Đỗ Mậu :”Sinh vi tướng (cướp), tử vi thần (trùng)”theo Lê Triết

Tài liệu đọc giữa mùa ôn dịch cúm Tàu

Vĩnh biệt LÊ TRIẾT

Posted on July 15, 2011 by hoanglanchi

ông bà nhà báo(VNTP) Lê Triết

Chiếc lá cô đơn trên nhánh cây văn chương vỗ mặt

Tôi không quen ông, và chỉ biết mặt ông khi thấy hình hai ông bà kèm vớibản tin ông bị ám sát in trên các báo. Tôi có đọc ông một thời gian, nhiềubài ông viết sôi nổi, sâu sắc, lôi cuốn, nhưng cũng có lắm điều ông viết tôi cho là qúa đáng. Tôi thường có thói quen mỗi khi cầm tờ Văn Nghệ TiềnPhong là tìm đọc mục “Ngày Lại Ngày” của ông trước nhất, và nhiều khi chỉ đọc một mục đó. Tuy không theo dõi thường xuyên các bài ông viết trong thờigian hai năm gần đây nhưng tôi vẫn tin chắc một điều như đinh đóng cột: ônglà một người chống cộng cương quyết, tích cực và bền bỉ.

Tập thể người Việt quốc gia ở hải ngoại chưa nguôi cơn xúc động về sự vĩnh viễn ra đi của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, hồi cuối tháng 8/90, thì nay lạiphải trải qua cơn xúc động do cái chết của ông. Vụ ám sát ông Lê Triết, bút hiệu Tú Rua, là một bất ngờ kinh hoàng và bi thảm. Nó không chỉ gây rúng động trong giới người viết báo mà còn gây xúc động mạnh trong giới người đọc. Và chắc chắn nó gây một thiệt thòi cho công cuộc chống cộng chung, vì ông là người có nhiều kinh nghiệm và kiến thức chuyên biệt tốt cho công cuộc này.

Ông không chỉ là một ký gỉa có tài, có quyết tâm, có lập trường chống cộng kiên quyết mà còn là một người cầm bút can đảm. Trong dòng văn chương chỉ trích gay gắt, sỗ sàng, sống sượng – mà tôi gọi là văn chương vỗ mặt – ông là một kiện tướng, và là kiện tướng số một ở hải ngoại trong mười năm qua.

Dòng văn chương vỗ mặt được hình thành rực rỡ, ngoạn mục khi người Pháp đặt nền đô hộ ở nước ta. Những nhố nhăng giao thời đã làm ngứa mắt những TúXương, Phan Điện, Huyện Móm, Kép Trà,… do đó có những bài thơ sỗ sàng, gay gắt  tả việc, chửi đời. Nó được tiếp nối và được tăng cường bằng các bài văn xuôi của một số cây viết châm biếm của các báo Tân Dân, Phong Hóa, CôngDân, Vịt Đực,… trong văn học tiền chiến. Phải đợi tới sau khi đất nước bị phân đôi, năm 1955, và sự xuất hiện của những tay cự phách Chu Tử, Thương Sinh, v.v.. nó mới được phát triển và thăng hoa. Tuy nằm trong ngành văn chương trào phúng nhưng văn chương vỗ mặt đặt nặng phần chỉ trích hơn là hài hước, châm biếm. Nó sỗ sàng, sống sượng, chỉ trích trực tiếp người và việc. Tác dụng của nó tích cực, gây hiệu qủa và phản ứng tức thời. Và chắc chắn nó gây thù ghét, tạo nhiều kẻ thù cho người viết. Cho nên chỉ có những kẻ can đảm mới dám xông pha vào lãnh vực này. Dĩ nhiên can đảm không chưa đủ, nó còn đòi hỏi người viết có văn tài, có trí nhớ, có kiến thức, từng trải, biết nhiều chuyện, và say mê làm sạch xã hội. Trong đám nhữngngười cầm bút có các điều kiện nêu trên, ít kẻ dám kết duyên bền chặt với nó. Bởi lẽ hậu quả hại thân, do nó gây ra, gần như khó tránh. Đã có nhiều chứng nghiệm cho phát biểu này: Chu Tử bị bắn vỡ quai hàm, Đạm Phong bị hạ sát, Duyên Anh (bút hiệu Thương Sinh, Thập Nguyên) bị đả thương liệt mộtcánh tay, và nay Lê Triết bị ám sát. Những người vừa kể đó, trừ ông Đạm Phong, đều là những cây bút sắc sảo, cự phách; chưa kể Chu Tử và Duyên Anh còn là những nhà văn hàng đầu của văn học miền Nam thuở trước.

Trên thân cây văn chương có ngành văn chương trào phúng, và từ ngành văn chương trào phúng có nhánh cây văn chương vỗ mặt.

Những nhố nhăng của cuộc phân đôi đất nước năm 1955 đã làm ngứa mắt nhiều người và nảy sinh những kiện tướng cho ngành văn chương trào phúng miềnNam: Thần Đăng, Mai Nguyệt, Hiếu Chân, Tiểu Nguyên Tử, Sức mấy, Tú Xe, Tú Kếu, Tư Trời Biển, Kiều Phong,… và dĩ nhiên hai cây bút lẫy lừng của nhánh văn chương vỗ mặt Chu Tử, Thương Sinh.

Những nhố nhăng của cuộc đổi đời 1975 đã làm ngứa mắt nhiều người, nhưng than ôi, hàng ngũ những tay viết trào phúng cự phách chẳng có bao nhiêu, và trên nhánh cây văn chương vỗ mặt e rằng chỉ có chiếc lá cô đơn Lê Triết!

