Chuyện “xưa rồi Diễm”:(bóc lột) Giá trị thặng dư ,lý thuyết của cụ tổ quý tộc Mác(K .Marx) thế kỷ thứ XIX !!

Tài liệu thư giản mùa ôn dịch

“Giá trị thặng dư không tạo ra từ trong lưu thông,nó cũng không tạo ra ở bên ngoài lưu thông,nó phải được tạo ra từ trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông “

Je suis,donc je suis ????!!
I’m ,so I’am !!!???

Răng ? hiểu không ???

Đ/C Võ Văn Thưởng TB/TGTW kỳ vọng VN sẽ có những triết gia tầm cở giải thich định nghĩa trên

O Nguyễn Hoàng Anh Thư ‘phê tê bốc

Đảng viên Cộng sản Việt Nam làm kinh tế

“Bóc lột” – “Giá trị thặng dư”

Thứ Năm, 23/2/2006 15:39

Vấn đề lý luận mang tính cốt lõi cần ưu tiên làm sáng rõ để việc nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sớm nhận được sự đồng thuận là vấn đề nhận thức nội hàm khái niệm giá trị thặng dư.

Nội hàm khái niệm giá trị thặng dư được tiếp nhận từ lý luận kinh tế của Mác có thể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ. Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trị thặng dư là sự phản ánh quan hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.

Trong hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào việc mua sắm sức lao động và tư liệu sản xuất. Còn mục đích của nhà tư bản khi chi tiền ra mua sắm các thứ đó chẳng có gì khác hơn là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà mình đã ứng chi trong quá trình sản xuất. Số tiền dôi ra đó chính là giá trị thặng dư.

Các tư liệu sản xuất như nhà xưởng, công trình kiến trúc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,… là tư bản bất biến. Nó không thay đổi lượng giá trị trong quá trình sản xuất mà chỉ chuyển hóa giá trị của nó sang các sản phẩm mới được sản xuất ra. Nó không thể là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Còn sức lao động thì trong quá trình tiêu dùng, tức là trong quá trình sử dụng nó vào lao động sản xuất, nó có khả năng tạo ra giá trị mới mà giá trị mới này lại lớn hơn giá trị của bản thân nó. Sức lao động là tư bản khả biến.

Nhà tư bản sử dụng tính chất khả biến đó vào mục đích tạo ra cho mình giá trị thặng dư. Chiếm đoạt toàn bộ giá trị thặng dư này là hành vi được gọi đích danh là “bóc lột”. Đó là nói chung, còn cụ thể, trong quá trình sản xuất, hành vi “bóc lột” giá trị thặng dư còn được nhà tư bản thực hiện bằng sự gia tăng giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, tức là kéo dài tuyệt đối thời gian của ngày lao động, rút ngắn thời gian lao động cần thiết để sản xuất từng sản phẩm và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư. Việc tăng giá trị thặng dư còn được một số nhà tư bản thực hiện bằng cách hạ thấp giá trị của hàng hóa do xí nghiệp mình sản xuất so với giá trị xã hội của hàng hóa đó. Số giá trị tạo ra bằng cách này được gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch.

Thực ra, giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là một biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Chỗ khác nhau giữa chúng chỉ là một bên thu được do tăng năng suất lao động xã hội, còn bên kia – bên giá trị thặng dư siêu ngạch – thì được tạo ra nhờ biết áp dụng kỹ thuật mới, biết áp dụng công nghệ tiến bộ và các phương pháp quản lý hoàn thiện hơn trong tổ chức sản xuất.

Trong hoạt động kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều bị nhà tư bản chiếm đoạt, vì vậy mà luôn luôn có cuộc đấu tranh của công nhân làm thuê chống lại sự chiếm đoạt đó: Đấu tranh chống kéo dài thời gian làm việc trong ngày để chống bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối; đấu tranh chống việc nhà tư bản rút ngắn thời gian lao động cần thiết và tăng tương ứng lao động thặng dư để chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch.

Cuộc đấu tranh chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch về thực chất là sự phản ứng lại đối với những cải tiến trong áp dụng kỹ thuật mới, phản ứng lại sáng kiến trong ứng dụng công nghệ tiến bộ và việc áp dụng những phương pháp tổ chức sản xuất hoàn thiện hơn… Thật ra, sự đấu tranh của giai cấp thợ thuyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa để chống lại sự bóc lột giá trị thặng dư nói chung, là nhằm vào một chủ điểm: Chống việc nhà tư bản chiếm đoạt hoàn toàn giá trị thặng dư cụ thể là cả ba thứ giá trị thặng dư vừa nêu trên.

