Về nữ giáo sư triết gốc Huế Phùng Thăng,em gái cố Ni Sư Trí Hải

Như Không

VỀ PHÙNG THĂNG và PHÙNG KHÁNH, NHỮNG NGƯỜI DỊCH TÁC PHẨM CỦA HERMANN HESSETrần Hoài Thư (Trích)Phùng Thăng (PT) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng sinh năm 1943 tại Huế. Là út trong một gia đình gồm 6 anh chị em. Chị của Phùng Thăng là Phùng Khánh, tức là sư bà Trí Hải. Sư bà Trí Hải tử nạn vào ngày 7-12-2003 trong một tai nạn giao thông, thọ 66 tuổi.

Gia đình Phùng Thăng là một gia đình hoàng tộc và rất mộ đạo Phật. Thân phụ của bà nguyên là giáo sư Hán văn tại trường Pétrus Ký vào những năm 50.

Tuổi thơ của PT lớn lên tại Vỹ Dạ,học tiểu học tại trường Thế Dạ. Lên trung học, học những năm đầu tại trường Trần Hưng Đạo – Đà Lạt, sau đó chuyển ra học tiếp ở trường Đồng Khánh – Huế. Năm 1960, vì Đồng Khánh không có Đệ Nhất nên phải chuyển qua Quốc Học. PT học ban C tức là ban văn chương…

Phùng Thăng học Đại Học Văn Khoa – Huế, ban Triết.Luận án ra trường của chị là Chỉnh lý tư tưởng Tây Phương. Năm 1966, PT trở thành một giáo sư Triết tại trường trung học Trần Quý Cáp – Hội An, lúc chị mới 23 tuổi.

PT dạy một năm tại Hội An. Sau đó vì không chịu nổi không khí chính trị ngột ngạt ở địa phương nên chị và phu quân là ông Trần Xuân Kiêm – nguyên là cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế và đoàn trưởng Phật tử trong thời kỳ Phật giáo tranh đấu – phải rời bỏ Hội An lên nương thân tận Di Linh. Ở đây chị là giáo sư Anh văn của trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc…

Sau đó, chị và Trần Xuân Kiêm chia tay. Trần Xuân Kiêm trở thành Chơn Hạnh, và Phùng Thăng trở thành Huệ Minh. Chị mang con gái trở lại Saigon. Ở đây chị là “single mom”, sống một cuộc sống khó khăn vất vả. Bạn bè đều nghĩ là “Những ruồi” của J. P. Sartre là dịch phẩm cuối cùng của chị, tuy nhiên chị vẫn tiếp tục âm thầm làm việc.

Năm 1973, chị cho ra đời một tác phẩm dịch thuật của Simone Weil mà tựa đề do chị tự chọn. Đó là “Kẻ lạ ở thiên đường”, mà trong phần giới thiệu, hình như chị bày tỏ tất cả nỗi lòng của chị:Qua toàn thể văn phẩm, tâm hồn Simone Weil vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một Quê Hương tâm linh đích thực cho mình.

Đầu tháng 5, 1975, chị dẫn con gái (bấy giờ mới 9 tuổi) tìm đường vượt biên. Chị theo ghe ra đảo Thổ Chu thuộc xã Nam Du với hy vọng được tàu Mỹ đón. Nhưng quá trễ. Quân Pol Pot lợi dụng lúc đảo không còn có chánh quyền, tấn công chiếm đảo vào ngày 10 tháng 5, lùa theo 515 người giải về đất Kampuchea trong số đó có một số người vượt biển.

Kể từ đó, và mãi đến bây giờ, gia đình chị không còn nghe gì đến tin tức của chị nữa. Chị và con gái được xem như mất tích hẳn.Riêng về phía thân nhân của chị, sau một thời gian dài cố tìm tông tích PT nhưng không thành, gia đình chỉ còn cách là dựa vào lời đoán của thầy “ngoại cảm”. Họ lấy ngày 10 tháng 6 năm Ất Mão (l975) làm ngày giỗ mẹ con chị.