Người ta có thể không ưa, có thể khó chịu, có thể bất bình, có thể ghét hận lối chỉ trích cay nghiệt, sỗ sàng, qúa đáng của Tú Rua; người ta có thể bắt lỗi ông đã lạm dụng ngòi bút, lợi dụng một cơ sở báo chí có nhiều độc gỉa để áp đảo nhiều người; nhưng người ta cũng phải nhận rằng, với sức mạnh của ngòi bút, ông đã dẹp được nhiều nhố nhăng, quét được nhiều rác rưởi, xuađược nhiều ruồi nhặng cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Người ta cũng không thể phủ nhận tinh thần chống cộng tích cực, bền bỉ và lòng cương quyết đi theo con đường tự vạch của con người hăng hái đó.

Vĩnh biệt ông, chiếc lá cô đơn trên nhánh cây văn chương vỗ mặt. Vĩnh biệtLê Triết, người ký gỉa can trường và khí phách.

Những giọt nọc độc nhả trên một tử thi.

Quyền nói  của nhà báo Tú Rua – cái quyền tối cần thiết của con người sống trong một xã hội dân chủ, tự do như Hoa Kỳ, cái quyền một danh nhân xứ này đã nói “tôi không đồng ý với điều anh phát biểu nhưng tôi sẽ tranh đấu tới hơi thở cuối cùng để bảo vệ cho anh được quyền phát biểu”đã bị bạo lực thủ tiêu.

Tú Rua đã vĩnh viễn nằm xuống, đã vĩnh viển không nói nữa! Những khen, chê, thù hận, rủa xả đối với ông bây giờ đều vô ích. Khen, chê bâygiờ là chuyện của người còn nói được, viết được. Những người còn nói được,viết được thường bỏ qua lỗi lầm của kẻ đã chết và khinh bỉ những kẻ đánh người ngã ngựa. Họ nghĩ gì về hành động của những kẻ đâm những nhát dao phụ họa trên một tử thi  (chữ nghĩa tuyệt vời của ông Mõ Làng mà tôi xin phép mượn ở đây).

Khi Tú Rua còn sống, còn ngạo nghễ  thống lĩnh mục Ngày Lại Ngày trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong như ông có lần viết dỡn, nhiều kẻ bị ông chỉ trích đã ngậm miệng. Nhưng khi ông vừa mới giã từ cuộc chơi thì dăm ba kẻ đã hè nhau vác dao đâm vào một Tú Rua không còn nói nữa!

Khi còn sống đã nhiều lần Tú Rua viết cay nghiệt, thái qúa, và nhiều khi ngoan cố, gây bực tức, uất hận cho người bị chỉ trích, nên nói ông “có nhiều kẻ thù” là điều có thể chấp nhận, chỉ cần kiếm được hơn mộtngười oán hận Tú Rua là đủ minh chứng. Dĩ nhiên không kể bất cứ tên cộng sản nào, vì cộng sản là kẻ thù rõ ràng và truyền đời của ông mà mọi người đã biết. Nói rằng đôi khi ông đã lạm dụng ngòi bút, lạm dụng quyền truyền thông cũng có thể không ngoa, chỉ cần chịu khó đọc lại đống bài ông viết trên 10 năm qua người ta sẽ tìm thấy không khó một vài bài ông lạm dụngngòi bút. Nhưng nói ông “có nhiều kẻ thù hơn bạn”  là một phát biểu liên hệ đến thống kê, minh chứng cho nó rất khó, nếu không muốn nói là không thể thực hiện được, vì người phát biểu phải biết hết tên những kẻ tự nhận là kẻ thù của Tú Rua và những người tự nhận là bạn của ông ta, và con số kẻ thù  phải nhiều hơn con số bạn hữu của ông. Người thận trọng không ai dám nói thế. Người làm nghề phụ tá pháp luật, vì sự cẩn trọng của ngôn ngữ và nghề nghiệp, càng không ai dại gì nói thế. Khi cáo buộc nạn nhân của một vụ án mạng thì người ta lại càng phải uốn lưỡi thêm nhiều lần trước khi phát biểu.

Vậy mà có kẻ làm nghề luật sư, thấy nạn nhân Tú Rua bị ám sát dã man đã vộivàng nhỏ ra mấy giọt cáo buộc vào tử thi của ông ta. Dấu làm chi, nói huỵ chtoẹt ra cho rồi: ấy là bà luật sư Mỹ Linh Soland, một kẻ có học, tôi nói có học chứ không phải trí thức, hai ngày sau khi Tú Rua bị ám sát đã tuyên bố với báo Washington Post: “Ông ta đã lạm dụng quyền truyền thông, ông ta có nhiều thù hơn bạn.” (“He abused the previlege of the media. He had more enemies than friends.” Washington Post 24-9-1990). Ái chà,người đẹp sao nỡ mở miệng hoa nói lời độc địa!

Những cáo buộc gay gắt và một lời vu khống tồi tệ nhất đối với Tú Rua đến từ tiến sĩ Nguyễn Ngọc Bích, một kẻ có học, tôi cũng nói ông ta là kẻ có học chứ không phải một nhà trí thức, ông ta là một nhân vật tai mắt ở thủ đô Washington D.C, đối với cộng đồng người Việt cũng như chính quyền Hoa Kỳ ở địa phương đó. Tiến sĩ Bích nói với báo Washington Post ngày 25-9-1990 như sau: “He was a gadfly. He never left anybody alone. He attacked many people. Almost poeple of prominence would not have escaped his pen… He would not even spare religious community, saying things like, ‘the Pope has a girl friend’.. He made a lot of people unhappy.”

Nào ta thử xét xem ông Bích xỉ vả, cáo buộc, vu khống Tú Rua ra sao?

