thèm lấy mình chứ?

Bông nhìn lảng vào bát cơm trên tay, ngần ngừ một thoáng rồi mạnh dạn trả lời:

– Nếu mà Hạnh chọn một người cũng… mồ côi cha mẹ như Hạnh, cũng nghèo như Hạnh, cũng ở giữa núi non mồ mả như Hạnh… có được không?

Hạnh như chợt hiểu ra, sung sướng cầm lấy tay Bông:

– Mà… người ấy cũng là… là con bác Trùm nữa phải không? Nếu người ấy thương Hạnh, mà bác Trùm cũng cho phép thì Hạnh sẽ cưới người ấy làm vợ liền?

Bông rút bàn tay lại, nhưng đôi mắt nguýt dài có đuôi:

– Chỉ sợ người ta chê mình nghèo thôi, mai mốt em trai người ta làm kỹ sư này nọ sẽ giàu có rồi…

Hạnh bịt miệng Bông lại:

– Bông ơi, dù em Phúc mai mốt có là ông kỹ sư thì cũng nhờ ăn cơm mả, ngủ miếu hoang mà nên người, đời nào lại dám vong ân bội nghĩa. Lâu nay thật lòng Hạnh rất thương Bông nhưng chưa có dịp nói ra, chỉ sợ làm phiền lòng bác Trùm. Hôm nay quả thật vong linh cha mẹ đã xui khiến cho Bông vào trú mưa để hai đứa mình có dịp tỏ bày. Hạnh chỉ sợ không biết bác Trùm có bằng lòng cho hai đứa mình không?

Bông cười:

– Tại anh Hạnh không biết đó thôi, chứ… bác cứ đòi… gả Bông cho anh Hạnh hoài à. Chỉ vì anh chưa ngỏ ý trước nên bác cũng chưa nói ra đó thôi.

Hạnh vui sướng reo lên:

– Thế thì để anh thưa với bác. Bông ơi, nhưng phải đợi anh nuôi em Phúc học xong đã, chúng mình hãy cưới, Bông có chịu không?

– Bông cũng buôn bán phụ thêm để nuôi Phúc học hành cho mau thành tài, anh có cho Bông đóng góp không?

Ngoài trời đã tạnh mưa, trời sáng hẳn, những giọt nước lóng lánh trên đám cỏ, người giọt nước mắt vui mừng cũng lóng lánh trên khóe mắt hạnh phúc đôi trai gái nghèo chung hoàn cảnh thương nhau buổi đầu.

Tiếng chuông xe đạp kính-coong từ xa. Bông thay vội bộ quần áo trả lại cho Hạnh, lấy quang gánh ra về. Hạnh đưa Bông ra ngoài, chỉ tay về phía một cái mả mới:

– Kìa Bông xem, lũ chim chia nhau ăn nắm cơm trên mả mới, giống hệt hồi xưa anh và Phúc cùng chia nhau một nắm cơm, quả trứng như thế đó. Không bao giờ anh quên nắm cơm ấy đâu!

Ninh Giang Thu Cúc

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.