Dưới đây là đoạn trích trong Tìm Dấu Phùng Thăng.

“Sau nhiều năm bặt tin, không có tin nào biết đích xác về hai mẹ con. Năm 1981, Trần Xuân Kiêm nhờ một cô bạn tên Hoa lên Đàlạt hỏi Thầy Chiêm.

Và không phải ai đến ông cũng tiếp và coi. Có lần Trần Xuân Kiêm và Trịnh Công Sơn lên coi. Ông chỉ coi cho Sơn về căn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ – Huế, mà không coi cho Trần Xuân Kiêm. Nên Kiêm phải nhờ cô Hoa lên coi ông Chiêm vào năm 1981 trước khi cô ấy đi Mỹ. Cô hoa ngồi chờ trước cửa nhà ông Chiêm khá lâu, không thấy ai ra tiếp, bỏ đi, thì có cậu con trai ra kêu lại, mời vô ông Thầy Chiêm tiếp.

Cô Hoa nói, sắp đi Mỹ, muốn biết tin một cô bạn sinh năm Quý Mùi (tuổi Phùng Thăng) vượt biên và không thấy tin. Ông nói ngay: “Không phải chết vượt biên trên biển mà chết tập thể cùng với con gái và một nguời cháu nữa (con ông anh ruột Phùng Thăng là Bửu Vụ). Cô Hoa hết hồn. Ông còn nói bì đập đầu vào gốc cây mà chết… khoảng 10 tháng 6 âm lich. Nên cô Trí Hải nói lấy ngày ấy làm ngày giỗ Phùng Thăng…

”Hiện di ảnh mẹ con chị được đặt tại chùa Pháp Hoa, Phú Nhuận – Gia Định.

Nếu chúng ta tin mỗi cuộc đời đều gắn liền với cái nghiệp phải trả, thì rõ ràng cái nghiệp mà PT phải trả này quả thật quá khủng khiếp. Quá kinh hoàng.

Chị chết lúc mới 32 tuổi. Con gái chị là Trần Nguyễn Thường Nga tức bé Tiểu Phượng chết lúc cháu mới 9 tuổi.Chị mất đi để lại một di sản văn học giá trị sau đây:

Dịch phẩm:

1) Hermann Hesse: Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch. Lá Bối xuất bản lần 1 (1965), lần 2 (1966); An Tiêm xuất bản lần 3 (1967).

2) William Barrett: Thiền với người Tây phương. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1- 1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. ll9-138.

3) Alan Watts: Thiền Beat, Thiền Square, và Thiền nổi loạn, và Thiền bảo thủ. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1-1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. l39-l56.

4) Jean-Paul Sartre: Những Ruồi. Nhà xb Thanh Hiên, năm 1967.

5) Jean-Paul Sartre: Buồn Nôn. Nhà xb An Tiêm, năm 1967.

6) Hermann Hesse: Sói đồng hoang. Phùng Thăng và Chơn Hạnh dịch. Nhà xb Ca Dao, 1969.

7) Tuệ Không: Vang bóng Nguyễn Du. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 8 tháng 12-1970, số Chuyên đề về Nguyễn Du, tt. 19-21.

8) Simone Weil: Kẻ lạ ở Thiên đường, An Tiêm xuất bản năm 1973.Bây giờ, chị Phùng Thăng khỏi cần chọn địa ngục thật như Simone Weil đã chọn. Có phải khi dốc tâm dịch Kẻ lạ ở thiên đường, chị đã dọn sẵn cho mình môt nỗi hành hình đau đớn nhất, thảm khốc nhất.

Nhớ Phùng Thăng

Thái Kim Lan

Phùng Thăng đứng thứ ba, đứng đầu từ trái qua là Phùng Khánh

Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khoá 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1, cả nhóm quen biết nhau từ ngày đệ thất, đệ lục, đệ ngũ Đồng Khánh, theo nhau mà học từng năm, nối nhau mà dệt mơ ước học trò, cho nên qua Quốc Học gặp mặt là tự nhiên thấy cùng phe, không sợ… Sợ chi không biết nữa, chỉ biết không sợ, không những không sợ mà còn có chút kiêu kiêu, tự hào… đường đường… lên làm đàn chị cả một trường toàn là nam sinh…

Nhưng tôi còn nhớ, ngày đầu tiên khi bước vào lớp học đệ nhất C2 ấy,… có lẽ tôi là người cuối bước vào lớp… nhưng rõ ràng… không trễ, tôi cố tình đi học sớm, bỏ cái cố tật đi trễ vì dù răng thì chừ đã lớn rồi, học đệ nhất thê lận.