– Câu 1: “Ông ta là một thứ nhặng xị.” Đây là một câu chửi người đãchết, xin bỏ qua, để cho người đã chết nghe!

– Câu 2: “Ông ta không bao giờ để yên bất cứ ai.” Đây là một cáo buộc qúa mạnh. Tú Rua qủa thật không để yên một số khá đông người, một trong nhữngkẻ bị Tú Rua không để yên – nhiều lần – là ông Nguyễn Ngọc Bích! Chẳng hiểuvì sao, sinh thời ông Tú Rua cứ cố dán cái nhãn “trường phái dịch thuật biển dâu – mulberry sea” lên trán ông tiến sĩ Bích. Kể ông Tú Rua cũng qúa đáng thật, người ta đã biết dịch lỡ rồi, thì thôi, khổ lắm, cứ bêu riếu mãi! Nhưng cáo buộc ông Tú Rua không bao giờ để yên một ai là cáo buộc qúa đáng. Ông ta có để yên nhiều người đấy chứ. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại có cả triệu người, ở rải rác khắp năm châu, làm sao ông ta làm phiền hết được? Chỉ những anh tư cách, tài cán chẳng bao nhiêu, lại ở gần ông ta, bị ông ta biết rõ tẩy, mà dám nhẩy ra lập tổ chức, xập xí xập ngầu, tính đốt giai đoạn leo luôn lên địa vị lãnh đạo, đại diện cộng đồng người Việt ở hải ngoại mới bị ông ta hỏi thăm hơi nhiều đấy chứ?

– Câu 3: “Ông ta tấn công nhiều người.” Cáo buộc này có thể đúng, nội vùngWashington D.C Tú Rua cũng đã tấn công dăm ba kẻ, mà ông Nguyễn Ngọc Bích là một, (những kẻ khác xin phép không nêu tên để khỏi làm phiền). Tuy nhiên, tấn công nhiều kẻ có thể bậy hay không. Đối với những tên bắng nhắng, lưu manh, vô lại, lợi dụng danh nghĩa đại diện cộng đồng để mưu tư lợi, có hành động làm mất danh dự chung của người Việt, hay làm hại cho công cuộc phục hưng đất nước, thì việc ông Tú Rua tấn công chúng chẳng có gì sai, ngược lại còn là cần thiết, là bổn phận của một nhà báo có ý thức về chức năng của mình.

– Câu 4-5: “Hầu hết các nhân vật nổi tiếng đều không thoát khỏi ngòi bútcủa ông ta…Ông ta không tha cả cộng đồng tôn giáo, nói những điều như “Đức Giáo Hoàng có girl friend” …” Đây cũng là một cáo buộc qúa mạnh, và là một câu nói thiếu uốn lưỡi của một kẻ có học, lại xin nhắc có học chứ không phải trí thức. Ông Bích nói “hầu hết”, nghĩa là thành phần những nhân vật nổi tiếng không thoát khỏi ngòi bút của Tú Rua phải nhiều hơn thành phần may mắn thoát được. Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Bích có là một nhân vật nổi tiếng hay không? Nếu có thì có lẽ do lòng khiêm nhượng ông đã để mình ra ngoài, và chỉ dẫn chứng một nhân vật bị ông Tú Rua chỉ trích là Đức Giáo Hoàng, nhưng một người thì không thể tuyên bố là “hầu hết” được! Đáng tiếc là khi nêu có  một  nhân vật nổi tiếng để dẫn chứng, ông Bích lại dẫnchứng… sai! Có người đã trách đây là một câu nói ông Bích vu oan gía họa cho một xác chết, đã đoan chắc là Tú Rua không hề “nói” Đức Giáo Hoàng có”girl friend”, và thách thức ông Bích trưng bằng cớ. Người đó là ông ĐinhTừ Thức, trong bài viết trên tờ Ngày Nay, của ông Lê Hồng Long ở Kansas (số 84, trang 20, cột 3). Nhắc dùm ông Bích: Tú Rua “nói” khác với Tú Rua “nhắc lại lời người khác nói”, để nếu có muốn đáp ứng thách thức trên, ông nên dẫn chứng cho cẩn thận. Nhắc thêm: ông Bích cần lên tiếng đáp lại điều thách thức này. Nếu có bằng chứng thì trưng ra, nếu không thì lên tiếng mà tạ lỗi với vong linh kẻ đã khuất, kẻo không sẽ mang tiếng là  nhỏ những giọt cáo buộc độc địa trên một tử thi! Người danh tiếng mà bị mang tiếng thì còn gì là danh nữa!

– Câu 6: “Ông ta đã làm nhiều người không vui.” Trong 6 câu ông Bích phát biểu chỉ có câu này là không chê vào đâu được, qủa thật sinh thời ông Tú Rua đã làm ít nhất 2 người không vui là luật sư Mỹ Linh Soland và ông tiến sĩ Nguyễn Ngọc Bích. Hai là nhiều rồi! Bình phẩm thêm: từ sau ngày 22/9/1990, ngày Tú Rua vĩnh du cõi khác, dường như hai vị kể trên vui nhiều rồi!

Nhưng cáo buộc, vu oan Tú Rua là… “quyền nói” của bà Mỹ Linh và ôngNguyễn Ngọc Bích!

Văn Nghệ Tiền Phong muốn bênh vực ký gỉa Tú Rua có thể yêu cầu bà Mỹ Linh công khai nêu tên những ai nhận là kẻ thù của ông Tú Rua, rồi yêu cầu những thân hữu hoặc một số độc gỉa trung thành, minh danh nhận là bạn của ông ta để phản chứng điều bà Mỹ Linh cáo buộc. Gia đình ông Tú Rua vì danh dự của người nằm xuống cũng có thể làm điều tương tự.