Như vậy, mục đích của cuộc đấu tranh này là nhằm giải quyết mâu thuẫn trong bản thân quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Còn việc làm thế nào để sinh ra ba thứ giá trị thặng dư lại không phải là nguyên nhân sinh ra cuộc đấu tranh; tức là mục đích đấu tranh của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là đòi phải phân chia các giá trị thặng dư cho đúng, cho hợp lý, hợp tình; ngăn chặn nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ các giá trị thặng dư.

Và tới khi mà yêu cầu căn bản này của giai cấp thợ thuyền không được thực hiện – nhà tư bản cứ thẳng tay bóc lột, lấy riêng cho bằng hết các loại giá trị thặng dư thì cuộc đấu tranh mới diễn ra quyết liệt hơn: Đình công, phá máy móc, phá nhà xưởng… hậu quả tổng thể của cuộc đấu tranh giai cấp này đối với xã hội là: Sáng kiến, phát minh khoa học, kỹ thuật bị hạn chế; năng suất lao động không được phát huy; phương pháp sản xuất không được cải tiến… dẫn tới tổng sản phẩm xã hội bị thu hẹp (!).

Các khía cạnh liên quan đến sự sản sinh và sự chiếm đoạt giá trị thặng dư như vừa đề cập ở trên phải được đặt gọn trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; chúng được bảo hộ bằng nền chính trị (có khi cả quân sự nữa) của chủ nghĩa tư bản. Quá trình sản sinh, chiếm đoạt giá trị thặng dư cũng là viên đá tảng trong cấu trúc của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Sự chiếm đoạt giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản thường xuyên thực hiện đối với những người sản sinh ra giá trị thặng dư được gọi là sự bóc lột. Đó chính là sự bóc lột mà giai cấp tư sản thực hiện đối với giai cấp công nhân làm thuê trong chế độ tư bản chủ nghĩa.

Vậy, rõ ràng, bóc lột giá trị thặng dư là sản phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa. Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh. Ngộ nhận về điều này sẽ dẫn đến rối loạn khi chúng ta phải luận giải để trả lời các câu hỏi: Vậy thì cái được gọi là “giá trị thặng dư” trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thuộc về ai? Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa này sở hữu “giá trị thặng dư” có phải là hành động bóc lột hay không?

Khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, trong xã hội Việt Nam có một hình thái hoạt động vốn bình thường nay bỗng trở nên sôi động. Đó là hoạt động kinh tế tư nhân, bao gồm cả hình thái hoạt động kinh tế được gọi là “hoạt động kinh tế tư bản tư nhân”. Một trong những yếu tố quan trọng trong kết quả của hình thái hoạt động kinh tế này là số tiền dôi ra sau khi đã thanh toán tất cả các chi phí trả cho sức lao động và tư liệu sản xuất sẽ thuộc về ai. Số tiền dôi ra này nếu toàn bộ chỉ thuộc về người chủ tư bản tư nhân thì người chủ đó mới bị gọi là kẻ bóc lột.

Ở Việt Nam hiện nay thiết chế pháp lý về nguyên tắc phân chia số tiền dôi ra này không diễn ra như trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà phải phù hợp với tính chất định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, ở đây phải chăng nội hàm của khái niệm “bóc lột” mà Mác đã từng nói về kinh tế tư bản chủ nghĩa đã bị tha hóa? Và một khi nội hàm của một khái niệm đã bị tha hóa thì nên chăng là hãy đặt cho khái niệm ấy một tên gọi khác, chẳng hạn như thay cái tên “bóc lột” bằng tên gọi “hưởng thụ thực lãi”. Hưởng thụ thực lãi từ sự phân chia lãi theo những nguyên tắc mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứ không phải là nhận lãi theo kiểu bóc lột trong kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, nếu ấn định được nguyên tắc phân chia lại giá trị thặng dư như đã nói ở trên, tức là phân chia công bằng, đồng thuận từ mọi phía thì cuộc đấu tranh giành giật giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch theo kiểu như dưới chế độ tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ tự thủ tiêu. Bởi vì số của cải dôi ra do kéo dài và rút ngắn thời gian lao động cần thiết để hoàn thành từng sản phẩm; nhờ biết áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp tổ chức sản xuất hoàn thiện hơn và ứng dụng công nghệ tiến bộ… không phải bị nhà tư bản chiếm đoạt hết mà được phân chia cho mọi thành viên trong cơ sở sản xuất theo tỷ lệ thỏa thuận.