Nhưng không trễ mà hoá ra trễ…vì khi vào lớp thì đã có một người ngồi đó rồi, dãy bàn phía bên kia khi bước vào lớp, hàng thứ ba, đầu ghế ở lối đi giữa phân lớp thành hai dãy. 

Lạ. Chưa gặp bao giờ. 

Áo trắng, dáng ngồi thẳng, nghiêm trang, nét mặt thanh tú, làn da trong sáng, tóc bín hai con rết thắt nơ trắng. Hai con rết và cái nơ tòn teng tiết lộ sự trẻ thơ so với nét mặt có sống mũi cao nghiêm nghị của “người lạ” ấy. Chị không cười mặc dù đôi môi hồng tươi, như tiết kiệm hay muốn giữ bí mật của cả tâm hồn hay của đôi hàm răng mà sau này tôi có lần nhìn được rất trong. Môi không cười cho nên nét diễn tả tâm tình hầu như dồn nơi đôi mắt sáng lấp lánh đầy chân thiện, chị cười bằng mắt rất lặng lẽ. Gương mặt ấy hầu như chỉ biết cúi xuống trang sách hay ngẩng lên nhìn bảng đen, hiếm khi thấy chị nhìn ngang hay liếc dọc để quan sát chuyện chung quanh mình…

Lạ, không biết từ trường mô mà vô lớp ni, cái lớp nhốn nháo, lổm ngổm nam sinh, hừng hực sức sống trẻ trung cỡ nhất quỷ nhì ma, ngồi sau khèo tóc con gái ngồi trước cuốn vào tay mình giật giật rồi giả lơ như không hay biết… Cùng lắm chị chỉ nghiêng đầu nhưng không quay lui. Thật ngoan như “ma soeur” ấy. Sau này mới biết chị học ở trường bà xơ thiệt và hình như ở xa mới về, vô lớp đệ nhất như bỏ băng các lớp trung học thường tình.

Tôi thích nói “hình như” để viết về chị, vì tôi cũng chỉ “thấy” chị, mà thấy “hình như”.

Cố ni sư Trí Hải Phùng Khánh

Vâng hình như chị vẫn ngồi như thế suốt cả năm học, rất hiền, rất nhu mì, nhỏ nhẹ mà thông minh ghê gớm. 

Tôi nhỏ người nên ngồi đầu bàn ngay cửa vào lớp cùng với hai bạn khác. Thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra sau. Mỗi lần như thế, hình như tôi chỉ thấy một thứ ánh sáng bao quanh con người ấy, có thể vì màu áo trắng tương phản với những đầu tóc đen xanh, có thể vì cửa sổ phòng học mang nhiều mặt trời vào trong. Những tương phản không gian và thời gian nâng dáng người chị lên. 

Chị khác, khác lạ với chúng tôi, ở cái thùy mị mà hầu như cứng rắn, ở cái ngây thơ trong trắng mà hầu như xưa rích lâu đời như câu chuyện cổ tích. Mỗi lần quay đầu nhìn như thế, quay đầu không phải để nhìn chị đâu, mà vì tò mò muốn biết sau lưng mình cảnh tượng lớp học ra răng, những gương mặt thanh niên và thiếu nữ đang ngồi học có chuyện chi ngộ nghĩnh không. Mỗi lần như thế, hình như tôi giật mình khi nhận ra sự nổi bật khác lạ của chị nơi dáng ngồi cung kính, mẫu mực, nhu nhã, trong ngần.