Văn Nghệ Tiền Phong và gia đình ông Tú Rua cũng có thể làm những điều tương tự đối với những cáo buộc và vu oan do ông Nguyễn Ngọc Bích phát biểu.

Còn ông Tú Rua nay đã đi chơi cõi khác, những tuyên bố này nọ đối với ôngkhông còn quan trọng, nhưng nó quan trọng đối với những đồng nghiệp của ông. Những kẻ khi hay tin ông bị thảm sát đã nhanh chóng ra văn thư  “Đòi hỏi nhà cầm quyền Hoa Kỳ phải điều tra tới nơi, tới chốn các vụ ám sát người cầm bút qua các trường hợp: ký gỉa Đạm Phong của tuần báo Tự Do (Houston, Texas); Ký gỉa Hoài Điệp Tử của Tuần báo Mai (Wesminster,California); hai ký gỉa Đỗ Trọng Nhân và Lê Triết của bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong (Washington D.C)” (nguyên văn điều quyết nghị số 2 trong “KhángThư Của Các Cơ Quan Truyền Thông Miền Nam California Về Vụ Khủng Bố Ám Sát Người Cầm Bút).

Những vụ Đạm Phong, Hoài Điệp Tử, Đỗ Trọng Nhân,… còn đang được điều tra hay đã bị xếp vào bóng tối vì thiếu manh mối, chẳng ai rõ, nhưng vụ Tú Rua LêTriết thì hy vọng có phần nào manh mối! Có kẻ đã tuyên bố: “ông ta có nhiều thù hơn bạn”. Không biết những kẻ thù, và bạn, của Tú Rua thì làm sao đếm được con số kẻ thù và con số bạn để mạnh miệng nói như thế? Các nhà báo đòi hỏi nhà cầm quyền Hoa Kỳ điều tra tới nơi tới chốn vụ ám sát ký gỉa Tú Rua còn đợi gì mà không liên lạc với nữ luật sư Mỹ Linh để xin bảng danh sách những kẻ thù của Tú Rua? Đó là manh mối khởi sự, biết đâu đó chẳng là tài liệu hữu ích cho cuộc điều tra của nhà chức trách? Đề nghị qúy vị nên sốt sắng như qúy vị đã sốt sắng làm “kháng thư” vậy.

*

Mọi người đều mong mỏi chính quyền Hoa Kỳ sẽ tìm ra thủ phạm vụ ám sát ôngbà Tú Rua. Nhưng vạn nhất nếu cuộc án mạng rồi cũng sẽ bị chìm vào lãng quên, như những vụ khác, thì chúng ta chỉ còn đành ngậm ngùi chia sẻ nỗiđau đớn với gia đình ông Tú Rua Lê Triết và báo Văn Nghệ Tiền Phong. Riêng kẻ viết bài này xin được kêu một tiếng kêu trầm thống:

“Ối ông Tú Rua ơi! Ông vừa mới bỏ đi chơi cõi khác là ruồi nhặng đã bắt đầu vo ve rồi kia kìa. Mai đây rác rưởi đầy xã hội, sâu bọ nhung nhúc đầy đường lấy ai là người can đảm đứng ra mà quét chúng, ối ông Tú Rua ơi, là ông Tú Rua ơi!”

Thiện Nhân (tháng 10/90)

Đõ Mậu,xuất thân từ lính lệ(khố xanh)

Lê Triết và phu nhân

Bài viết của Lê Triết


Đỗ Mậu: Kẻ bán thầy lấy lon.

Thưa ông Lê Kinh Luân,

Tài liệu lịch sử như sách, báo v.v… thường được hình thành qua hai cách: tham khảo từ tài liệu khác hoặc do nhân chứng kể lại. Còn vấn đề chính xác của tài liệu hay vô tư của nhân chứng thì xin ông cho biết làm sao khẳng định tài liệu nào chính xác hoặc nhân chứng nào vô tư ; nếu ca ngợi bừa bãi Đỗ Mậu là chính xác, còn vạch chân tướng phản chủ, hại thầy của Đỗ Mậu là không vô tư phải không ông? Những mẫu tự <> chỉ là địa chỉ e-mail mà tôi đã dùng cả chục năm qua, không phải là điều ông cần quan tâm, ông nên có ý kiến về nội dung bài viết của tôi tốt hơn là lái sang cái địa chỉ e-mail nầy. Tôi mạn phép đưa email của ông lên diễn đàn với chủ đề Đỗ Mậu như sau đây:  Thật buồn cười cho ông, để bênh vực Đỗ Mậu, ông bảo tôi nên đọc hồi ký của… Đỗ Mậu, chẳng khác nào ông bênh vực Hồ Chí Minh mà bảo tôi nên đọc quyển Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tác giả Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh!. Về các hồi ký, nói chung tôi bảo đảm với ông rằng nếu ông Dương Vă n Minh và Nguyễn Vă n Thiệu viết hồi ký thì chắc chắn VNCH sụp đổ là do… ông Trời; ông Trời đích thị là thủ phạm, còn Minh, Thiệu thì vô can! Trong các hồi ký, có viên tướng lãnh hoặc ông chính khách VNCH nào ngu xuẩn nhận trách nhiệm làm tiêu tùng miền Nam Việt Nam đâu, trong đó có cả Đỗ Mậu?
Đỗ Mậu nhỏ học dốt, lớn viết hồi ký.