Giờ lao động bị kéo dài thêm sẽ không còn là lao động tha hóa mà trở thành lao động tự nguyện, lao động có ích, trong đó có ích cho bản thân mỗi người và có ích cho mọi người; sáng kiến, phát minh khoa học, kỹ thuật sẽ được khuyến khích, được áp dụng vì lợi ích chung. Như vậy là cuộc giành giật các giá trị thặng dư mà dưới chế độ tư bản chủ nghĩa đã làm tổn hại đến tổng sản phẩm xã hội, nay biến thành hợp đồng sản xuất, hợp tác lao động sáng tạo để không ngừng làm tăng trưởng cho tổng sản phẩm xã hội, tương ứng với sự tăng trưởng thu nhập cho mỗi thành viên của xã hội có tham gia sản xuất, có tham gia lao động sáng tạo.

Có thể hình dung một cách tổng quát nguyên tắc phân chia lại giá trị thặng dư mà đến đây xin được gọi là “nguyên tắc phân chia lãi” này như sau: Phần thứ nhất chia cho người bỏ vốn mua sức lao động và tư liệu sản xuất. Phần thứ hai chia cho toàn bộ thành viên của cơ sở sản xuất (chẳng hạn như là tổ chức công đoàn) để làm vốn tái đầu tư của mọi thành viên trong cơ sở sản xuất vào vòng quay sản xuất tiếp theo. Số vốn tái đầu tư này, qua một vòng quay tiếp theo của quá trình sản xuất, nó sẽ sản sinh ra một số lãi mới mà nguyên tắc chia số lãi mới này là cộng chung nó vào với giá trị thặng dư nguyên gốc để gọi chung là tổng giá trị thặng dư rồi chia cho mọi thành viên của cơ sở sản xuất theo tỷ lệ của mức lương.

Ví dụ: Tổng giá trị thặng dư của vòng quay thứ nhất là 500 triệu đồng; trong cơ sở sản xuất gồm 50 thành viên với tổng số lương được nhận trong thời gian hoàn thành vòng quay đó là 1 tỷ đồng, tức là tổng giá trị thặng dư của vòng quay sản xuất này bằng 50% số lương. Như vậy, mỗi thành viên tham gia sản xuất ở vòng quay này trung bình được lĩnh thêm một số tiền bằng 50% số lương gốc của mình. Lĩnh theo tỷ lệ lương, mà lương là sự phản ánh mức độ đóng góp sức lực, trí tuệ của từng người cho toàn bộ công việc sản xuất của vòng quay đó. Lương của mỗi người mỗi khác nên số tiền được lĩnh thêm của mỗi người cũng mỗi khác. Một thành viên nhận tổng số lương trong thời gian hoàn thành vòng quay đó là 20 triệu đồng thì được lĩnh thêm 10 triệu đồng nữa. Một thành viên khác lương chỉ có 10 triệu đồng thì chỉ được nhận thêm 5 triệu đồng. Còn người đóng góp sức lực, trí tuệ nhiều, hưởng lương lên tới 40 triệu thì được lĩnh thêm 20 triệu đồng nữa, v.v…

Tỷ lệ phân chia số tiền dôi ra các loại theo “nguyên tắc phân chia lãi” (tức có thể hiểu như là phân chia lại giá trị thặng dư) này cho người bỏ vốn và cho tập thể toàn bộ thành viên của cơ sở sản xuất (công đoàn cơ sở chẳng hạn) như vừa nói là sự thể hiện tính định hướng xã hội chủ nghĩa; là sự khác nhau cơ bản giữa sản xuất kinh tế tư bản chủ nghĩa và sản xuất kinh tế xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay của Việt Nam. Tỷ lệ phân chia đó được ấn định từ kết quả thỏa thuận giữa người bỏ vốn với tập thể các thành viên của cơ sở sản xuất trong đó có cả người chủ bỏ vốn.