Hình như gặp gỡ Phùng Thăng đối với tôi đã làm nảy sinh một thứ sửng sốt – một thứ giật mình – cho ngũ quan cảm nhận của tôi, một thứ ngạc nhiên… như tôi đã có lần viết về nỗi ngạc nhiên của tôi khi nghe đọc bài luận văn của chị về triết học Ấn Độ.1

Hầu như chị vượt xa những người cùng lứa tuổi về kiến thức và suy tư. Giật mình biết người ấy cũng mê sách, đọc sách và chững chạc gấp đôi mình. Mặc dù chị không phải là người xuất sắc nhất lớp, ồn ào nổi bật, có lẽ vì chị đã vượt xa trình độ đệ nhất nên không chuyên trò trẻ nít học thuộc bài các môn khác. Phần tôi, tôi ngưỡng mộ chị về văn tài ngay buổi đầu của niên khoá năm ấy và sự ngưỡng mộ ấy vẫn còn mãi trong lòng không bao giờ phai nhạt. 

Năm đệ nhất rộn ràng lứa tuổi mười tám, lứa tuổi trưởng thành, ở ngưỡng cửa sắp từ giã “thời con nít” học trò để thành người lớn sinh viên, nghĩ đến là ngợp người. Nỗi choáng ngợp đôi khi làm say bọn trẻ, “quậy” hơn, huyên náo hơn với những chuyện trò văn nghệ, thi đua, những háo hức tìm kiếm văn học nước ngoài. Nhưng Phùng Thăng vẫn như một lạch suối trong giữa những cơn sóng sôi sục thanh xuân, vẫn chảy lặng lẽ trong dòng đời như thế, lặng lẽ mà rất sâu đến không nhìn thấy. 

Giữa những náo nhiệt học trò, chị đã bắt đầu những cuộc giao lưu văn học mới: hình như chị đã mày mò dịch các tác phẩm văn học Pháp, Anh, Đức nổi tiếng đang chuyền về Việt Nam, những Camus, Goethe, Sagan, Beauvoir, Hesse… Còn nhớ khi tôi tìm đến địa chỉ ‘trung tâm văn hoá Pháp” ở đường Lê Lợi, trong đó có phòng sinh hoạt của viện Goethe, bắt đầu ghi tên học, thì… hình như Phùng Thăng đã ngồi ở đó rồi, i chang như khi tôi mới bước vào lớp C2, cái khổ người ung dung thanh thoát như thế đang ngồi trước trang sách…

Thời ấy thật lạ lùng, cả một lũ thanh niên say học, thấy chi cũng muốn học, như một cơn bệnh học trò hay lây. Đứa ni mới ghi tên học thêm lớp tiếng Pháp, đã thấy đưa tê lò dò đi vào ngồi bên cạnh. Vui thật! trong cái thành phố nhỏ bé với bề dày những thế hệ tiếp nối ham học, và sự học trở nên tâm huyết cả một đời. 

Năm dự bị văn khoa 1961, bỗng đâu cả lũ lao xao, thấy xuất hiện một ông giáo sư trẻ tuổi, da trắng (người Việt mê da trắng!!!), tóc vàng, mũi cao, môi đỏ, một ông giáo sư người Đức mở lớp dạy tiếng Đức, ông tên Ferkinghoff. Thế là cả bọn kéo nhau ghi tên học tiếng Đức. 

Khi tôi vào lớp, đã thấy Phùng Thăng ngồi đó rồi, an nhiên tự tại là thế! Hình như hồi ấy cả bọn sinh viên cả nam lẫn nữ đều “mê” ông Ferkinghoff , một nhân vật lạ “exotique” trong cái khung cảnh Huế xưa thời ấy. Cả bọn “mê”, có lẽ trừ chị Phùng Thăng, chị thanh thản ngồi, chăm chú đọc to hay đọc thầm từng con chữ theo ông giáo sư. Hình như chị làm cho ông giáo sư ấy chú ý nhiều hơn, hình như mỗi lần quay qua chị để chờ câu trả lời, mắt ông sáng hơn. Phùng Thăng ! Ông kêu cái tên ấy không dấu “accent” với nụ cười xin lỗi đọc sai “Phung Thang”! Mỗi khi ông bối rối tìm lời giải thích một chữ mới cho sinh viên, hình như Phùng Thăng là cái phao giải cứu ông ra khỏi cơn bối rối ấy. Đến phiên chị thì hầu như tiếng Đức được hiểu dễ dàng!