Người ta ngờ rằng AI đó viết giùm các tác phẩm cho Đỗ Mậu vì viên tướng gốc lính khố xanh này học lực có bao nhiêu? Người ta cũng ngờ rằng Đỗ Mậu có thể là em ÚT của Đỗ Mười vì cha mẹ đông con quá nên tới khi sanh đứa con thứ 11 thì đặt là tên Đỗ  MẬU (Mậu có nghĩa là hết, dứt như mậu binh, mậu lúi!). Cùng huyết thống với tay thiến heo Đỗ Mười nên Đỗ Mậu học hành cũng chẳng ra chi, may mắn được TT Diệm trọng dụng, cho leo dần lên 3 mai bạc là quá ưu đãi. TT Diệm rất tin cẩn sự trung thành của Đỗ Mậu, giao chức Giám Đốc An Ninh Quân Đội mà không nhìn thấy sau gáy của Đỗ Mậu có phản cốt (tức cục xương phản chủ, giống Ngụy Diên thời Tam Quốc) đến nỗi ông bị thảm sát bởi đám “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963”.Tuy dốt nát nhưng Đỗ Mậu đã lập công lớn… phản chủ, phản thầy, được đám “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” cho lên Tướng ngay trong ngày anh em TT Diệm bị thảm sát. Rồi chỉ mấy tháng sau, dù học vấn không đầy lá mít Đỗ Mậu vẫn được giữ chức … Phó thủ tướng đặc trách Văn hóa-Xã hội! Thảo nào VNCH sụp đổ!   
CSVN in và bán sách của Đỗ Mậu: Truy tầm trên mạng, người ta thấy sách của Đỗ Mậu được VC trong nước in và bán. Một dẫn chứng điển hình: NXB Công An Nhân Dân xuất bản quyển Hồi ký Hòanh Linh Đỗ Mậu, Tâm  Sự Tướng Lưu Vong, giá bán 70.000 đồng VN.

Và đây là Lời Giới thiệu của Công ty Phát hành Sách T/p HCM (FAHASA): Hoành Linh Đỗ Mậu, do những đặc điểm có lợi thế riêng đã có cách nhìn, cách nghĩ khá độc đáo và phần nào xác thực nên qua hồi ký của ông, chúng ta có thể tham khảo để xem xét thêm những chuyện diễn ra phía bên kia trận tuyến của một giai đoạn lịch sử chống ngoại xâm quan trọng của đất nước mà chúng ta còn cần tiếp tục nghiên cứu. Qua tập hồi ký, bạn đọc sẽ có thêm một tài liệu tham khảo về con người, sự việc, một bức tranh sinh động về đời sống chính trị- xã hội miền Nam Việt Nam trước 1975. Việt Cộng và bọn Thân Cộng chia buồn cái chết của Đỗ Mậu: Website của nhóm Giao Điểm (Phật Giáo thân Cộng) mở trang tưởng niệm Đỗ Mậu, danh sách ghi rõ:- Phân ưu của nhóm chủ trương và các tác giả GĐ– Thượng tọa Pháp Châu – Viện chủ chùa PGVN.– Nguyễn Hữu Hoạt, chủ nhiệm báo Dân Quyền, Oklahoma, Hoa Kỳ.– Nguyễn Mạnh Quang, nhà viết sử.– Thượng tọa Tuệ Sỹ từ VN phúng điếu– Đồng phân ưu của hai nhà văn H.P. Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân– “Đôi dòng tưởng niệm” của gs. Trần Chung Ngọc– Hồng Quang phúng điếu– Luật sư Nguyễn Hữu Liêm và gia đình– Nhà văn Trần Kiêm Đoàn cùng gia đình và thân hữu– Hòa Thượng Thích Mãn Giác, Hội chủ Tổng Hội PGVN tại Hoa kỳ.

Đỗ Mậu khoe khoang và khóac lác:

Chế độ Diệm phải tiêu tan để từ nay quân dân miền Nam có thể ngẩng đầu không thẹn với non sông……Cho nên khi làm tròn nhiệm vụ vì dân vì nước đó trong những ngày đầu của tháng 11 năm 1963, quân đội đã được quần chúng tin tưởng và thương yêu đến độ “Hồ Chí Minh cũng phải công nhận cái uy tín lớn lao của tướng Minh và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng”.Và tại Hà Nội, cấp lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt đã phải ý thức rằng: “… các tướng lãnh đã được nhân dân tin tưởng trao trọn quyền hành và tin rằng họ độc lập hơn gia đình Diệm-Nhu, vốn đã hành xử như một dụng cụ dễ bảo của chính sách Mỹ. Hà Nội đã lý luận một cách đơn giản: ai lật đổ chế độ bù nhìn thì không thể là bù nhìn được. Hà Nội biết được uy tín lớn lao của các tướng lãnh trong quần chúng từ nhiều nguồn tin khác nhau kể cả từ bản phúc trình của tôi”  (Việt Nam Khói Lửa Quê Hương Tôi, Đỗ Mậu, Chư ơng 17).Thực tế, chế độ quân phiệt sau ngày cướp chính quyền 1-11-1963 đã làm cho Đệ II VNCH hòan tòan mất chính nghĩa. Đám “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” trở thành những tên tay sai trung thành của Mỹ, hay giành ăn, tranh công, gây nên những xáo trộn chính trị liên miên. Miền Nam Việt Nam nhanh chóng biến thành chiến trường của hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ và quân đội Bắc Việt trong giai đọan gọi là  “Mỹ hóa” chiến tranh Việt Nam. Xã hội thời Đệ II VNCH đảo lộn nền móng đạo đức, bọn đĩ bợm và ác tăng lên ngôi, dìm đám “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” xuống hạng bét: Nhất Đĩ, Nhì Sư Tam Cha, Tứ Tướng!