Xin được lưu ý đặc biệt rằng, người chủ bỏ vốn đầu tư ngoài việc lĩnh tỷ lệ phần tiền dôi ra với tư cách là chủ, anh ta còn được nhận số tiền do công đoàn chia với tư cách là một thành viên của tập thể. Lương gốc mà anh ta nhận được tính gộp cả lương sản xuất cụ thể, cả lương lao động quản lý, cả lương sáng chế, phát minh,… của bản thân anh ta. Các thành viên của gia đình anh ta có tham gia sản xuất, quản lý… cũng nhận được sự phân phối theo nguyên tắc đó. Tỷ lệ phân chia này được ấn định theo mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo tinh thần thỏa thuận có tính chất nhân bản – tự nguyện vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Tỷ lệ phân chia đó khi gộp chung lại của toàn xã hội không là sức mạnh nhằm đào sâu hố ngăn cách giàu – nghèo; không tạo ra tình trạng một nhóm thiểu số, rất thiểu số lại sở hữu một số tài sản kếch xù của toàn xã hội trở thành giàu có tới vô độ, dẫn tới chỗ họ có thể dùng sự giàu có về kinh tế đó để khuynh đảo luôn cả hệ thống chính trị, quân sự; lũng đoạn cả hệ thống tư tưởng – triết học để lái đất nước lệch ra khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Về phía những người là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thì chấp nhận hay không chấp nhận tỷ lệ phân chia theo cách này là tiêu chuẩn để đánh giá chất cộng sản Việt Nam của bản thân. Đối với cán bộ, công chức của bộ máy Nhà nước và của các tổ chức ban, ngành, hội, đoàn…, cũng phải lấy thái độ, mức độ ủng hộ phương hướng phân chia theo tỷ lệ này làm thước đo quan điểm và trình độ giác ngộ chính trị của mình đối với sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam hướng tới chủ nghĩa xã hội.

Hệ thống các cơ quan lập pháp căn cứ vào thực tế hoạt động kinh tế trên đất nước từng giai đoạn mà đưa vào luật, vào các văn bản dưới luật… những nguyên tắc phân chia theo tỷ lệ này. Đảng lãnh đạo; Nhà nước quản lý; nhân dân làm chủ việc thực hiện cách phân chia tỷ lệ này. Tỷ lệ phân chia này không phải thực hiện đồng loạt cho mọi cơ sở sản xuất, mọi tổ chức sản xuất kinh tế. Lại càng không phải áp dụng trong mọi thời điểm.

Vận dụng hợp lý sự ấn định tỷ lệ đó cho từng lúc, từng nơi là chứng tỏ sự sáng suốt của hệ thống cơ quan lập pháp; là thuộc về nghệ thuật quản lý của Nhà nước; nghệ thuật lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là thể hiện bản lĩnh của từng con người Việt Nam mong muốn xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam hằng mong muốn từ suốt 9 đại hội Đảng đã qua tới đại hội X lần này.

Từ sự trình bày, phân tích những khía cạnh cơ bản của vấn đề giá trị thặng dư như trên, chúng ta có thể đi đến mấy kết luận tổng quát như sau :

1. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, giá trị thặng dư phải được phân chia lại. Hành vi “chiếm đoạt” giá trị thặng dư mà với chế độ tư bản chủ nghĩa gọi là “bóc lột”, nay phải được thay thế bằng hành vi “hưởng thụ thực lãi” của hoạt động kinh tế. Do đó, nội hàm của khái niệm “bóc lột” theo cách hiểu trong phương thức kinh tế tư bản chủ nghĩa nay phải được nhận thức lại.

2. Tỷ lệ phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” trong hoạt động kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn hiện nay đặt trên cơ sở những nguyên tắc mang tính thỏa thuận, tự nguyện giữa mọi thành viên tham gia sản xuất, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

3. Nguyên tắc phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” này là định mức hưởng thụ khác nhau cho từng loại thành viên có năng suất lao động và sáng tạo trong sản xuất khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các thành viên cụ thể có năng suất lao động và sáng tạo trong sản xuất khác nhau của mỗi tập thể sản xuất, tùy theo mức độ đóng góp của loại thành viên ấy, của các thành viên cụ thể ấy – tức là làm nhiều được hưởng nhiều, làm ít được hưởng ít – đó chính là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu định hướng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày nay.