Nhưng Phùng Thăng không ở lâu với chúng tôi. Một khoảng thời gian, ký ức của tôi trống hình ảnh của chị. Hình như sau đó chị vào Sài Gòn học. Riêng tôi, có duyên với nước Đức, được học bổng du học khoá đào tạo Giáo sư Đức ngữ do người kế vị ông Ferkinghoff , giám đốc chi nhánh viện Goethe tại Huế, ông H. Hohl đề nghị. Từ xa, tôi nghe tin hai chị Phùng Khánh (từ Pháp trở về nước) và Phùng Thăng là những người cộng sự tài giỏi của Hoà Thượng Thích Minh Châu trong việc xây dựng Đại Học Vạn Hạnh trong những năm 1965, 66, 67 cho đến 1975. Hai chị đã đóng góp không ít trong công trình xây dựng thư viện Đại Học Vạn Hạnh. Hơn thế nữa công trình dịch thuật của hai chị với những tác phẩm lớn của những văn hào trứ danh thế giới đã làm khởi sắc nền học thuật miền Nam một thời thêm phong phú và đa dạng, không những trên phương diện văn chương mà còn trên lãnh vực tư tưởng thời đại. Gia tài văn học ấy có bàn tay tài hoa và tấm lòng thương văn chương, văn học nước nhà của hai chị đã như gấm thêu.2

Chỉ duy một điều, mà hôm qua trước khi viết về chị, tôi mới hiểu được phần nào sau khi nói chuyện với anh Trần Xuân Kiêm: trong các tác phẩm dịch, hiếm khi thấy tên Phùng Thăng, mặc dù công trình dịch của chị nòng cốt, thiết yếu cho bản dịch. Bởi vì Phùng Thăng không muốn để tên tuổi của mình, Xuân Kiêm bảo Phùng Thăng là bóng chim nhạn qua sông không để lại dấu tích. Tôi hiểu không phải vì chị “cố tình muốn” mà chị là như thế. 

Chị lặng lẽ đến như thế ấy. Lặng lẽ như tôi đã nhiều lần giật mình khi thoạt nhìn. Lặng lẽ đi và đến, ngồi ở thế gian giây phút rồi bỏ đi. Bóng áo trắng thấp thoáng sẻ sàng không gây tiếng động, đến nỗi khi cố tìm lại chị trong ký ức, tôi có cảm giác e dè sợ kinh động sự lặng lẽ ấy, sợ sẽ tan biến đi hình hài trong ký ức đẹp nhất về một con người…

Một đêm không ngủ trên đường bay về Huế, tôi mở mắt trong đêm tối tìm hình ảnh “Phùng Thăng”. “Phùng Thăng”, tôi kêu thầm như ông Ferkinghoff đã có lần nhắc hai chữ ấy trong vẻ ngây thơ, ngay cả dại khờ như đứa bé tập nói, với một nụ cười rạng rỡ hạnh phúc được nói lên như thế. Tôi tìm và lục lọi ký ức. Có chút tuyệt vọng và vô vọng không vượt qua được trước khi viết, đến từ nỗi ham muốn đem Phùng Thăng trở lại cõi trần. 

Trong màn đen, tôi chỉ thấy ánh chớp từ một hành tinh nào đó, một giải lụa phất phơ trước mắt như tơ trời, một âm thanh lặng lẽ đang rơi, một thứ Quán Thế Âm nào dó như là nỗi yên lặng vô cùng…Tôi bất giác khấn vái sự yên lặng thần thánh ấy.