Đỗ Mậu bị thất sủng:

 Đỗ Mậu lên đến tột đỉnh danh vọng, vượt quá sự mơ ước của một anh lính khố xanh Pháp thời xưa, học lực lớp ba trường làng, một sớm mọt chiều đổi đời lên Tướng và có chức trọng quyền cao Phó Thủ Tướng đặc trách Văn hóa-Xã hội. Nhưng Đỗ Mậu được vinh hiển không bao lâu thì bị các đồng đảng hạ bệ cái rụp, cho về vườn (giải ngũ). Đỗ Mậu uất ức, cao đầu mặc áo lam Phật tử, gia nhập đám ác tăng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (phe Ấn Quang), đi đầu đòan biểu tình, cầm bảng chống… độc tài Nguyễn Khánh gần Ngã Sáu Sàigòn.Cảnh sát Dã chiến mạnh tay hốt đòan biểu tình, trói gô Đỗ Mậu như trói một con heo, quăng lên xe thớt, chạy ra ngọai ô Saigon , đạp xuống đường! Ôi thời oanh liệt nay còn đâu, thật nhục nhã cho Đỗ Mậu kẻ tư xưng là một thành viên quan trọng trong đám “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963”, nay bị đạp đít cái rột từ phó thủ tướng xuống…phó thường dân, nằm chỏng gọng trên xe thớt giữa trung tâm thủ đô Saigon của một thời ông ta hét ra lửa, mửa ra khói!
Đỗ Mậu bán thầy lấy lon: Với chức vụ Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội, Đỗ Mậu biết rõ sẽ có đảo chánh lật đổ Đệ I VNCH, nếu Đỗ Mậu trình lên TT Diệm thì cuộc đảo chánh có thể thất bại từ trong trứng nước. Như vậy Đỗ Mậu chắc chắn vừa lên Tướng lại vừa trả ơn TT Diệm.Đỗ Mậu làm nghịch lại, chủ động tìm đồng đảng thực hiện cướp chính quyền Đệ I VNCH ngày 1-11-1963. Đảo chánh thành công Đỗ Mậu cũng được lên Tướng mà tương lai binh nghiệp sẽ sáng lạn vì thóat khỏi sự kềm chế của TT Diệm. Đỗ Mậu còn trả được mối hận khôn nguôi trong lòng đối với TT Diệm. Trong Hồi Ký, Đỗ Mậu tự nhận mình là thành phần quan trọng trong cuộc đảo chánh là đúng: Giả dụ trước đây TT Diệm gắn cho Đỗ Mậu hai sao thì tình hình VNCH đã có thể đổi khác, vì chưa chắc xảy ra ngày 1-11-1963!
Đỗ Mậu nhỏ nước mắt cá sấu:

Khi cuộc đảo chánh sắp xảy ra mà thế nào Đỗ Mậu cũng biết sẽ gây phương hại đến sinh mạng TT Diệm. Nếu Đỗ Mậu còn nghĩ tình thầy trò với TT Diệm thì Đỗ Mậu bằng mọi cách thuyết phục đám “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” đừng giết TT Diệm. Nhưng hai ngôi sao sáng chói trên cổ áo đã làm Đỗ Mậu đánh mất lương tâm, bây giờ lại giở giọng xót thương trước thi hài TT Diệm thì càng chứng tỏ Đỗ Mậu là tên ba que xỏ lá, bắt chước cá sấu nhỏ vài giọt nước mắt sau khi thịt xong con mồi!
Đám tướng lãnh ngày 1-11-1963 có yêu nước không? Nhiều chiến hữu lấy làm khó chịu khi tôi gắn liền hai chữ yêu nước với các tướng lãnh thi hành cuộc cướp chính quyền Đệ I VNCH ngày 1-11-1963. Theo họ, đám tướng lãnh nầy yêu đô la, chứ yêu nước yêu nôi gì; họ đã làm theo lệnh quan thầy thái thú Henry Cabot Lodge mà thôi.Đúng vậy, sau khi tiêu diệt được anh em TT Diệm, làm tiêu Đệ I VNCH theo đúng kế họach của Mỹ, đám tướng lãnh nầy, trong đó có Tân Thiếu Tướng Đỗ Mậu, hả hê thấy hiện tại đã có tiền và tương lai tiền (đô la) từ Mỹ ví như NƯỚC sẽ vô tràn túi nên gọi yêu nước, có nghĩa là yêu đô la Mỹ nên ngày 1-11-1963 cũng có thể gọi là ngày ô nhục, là một vết đen đậm trong Quân Sử VNCH.Còn gọi ngày nầy là ngày cách mạng có nghĩa là đám tướng lãnh nầy đã cách cái mạng anh em TT Diệm và bao nhiêu chiến sĩ và đồng bào vô tội khác, rồi sau đó dẫn dắt dần miền Nam Việt Nam vào tử lộ vào ngày 30-4-1975. Nhưng chứng nào tật nấy, một số trong đám “tướng lãnh yêu ĐÔ LA ngày 1-11-1963” ra hải ngọai còn rán múa may quay cuồng, làm hề dễu dở, bị khán giá la ó bảo về nhà với con cháu, yên phận già để chờ ngày xuống địa ngục, trả lời Diêm Vương cái tội phản dân hại nước. Chào ông,Tuấn Phan

— On Sun, 11/2/08, Le Kinh Luan  wrote:
From: Le Kinh Luan 
Subject: Tài Liệu về ông Đỗ Mậu
To: ddpghh@yahoo.com
Date: Sunday, November 2, 2008, 9:43 PM