4. Phủ định hình thái bóc lột bởi hình thái phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” không phải là làm trái với lý luận kinh tế của Mác mà chính là phát triển lý luận kinh tế của Mác. Lấy cách phân tích, lý giải của Mác về giá trị thặng dư trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà soi sáng cho việc phân tích, lý giải về sự phân chia số tiền dôi ra trong hoạt động kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Đó chẳng phải là phát triển lý luận kinh tế của Mác thì còn là gì nữa? Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam giai đoạn hiện nay như vậy là không còn vấn đề bóc lột theo nghĩa mà Mác đã nói về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; không còn vấn đề giá trị thặng dư theo nghĩa mà Mác đã nói khi phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Do đó, không thể đánh giá chất lượng của các Đảng viên Đảng Cộng sản hoạt động kinh tế qua sự “bóc lột” ít hay “bóc lột” nhiều mà phải đánh giá chất lượng các Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham gia hoạt động kinh tế hiện nay qua thái độ chấp nhận nhiều hay chấp nhận ít, chấp nhận hay không chấp nhận nguyên tắc phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi”.

Và, kết luận chung lại, vấn đề đặt ra về việc cấm Đảng viên không được làm kinh tế tư bản tư nhân thực chất là vấn đề cấm Đảng viên không được làm kinh tế dạng tư bản tư nhân mà không chịu chấp nhận sự phân chia “quyền hưởng thụ thực lãi” theo nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn lịch sử hiện nay – “Giai đoạn lịch sử Việt Nam hiện nay” mà tôi muốn nói là giai đoạn lịch sử bắt đầu bằng sự mở đầu công cuộc đổi mới năm 1986, qua các mốc quan trọng là thời kỳ thực hiện các nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó tiếp tục ít nhất có lẽ là phải từ Đại hội X tới nhiều đại hội nữa của Đảng trong đầu thế kỷ XXI này.

PGS-TS. TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN
(Nhà nghiên cứu Khoa học xã hội)

Tạp chí Công Thương

Học thuyết giá trị thặng dư và giá trị của nó trong nền kinh tế tri thức

TCCTTHS. NGUYỄN THỊ ANH KHUYÊN (Khoa Luật, Trường Đại học Quảng Bình)

TÓM TẮT:

Học thuyết giá trị thặng dư là một trong ba đóng góp to lớn của C.Mác đối với lịch sử xã hội loài người. Trong xu thế kinh tế thế giới dịch chuyển theo hướng từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, học thuyết giá trị thặng dư vẫn giữ nguyên giá trị. Bài viết tóm tắt những luận điểm cơ bản của C.Mác về học thuyết giá trị thặng dư và làm rõ những đặc điểm nổi bật của nền kinh tế tri thức, trên cơ sở đó góp phần khẳng định giá trị của học thuyết giá trị thặng dư đối với sự phát triển của nhân loại nói chung và trong nền kinh tế tri thức nói riêng.

1. Vài nét sơ lược về học thuyết giá trị thặng dư và nền kinh tế tri thức

1.1. Học thuyết giá trị thặng dư

Học thuyết giá trị thặng dư được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị – lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, đem đến cho lý thuyết giá trị – lao động một cơ sở khoa học thực sự.

Khi nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác chỉ rõ giá trị thặng dư là lao động không công của công nhân cho nhà tư bản chỉ được tạo ra trong quá trình sản xuất nhờ tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao động. Đồng thời C.Mác khẳng định rằng: Sản xuất ra giá trị thặng dư – quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Quy luật giá trị thặng dư đòi hỏi sản xuất giá trị thặng dư ngày càng nhiều cho các nhà tư bản bằng cách tăng cường bóc lột lao động làm thuê trên cơ sở mở rộng sản xuất và phát triển kỹ thuật. C. Mác chỉ ra có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối, đồng thời chỉ ra sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, vì: Quy luật này không những vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất giá trị và giá trị thặng dư mà còn vạch rõ phương thức mà các nhà tư bản sử dụng để kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động và tăng năng suất lao động để tăng cường bóc lột công nhân làm thuê.

Quy luật giá trị thặng dư ra đời cùng với sự ra đời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, tồn tại và phát huy tác dụng cùng với sự tồn tại và vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Quy luật giá trị thặng dư chi phối các quy luật kinh tế khác, như: Quy luật lợi nhuận, quy luật lợi nhuận bình quân, quy luật lợi nhuận siêu ngạch,…

Quy luật này quyết định toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời đây cũng là nguyên nhân làm cho mâu thuẫn cơ bản và nói chung toàn bộ mâu thuẫn của xã hội tư bản ngày càng sâu sắc, tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản.