Sao băng
Áo trắng
Mày ngài
Bóng người ngồi đó
Giật mình có không…

Huế, mùa sương
Giáp Ngọ tháng hai 2014

Thái Kim Lan

Danh mục các tác phẩm được biết tới của Phùng Thăng

Dịch phẩm: 

1) Hermann Hesse: Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch. Lá Bối xuất bản lần 1 (1965), lần 2 (1966); An Tiêm xuất bản lần 3 (1967). 

2) William Barrett: Thiền với người Tây phương. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1- 1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. ll9-138. 

3) Alan Watts: Thiền Beat, Thiền Square, và Thiền nổi loạn, và Thiền bảo thủ. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1-1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. l39-l56. 

4) Jean-Paul Sartre: Những Ruồi. Nhà xb Thanh Hiên, năm 1967. 

5) Jean-Paul Sartre: Buồn Nôn. Nhà xb An Tiêm, năm 1967. 

6) Hermann Hesse: Sói đồng hoang. Phùng Thăng và Chơn Hạnh dịch. Nhà xb Ca Dao, 1969. 

7) Tuệ Không: Vang bóng Nguyễn Du. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 8 tháng 12-1970, số Chuyên đề về Nguyễn Du, tt. 19-21. 

8) Simone Weil: Kẻ lạ ở Thiên đường, An Tiêm xuất bản năm 1973. 

Bản thảo bị mất: 

9) Thế giới Thiền (The World of Zen) edited by Nancy Wilson Ross, New York 1960, do Nhà xb Thanh Hiên. [Bị mất bản thảo sau biến cố Mậu Thân]. 

10) Theo dấu tình yêu (Tác phẩm luận đề). 

11) Chỉnh lý tư tưởng Tây phương (tác phẩm luận đề – luận án tốt nghiệp). 

12) Thư cho Tiểu Phượng – Tuyển tập nhiều người viết: Linh Thoại, Phùng Thăng, Nhất Kiếm, Thiên Tứ.

(Theo Trần Hoài ThưThư Quán Bản Thảo số 59, tháng 3.2014)

Chú thích: 

1 Thái Kim Lan, Nhạc chiều của chúng taTôi còn nhớ đã giật mình khi thầy Hương phát bài tập của chúng tôi viết về triết học Ấn Độ, bài của Phùng Thăng đã được đọc cho cả lớp nghe, thật gương mẫu. Về sau chị trở nên dịch giả tài hoa của những tác phẩm văn chương Đức nổi tiếng thế giới như Câu Chuyện Dòng Sông, Trò Chơi Bi Chai…của Hermann Hesse. Thật thương tiếc cho người tài hoa đã mệnh yểu… Phùng Thăng nghiêm trang, ít nói, ít cười, đúng phép con nhà. 

2 Đặc biệt là Câu chuyện dòng sông, bản dịch tác phẩm Siddhartha của H. Hesse, với đồng dịch giả là Phùng Khánh và Phùng Thăngra mắt bạn đọclần đầu tiên năm 1965 ở nhà xuất bản Lá Bối. Xem thêm: Thái Kim Lan, Câu Chuyện Dòng Sông và dịch giả Phùng Khánh.

Buổi mai đầu năm viết về Phùng Thăng

Trần Hoài Thư

tôi là độc giả, tôi là bạn học, là kẻ chủ trương vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật. Tôi không chấp nhận những kẻ tiếm đoạt tác phẩm của chị, mạo danh chị, lấy sách chị và ghép vào bằng một cái tên khác. Tôi cũng không chấp nhận những kẻ khốn nạn nhất, phản bội anh em, phản bội đồng đội, phản bội những điếu thuốc, những bữa mì gói cơ hàn mà chúng tôi đã chia sẻ. Chúng là thứ hủi. Tôi thuộc lòng lời chị: Hãy để trái tim nói. Xin lỗi, tôi giận nổi khùng rồi. Ôi, tại sao chị, một người nữ quá chừng dịu dàng, quá chừng xinh đẹp, với một trái tim của bồ tát trên cuộc đời chó má này, lại phải bị chết thảm như vậy. Chết mà ôm chặt đứa con mình, mà não óc văng, mà sọ bị nứt, mà mẹ ơi mẹ ơi mẹ ơi con ơi con ơi… Tiếng thét nào có bật xé như rung chuyển cả mấy tầng khí quyển không, sao mà tôi nghe như bốn bề chớp lóe mà sấm rền mà mặt trời tự nhiên bị khuất vào trong mây để ngày bỗng nhiên tối lại. Tôi khóc anh à. Tôi cứ nhìn tấm hình chị chụp chung với con gái, bé Tiểu Phượng tại Blao. Bé mang áo đầm, tóc bông-bê. Bé nhìn vào ống kính, nhưng rõ ràng nhìn tôi, nhìn mọi người. Như thầm nói với tôi, hãy nói, hãy viết. Hãy đi tìm kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng là kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng thích vào địa ngục với mẹ cháu để có mẹ săn sóc cháu. Trên thiên đàng kia, đâu có ai mặc áo đầm cho cháu đâu