Ông nên đọc đoạn dưới đây trích từ trong sách “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” để biết rõ hơn để biết rõ hơn về mối liên hệ giữa ông Diệm và ông Đỗ Mậu. Xin ông cẩn thân hơn đừng dùng tài liệu không chính xác hay chỉ nghe nói lại rồi viết thì vừa hại uy tín caủ ông vừa hại cho diển đàn PGHHCám ơn ông.    Trích VN Máu Lửa Quê Hương Tôi của Đỗ Mậu . Tôi về nhà, nằm xuống cố chợp mắt để bù lại một đêm thức trắng căng thẳng hôm qua nhưng vẫn không ngủ được vì những hình ảnh sống động và hân hoan của dân chúng Sài Gòn. Bốn giờ chiều, tôi quyết định trở lại Bộ Tổng Tham mưu. Khi xe ngừng trước công thự chính, tôi thấy một chiếc thiết vận xa đậu xéo trên sân cỏ, cửa sau mở toang, tôi hối hả bước đến gần thấy xác hai ông Diệm Nhu nằm giữa sàn xe.Nhìn thi thể ông Diệm tôi sững sờ và không tin đó là sự thực, đó là kết quả của quyết định sáng hôm nay của các tướng lãnh sau khi tôi, Thiện và Khang bỏ về. Tôi đứng yên rưng rưng nước mắt rồi đưa tay chào vĩnh biệt người lãnh tụ đã cùng tôi kết ước từ hơn hai mươi năm về trước. Càng thương ông Diệm tôi càng căm giận tập đoàn Cần Lao Công Giáo và những người anh em ruột thịt của ông, vì chính họ đã làm cho ông và tôi tan vỡ mộng ban đầu. Rồi tự hỏi ngày nay tôi thương khóc ông nhưng rồi đây, mai sau, 10 năm, 100 năm, 300 năm nữa thiên hạ ai người nhỏ lệ khóc thương tôi ?   2-11-1963: Ngày TỨ MÃ phân thây.Trong bài hôm qua “1-11-1963: Cách mạng hay cướp chính quyền?”, tôi có đề cập danh từ CÁCH MẠNG mà không định nghĩa nó là gì, chỉ đưa thí dụ nên có thể không làm sáng tỏ vấn đề một cách trọn vẹn! Thật ra danh từ này không có ý nghĩa gì cao siêu khó hiểu, chẳng qua là hành động làm thay đổi một tình trạng hiện tại thành một tình trạng khác hay hơn, tốt hơn, ích lợi hơn trong nhiều lãnh vực. Thí dụ, về khoa học thì có cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật thì có cách mạng kỹ thuật, về tư tưởng thì có cách mạng tư tưởng v.v…, thậm chí ngay cả con người thì có cách mạng bản thân.Xem đó, cách mạng không chỉ hạn hẹp ở lãnh vực chính trị; và theo tôi biến cố 1-11-1963 đưa đến tình trạng xáo trộn trầm trọng về chính trị, suy đồi về đạo đức xã hội của Đệ II VNCH nên không thể gọi là cách mạng, đúng hơn là một cuộc đảo chính quyền, ngay cả có thể gọi là một vụ cố sát có chủ mưu! Nạn nhân của vụ cố sát có chủ mưu nầy là hai anh em ông Diệm và ông Nhu bị giết tàn nhẫn trong ngày ngày nầy của 43 năm trước.Ai giết họ? Tổng quát là bốn phe giết họ mà tôi ví von là TỨ MÃ thi hành bản án PHÂN THÂY thì họ vô phương thóat khỏi: Mỹ, VC miền Bắc, Thầy Chùa phe Ấn Quang (tiền thân của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và đám “Tướng Lãnh yêu nước ngày 1-11-1963”. Họ bị giết cách nào, theo kế họach ra sao v.v… đã được nhiều sách vở tài liệu mô tả đầy đủ nên tôi miễn lập lại. Trong thủ phạm tập thể giết anh em TT Diệm là phe “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963”, lại có hai thủ phạm sát nhân trực tiếp và gián tiếp là Trung tướng Dương Văn Minh và Đại tá Đỗ Mậu, còn Đại úy Nguyễn Văn Nhung chỉ là kẻ thi hành bản án.Hôm nay tôi nói về Đỗ Mậu, ngày khác sẽ nói về Dương Văn Minh. Khi xác hai ông Diệm và Nhu đưa về Bộ TTM thì các “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” đến xem, trong đó có Đỗ Mậu. “Tướng Mậu mô tả: Tôi theo TT Diệm từ năm 18 tuổi, bao nhiêu tình cảm sâu xa giữa tình thầy trò…Thấy xác hai ông tôi không còn khóc được, đau quá…đau đến cùng độ”. (Làm thế nào để giết một tổng thống, Cao Thế Dung & Lương Khải Minh, trang 588). Có thật vậy chăng? Hay là Đỗ Mậu mừng quá, không khóc được vì đã trả xong mối hận riêng tư?Theo người hiểu chuyện kể rằng:Đỗ Mậu đúng là theo phò ông Diệm từ thuở thanh niên, rất trung thành và được ông Diệm xem như con cháu, cất nhắc lần hồi lên tới cấp Đại tá, giao chức Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội. Đỗ Mậu không chịu dừng ở cấp bậc và chức vụ nầy mà nếu không là ông Diệm thì ông ta khó có được nhưng ông ta lại có tham vọng làm… tướng!Có lẽ ý muốn làm tướng của Đỗ Mậu thấu tới tai Đại tướng Lê Văn Tỵ, TTM Trưởng QĐ/VNCH. Đại tướng Tỵ lại đóan rằng TT Diệm cũng muốn cho Đỗ Mậu lên tướng nhưng ngại dư luận nên ông mới đích thân gặp TT Diệm và ngỏ lời đề nghị nếu TT Diệm đồng ý thì ông với quyền hạn TTM Trưởng sẽ ký quyết định thăng cấp cho Đỗ Mậu. Nào ngờ, TT Diệm vốn đối đãi Đỗ Mậu như con cháu nên thẳng thừng nói với Đại tướng Tỵ đại ý: Đỗ Mậu lên tới Đại tá là quá lắm rồi. Hắn quá dốt mà cho hắn lên Tướng thì còn ra thể thống quốc gia gì nữa, ngọai quốc nó cười cho! Lại cái nào ngờ thứ hai làm Đỗ Mậu ôm mối hận khôn nguôi với TT Diệm khi Đại tướng Tỵ, vốn mang tính thẳng ruột ngựa của người miền Nam và nghĩ rằng Đỗ Mậu lúc nào cũng xem TT Diệm vừa là ân nhân vừa là cha mình, nên ông thuật cho Đỗ Mậu nghe nguyên văn lời nói của TT Diệm! Dịp may đưa đến và cũng để giải tỏa mối hận trong lòng, khỏang nửa tháng trước biến cố 1-11-1963, Đỗ Mậu gọi điện thọai cho Tướng Trần Văn Đôn: “Đàn em được biết các đàn anh sắp làm một cú làm ăn rất lớn, cho đàn em tham gia được không?”