Như vậy, thoạt nhìn, việc mua bán sức lao động cũng giống như mua bán các hàng hóa thông thường khác, nhưng ẩn sau quan hệ “thuận mua vừa bán” đó là sự bóc lột tinh vi của nhà tư bản đối với người công nhân. Do đó, “sản xuất giá trị thặng dư” chỉ là sự bóc lột lao động không công của công nhân một cách tinh vi của nhà tư bản.

1.2. Nền kinh tế tri thức

Theo tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nền kinh tế tri thức có những đặc điểm cơ bản sau:

Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; cơ cấu nền kinh tế tri thức có sự biến đổi sâu sắc theo hướng các ngành kinh tế dựa vào tri thức ngày càng tăng và chiếm ưu thế; công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực; nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hoá; mọi hoạt động trong nền kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hoá kinh tế.

Trong nền kinh tế tri thức, một ngành được coi là ngành kinh tế tri thức khi hàm lượng giá trị do tri thức mang lại chiếm khoảng 70% tổng giá trị của ngành đó. Tương ứng, một nền kinh tế được coi là nền kinh tế tri thức khi tổng sản phẩm các ngành kinh tế tri thức chiếm khoảng 70% tổng sản phẩm trong nước. Từ sự dịch chuyển kinh tế thế giới như trên, nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác mang giá trị lý luận và thực tiễn.

2. Giá trị của học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế thế giới hiện nay đang có xu hướng dịch chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Tại thời điểm C. Mác phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư, đối tượng kinh tế tập trung hướng đến là nguyên vật liệu, tăng trưởng kinh tế chủ yếu do nguyên liệu mang lại. Hiện nay, nền kinh tế thế giới dịch chuyển sang phát triển kinh tế tri thức, đối tượng kinh tế tri thức, chất xám, tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tư bản vô hình mang lại. Mặc dù kinh tế thế giới nói chung và kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa nói riêng đã có nhiều thay đổi, song sự thay đổi đó không làm mất đi giá trị của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác mà ngược lại, học thuyết giá trị thặng dư càng cần được nghiên cứu sâu hơn nữa để vận dụng vào từng điều kiện thực tiễn của đất nước và từ đó lựa chọn những bước đi phù hợp.

Giá trị học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị bởi những luận giải sau:

Thứ nhất: Bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi.

Hiện nay, các nước tư bản chủ nghĩa đã và đang đạt những thành tựu nổi bật về kinh tế. Họ luôn luôn là những nước đi đầu trong việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại đồng thời là những quốc gia đi đầu trong quá trình dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức. Phù hợp với xu thế kinh tế này, chủ nghĩa tư bản hiện đã có nhiều thay đổi đáng kể về quan hệ sở hữu, về vai trò của người lao động trong doanh nghiệp (người lao động trở thành những cổ đông đồng sở hữu về tư liệu sản xuất). Đặc biệt, trong nền kinh tế tri thức, vai trò của người lao động ngày càng được coi trọng, những sáng kiến kinh nghiệm, những phát minh khoa học của người lao động được chủ tư bản đánh giá cao và có những phản hồi về mặt lợi ích phù hợp. Do đó, tỉ lệ người lao động đứng vào hàng ngũ trung lưu ngày càng đông đảo và chiếm 50% trong cơ cấu dân số.

Mặc dù có những thay đổi đáng kể như thế, nhưng sự thay đổi biểu hiện bên ngoài không tạo ra sự thay đổi về mặt bản chất của chủ nghĩa tư bản. Quan hệ kinh tế của chủ nghĩa tư bản vẫn dựa trên cơ sở là hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Người lao động mặc dù được là cổ đông đồng sở hữu về tư liệu sản xuất với nhà tư bản nhưng 99% cổ phần thuộc trong tay giai cấp tư bản. Cán cân quyền lực kinh tế vẫn nghiêng về giai cấp tư sản. Mặt khác, với tư cách là cổ đông đồng sở hữu về tư liệu sản xuất, người công nhân lại làm việc trên tinh thần “làm cho mình” với nhiệt huyết hăng say, năng suất và hiệu quả tăng lên. Như vậy, việc người lao động trở thành cổ đông đồng sở hữu tư liệu sản xuất thực chất không phải do nhà tư bản tự nguyện mà đó là một trong những biện pháp để chủ nghĩa tư bản thích nghi với những thay đổi của nền kinh tế thế giới.