pt-2

                    PT và con gái Tiểu Phượng (6 tuổi). Chụp năm 1972 tại Bảo Lộc. 

Tôi dành buổi sáng  đầu năm này cho Phùng Thăng – người mà Bùi Giáng gọi là thân mẫu.
Con thương Phùng Khánh vô ngần
Phùng Thăng thân mẫu cũng gần như nhiên

Bùi Giáng gọi Phùng Thăng là thân mậu  quá lố hay không ?
Không đâu !
Thử xem, ngoài Phùng Thăng ra có một người phụ nữ trẻ VN nào mang tư tưởng mình qua “Theo dấu tình yêu” hay “Chỉnh lý tư tưởng Tây phương”. Thử xem, những Buồn Nôn, Những ruồi, Bắt trẻ đồng xanh, Con sói đồng hoang, Thế giới Thiền, Kẻ lạ ở thiên đường, khi số tuổi của chị dưới 25. Thử thắp đuốc mà xem, một nữ kiệt ở Bàn Cờ [1], một người lính không có vũ khí chỉ có tình thương ở những nơi xa xôi hẻo lánh mang quà tặng đến những vùng mất an ninh nhất, để tác giả Chân Không phải viết sách bằng tiếng Việt, tiếng Anh ca ngợi hết mình.

phung thangLớp Đệ Nhị C – Đồng Khánh Niên khóa 1958 – 1959 Thầy Phan Văn Dật dạy Việt văn 
Phùng Thăng bên góc trái (khoanh tay)

Hãy thử xem, người mà Thái Kim Lan ngưỡng mộ, giật mình khi cả lớp ngồi lắng nghe bài triết của Phùng Thăng. (TQBT số 59 bài Nhớ Phùng Thăng)  Thử xem. Thử xem. Thử xem nhánh sông Vỹ Dạ thấy bóng hai nàng tôn nữ, mà trăng mà sao mà tiếng chuông chùa đã bềnh bồng trong giấc ngủ… Để rồi một người xuất gia một kẻ nhập thế, mang bình bát đựng cả ngàn năm lao khổ lên núi xuống biển. Vai thì mong manh mềm yếu. Vậy mà phải gánh cả một cả trời oan nghiệt đổ xuống đôi vai !  Cả  mẹ cả con đầu bị búa đập, hay bị chôn sống chung một huyệt đào dưới gốc cây dừa. . Vậy mà con ôm mẹ cầu cứu mẹ, để mẹ giữ gìn che chở  nhưng cũng bị chôn sống với mẹ ! vì bọn sa tăng Polpot muốn tiết kiệm đạn. hay vì chúng quan niệm xác người là phân bón tốt nhất.

Bây giờ, chị Phùng Thăng khỏi cần chọn địa ngục thật như Simone Weil đã chọn. Và cháu Thường Nga cũng vì không muốn xa mẹ nên cũng ở chung với mẹ không rời. Có phải khi dốc tâm dịch Kẻ lạ ở thiên đường, chị đã dọn sẵn cho mình một nỗi hành hình đau đớn nhất, thảm khốc nhất. Cho những ngọn lửa hỏa thiêu tác phẩm chị, cho những kẻ muốn tiếm đoạt tên tuổi chị, ác tâm với chị, phê bình chỉ trích chị.. Và cho cả miền Nam sau năm 1975 mà chị đã vì nó phải chịu thảm tử.