.Tướng Đôn tóat mồ hôi khi nghe Đỗ Mậu, đương kim Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội xin xỏ tham gia kiểu chết người như vậy, không cách gì hơn là đồng ý. Đỗ Mậu nắm trong tay lon tướng nên hòan tòan im lặng để đám “tướng lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” thi hành bản án Tứ Mã Phân Thây. Quả nhiên, khi bản án thi hành xong, Đỗ Mậu góp công lớn, được lên Tướng ngay!Còn Dương Văn Minh có hận thù gì TT Diệm mà ra lệnh tên cận vệ khát máu Nguyễn Văn Nhung đi theo đòan xe “đón” (?) hay đưa anh em TT Diệm về hưởng nhan Thánh Chúa? Có thể là có, xin để kỳ sau.Ngòai ba con ngựa tham gia phân thây anh em TT Diệm là Mỹ, VC, đám “Tướng Lãnh yêu nước ngày 1-11-1963”, con ngựa thứ tư tuy miệng luôn niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tay lần chuỗi bồ đề nhưng tâm chứa đầy dao găm, mã tấu, lựu đạn kể cả súng…ngựa trời, đó là những tên GIẶC THẦY CHÙA phe Ấn Quang tiền thân của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Vì có góp công lớn làm sụp đổ Đệ I VNCH nên đám ác tăng nầy trở thành kiêu tăng, ngồi trên đầu đám “Tướng Lãnh yêu nước ngày 1-11-1963”, chỉ ở dưới bọn Đĩ trong bảng sắp hạng Nhứt Đĩ, Nhì SưTam Cha, Tứ Tướng!Thành công trong đại cuộc tứ mã phân thây anh em TT Diệm và Đệ I VNCH bằng nhiều cuộc đốt xác người tàn bạo mà bọn ác tăng Ấn Quang dám gọi là…cúng dường đạo pháp (!?), bọn ác tăng Ấn Quang dưới tên mới làGiáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tiếp tục con đường dùng mái chùa thay vì “che chở hồn dân tộc”, chúng che chở bọn trốn lính, cán binh VC nằm vùng cùng dao găm mã tấu, K 54, AK 47 v.v… , quậy nát Đệ II VNCH bằng nhiều cách bẩn thỉu kể cả không ngần ngại đem bàn thờ Phật xuống đường!”Tướng Lãnh yêu nước ngày 1-11-1963″ cũng nghĩ đến công ơn của giặc trọcGiáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong đại công thảm sát anh em TT Diệm và cướp chính quyền Đệ I VNCH nên đối đãi rất nồng hậu, coi như muốn gì được nấy: lập Nha Tuyên Úy Phật Giáo mà Giám đốc có cấp bậc tới Đại tá, còn hàng đống tên giặc trọc trongGiáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được bổ nhiệm làm Tuyên Úy ở các đơn vị quân đội tòan cõi VNCH.Nhưng bọn giặc trọc trongGiáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do được lãnh đạo bởi những tên tuy mang họ Thích nhưng gốc họ… Hồ (Chí Minh) vẫn tiếp tục thi hành lệnh của bọn VC miền Bắc “tranh đấu” cho đến thành công là ngày 30-4-1975. Nhưng sau ngày nầy, giặc trọc trongGiáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cứ tưởng bở bọn VC miền Bắc sẽ sợ chúng  như “Tướng Lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” nên ra sức chống lại VC khi yêu sách của chúng không được thỏa mãn! Và như mọi người đều thấy bọn giặc trọc trongGiáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã tranh đấu như thế nào suốt 33 năm qua mà tên văn nô bồi bút Vi Anh Bùi Văn Nhân dám mở miệng đội Huyền Quang lên …niết bàn, còn Quảng Độ thì để râu tóc bạc phơ trông giống “bác Hồ” hơn là một trưởng tử Như Lai!Nhân hôm nay, ngày chết của anh em TT Diệm cũng là ngày tàn của Đệ I VNCH, tôi đề nghị kẻ nào còn sống sót trong đám “Tướng Lãnh yêu nước ngày 1-11-1963” và trong cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nên có một cử chỉ hối tiếc trước công luận dù là bề ngòai cũng được, về tội lỗi tham gia đại cuộc Tứ Mã Phân Thây ngày 2-11-1963 và 12 năm sau là sự sụp đổ VNCH vào ngày 30-4-1975.Hai phe nầy dùng nghi thức tôn giáo của mình để làm một cái lễ tưởng niệm vong linh hai anh em TT Diệm và vong linh hàng vạn, hàng triệu nạn nhân do hành vi của họ đã trực tiếp hay gián tiếp làm tay sai cho ngọai bang, cho VC, gây hậu quả đau thương cho dân tộc và đất nước Việt Nam.
Mong thay!

Tuấn Phan

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.