Giai cấp tư sản dưới danh nghĩa bán 1% cổ phần cho người lao động, họ đã thực hiện được phương châm “bỏ con săn sắt, bắt con cá rô”, họ chia tỉ lệ 1% giá trị thặng dư cho người lao động, nhận về 99% lao động không công do công nhân làm ra đồng thời kèm theo đó là sự quan tâm, tinh thần thái độ lao động hết mình của người lao động. Đáng lưu ý là trong nền kinh tế tri thức, yếu tố quan trọng nhất mang lại nguồn lượng giá trị thặng dư lớn cho nền kinh tế tư bản không phải là tư bản hữu hình, mà là tư bản vô hình tồn tại trong hàng hóa sức lao động. Những người lao động ở đây là người lao động có tri thức và trình độ, là những người chủ sở hữu kinh tế tiềm năng – tiềm năng về trình độ, về tri thức khoa học. Những tiềm năng kinh tế này chỉ có thể được phát huy trong điều kiện được quan tâm và tạo điều kiện phát huy sức sáng tạo.

Trang 146 trong quyển sách “Chủ nghĩa tư bản ngày nay: mâu thuẫn nội tại, xu thế, triển vọng” viết: “Ở Mỹ, kết quả tính toán cho thấy: 1% gia tăng chi phí lao động đưa lại sản lượng gấp ba lần so với việc tăng 1% vốn”. Nhà tư bản ưu ái, coi trọng và trả lương cao cho người lao động có trình độ thực chất họ đang đầu tư vào yếu tố tạo nên lượng giá trị thặng dư vô tận cho mình. Sự thay đổi này thực chất là thay đổi hình thức bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản đối với người lao động. Chuyển bóc lột lao động từ hao phí lao động chân tay sang bóc lột hàm lượng tri thức, chất xám, gia tăng khối lượng giá trị thặng dư từ lao động của người công nhân nhưng lại có được sự quan tâm và nhiệt huyết của họ, đồng thời xóa mờ mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng này.

Thứ hai: Xét về chất, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực để phát triển kinh tế theo hướng kinh tế tri thức. Để theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch, nhà tư bản đầu tư vào nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất.

Trong nội dung học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã phân tích rõ về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho lượng giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó. Dù xét trong từng trường hợp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng nó lại là một hiện tượng liên tục, thường xuyên khi xét trong toàn bộ xã hội. Với mức giá trị thặng dư lớn và liên tục từ phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch, các nhà tư bản không ngừng cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động nhằm hạ giá trị hàng hóa.

Với khát vọng tăng lượng giá trị thặng dư, các nhà tư bản không ngừng đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, đồng thời họ chuyển hướng đối tượng kinh tế của mình sang đầu tư tư bản vô hình là tri thức, là chất xám có sẵn trong người lao động. Bởi giá trị thu được từ nguồn nguyên liệu có sẵn trong trự nhiên là hữu hạn, nhưng lượng giá trị có được từ hàm lượng tri thức của người lao động là vô hạn, càng khai thác càng phát huy giá trị. Bàn về vấn đền này trong tác phẩm Chủ nghĩa tư bản ngày nay: mâu thuẫn nội tại, xu thế, triển vọng, tác giả Đỗ Lộc Diệp viết: “Việc chuyển hóa nhanh khoa học công nghệ thành sức sản xuất xã hội vừa đòi hỏi có một số lượng lớn các nhà khoa học, vừa đòi hỏi phải có một đội ngũ đông đảo nhân viên kỹ thuật có trình độ tri thức tương đối cao và những người lao động lành nghề. Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục, bồi dưỡng nhân tài phát triển tương ứng. Sau chiến tranh, các nước tư bản phát triển nói chung đều rất coi trọng công tác giáo dục”.

Như vậy, chuyển đổi nền kinh tế từ công nghiệp sang nền kinh tế tri thức không làm mất đi giá trị của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác mà thậm chí, mục tiêu của các nhà tư bản khi chuyển đối tượng kinh tế sang đầu tư các loại hàng hóa chiếm hàm lượng tri thức cao cũng đều phục vụ nhu cầu tìm kiếm giá trị thặng dư và lợi nhuận siêu ngạch.                                                     

Thứ ba: Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư có ý nghĩa to lớn đối với nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế theo hướng kinh tế tri thức.

Tại Hội thảo “Vai trò của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam” (Hà Nội, ngày 31/3/2015) các nhà nghiên cứu đã khẳng định: “Việt Nam cần ưu tiên phát triển nền kinh tế tri thức như một điều kiện sống còn trong thế giới đang vận động rất mau lẹ. Kinh tế tri thức còn là điều kiện để Việt Nam tồn tại, cạnh tranh và thoát khỏi cái rốn nghèo của khu vực vốn đeo đuổi bấy lâu. Việt Nam chưa có nền kinh tế tri thức hay cụ thể hơn là chỉ một vài doanh nghiệp, ngành đã và đang đi sâu vào kinh tế tri thức bằng cách đi tắt đón đầu và ngang bằng với trình độ của thế giới, như: điện tử viễn thông, hóa dược và vật liệu xây dựng”.

Học thuyết giá trị thặng dư có ý nghĩa to lớn về mặt lịch sử phản ánh mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong chủ nghĩa tư bản, vạch rõ tính tất yếu của sự ra đời một xã hội mới thay thế cho chủ nghĩa tư bản. Ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, học thuyết này có ý nghĩa hiện thực to lớn cho quá trình phát triển kinh tế hướng đến nền kinh tế tri thức. Cần vận dụng học thuyết một cách thông minh, sáng tạo nhưng đảm bảo tính khoa học phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác trong điều kiện phát triển kinh tế hướng đến kinh tế tri thức của nước ta hiện nay, chỉ rõ:

Muốn tối ưu hóa lợi nhuận, Việt Nam cần thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch. Hiện nay, trong xu thế chung của thế giới là chuyển dịch kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, cần nhận thức rõ phương pháp đem lại giá trị thặng dư và lợi nhuận cao là tìm kiếm giá trị thặng dư nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Muốn làm được điều đó, Việt Nam cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và tri thức. Xác định rõ sự phát triển của khoa học, công nghệ là điều kiện cơ bản để hình thành và phát triển kinh tế tri thức.

Cần đầu tư hơn nữa cho khoa công nghệ, chú trọng công tác giáo dục, thực hiện chính sách thu hút người lao động có trình độ cao, tránh nguy cơ chảy máu chất xám,… Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với Việt Nam hiện nay, bảo vệ lợi ích của nước mua công nghệ, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo từ trong nước.

Xuất phát điểm của Việt Nam thấp hơn so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, do đó Việt Nam cần thực hiện chiến dịch “đi tắt, đón đầu”, học tập những thành tựu khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước trên thế giới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh.

3. Kết luận

Trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức hiện nay, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị, chúng ta cần khai thác học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là một hệ thống lý luận phong phú và sâu sắc về kinh tế thị trường nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội trong nền kinh tế tri thức. Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác luôn là cơ sở lý luận cho sự vận dụng vào quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 
  2. Đỗ Lộc Diệp, (2003), Chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
  3. Đỗ Lộc Diệp(2003), Chủ nghĩa tư bản ngày nay: mâu thuẫn nội tại, xu thế, triển vọng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

The surplus value theory and its values in the knowledge economy

Master. Nguyen Thi Anh Khuyen

Faculty of Law, University of Quang Binh

ABSTRACT:

The surplus value theory is one of Karl Marx’s three major contributions to the history. During the shift from the industrial economy towards the knowledge economy, the surplus value theory still has its values. The article summarizes the basic points of the surplus value theory and clarifies the characteristics of the knowledge economy. This article is expected to contribute to affirming the role of the theory in the development of human society in general and in the knowledge economy in particular.

Keywords: Surplus value, knowledge economy, Karl Marx.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 16, tháng 7 năm 2020]

(còn tiếp)

“một câu hỏi “:

Thu lợi qua giao dịch chứng khoán của “kinh tế thị trường định hướng XHCN(!) hiện nay có “BÓC LỘT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ KHÔNG”??? khi không sở hữu tư liệu sản xuất(máy móc,đất đai…) mà chỉ là tiền(chứng khoán) và nước bọt……

TC

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.