Ở Thổ châu, người dân xây một đài tưởng niệm người dân của đảo bị cáp duồng bởi quân Polpot vào tháng 6 năm 1975. Nhưng Phùng Thăng không phải là dân cùa đảo, thì dĩ nhiên, không có cái “may mắn” được xếp  trong hàng ngũ…
Không đâu. Chị ở trong một thế giới khác, cao cả, vĩ đại vô cùng. Chị là  mẹ của Bùi Giáng của Trần Hoài Thư của miền Nam.
Chị chết vì miền Nam và vì sự tàn bạo của con người.
Chị chịu tội cho miền Nam và cho sự tàn bao của con người.
Chị đã chọn thiên đàng trong địa ngục.


 Kể từ trái  thứ 1:Phùng Khánh, thứ 3 là Phùng Thăng.


Sau đây chúng tôi xin đăng lại bài viết “Tìm dấu Phùng Thăng”, nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 59   tháng 3 năm 2014 chủ đề : Phùng Thăng

TQBT 59

Trần Hoài Thư

TÌM DẤU PHÙNG THĂNG

1. Từ thầy Chiêm đến một bài ký sự

Trên phả hệ của  ÔngTrần Xuân Kiêm: Phùng Thăng sinh ngày 9-10-1943 (Quý Mùi) và mất ngày 10 tháng 6 năm Ất Mão (nhằm ngày 18-7-1975 – chú thích của TQBT) tại Kampuchea.  Có nghĩa là chị dẫn con gái đi vượt biên và bị cáp duồn. Qua một bài ký sự nhan đề “Về Miền Tây” của Nguyễn Đạt trên báo Người Việt, có một đoạn liên quan đến cái chết này: Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng (em ruột ni sư Trí Hải – Phùng Khánh, đã mất vì tai nạn giao thông, dòng dõi Tùng Thiện Vương), cùng một người con và nhiều người Việt Nam khác, bị Khmer Ðỏ “cáp duồn” từ đảo Nam Du (thuộc Kiên Giang), mang về Kampuchea bắt đi lao động khổ sai ở công-nông-trường, cả hai mẹ con chết tại đó. Thời điểm ấy cũng có nhiều du khách Việt kiều hôm nay, vượt biển từ Kiên Giang đi tìm tự do.

Một câu hỏi là làm sao gia đình lại biết được chính xác về ngày chết của mẹ con PT, trong khi tất cả 515 người này đều bị mất tích? Câu hỏi này, chúng tôi nhờ một thân hữu chuyển đến một người thân của PT.

Tại sao? Đây là lời giải thích của người thân của PT:

Sau nhiều năm bặt tin, không có tin nào biết đích xác về hai mẹ con. Năm 1981, Trần Xuân Kiêm nhờ một cô bạn tên Hoa lên Đàlạt hỏi Thầy Chiêm.
(Thầy Chiêm là ông Thầy nổi tiếng tại Đàlạt về tướng số, mách bảo cho biết những điều dưới Cõi Âm, người ta nói ông có thờ Ma Xó.)
Và không phải ai đến ông cũng tiếp và coi. Có lần Trần Xuân Kiêm và Trịnh Công Sơn lên coi. Ông chỉ coi cho Sơn về căn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ – Huế) mà không coi cho Trần Xuân Kiêm. Nên Kiêm phải nhờ cô Hoa lên coi ông Chiêm vào năm 1981 trước khi cô ấy đi Mỹ.
Cô Hoa ngồi chờ trước cửa nhà ông Chiêm khá lâu, không thấy ai ra tiếp, bỏ đi, thì có cậu con trai ra kêu lại, mời vô ông Thầy Chiêm tiếp.
Cô Hoa nói, sắp đi Mỹ, muốn biết tin một cô bạn sinh năm Quý Mùi (tuổi PT) vượt biên và không thấy tin. Ông nói ngay: “Không phải chết vượt biên trên biển mà chết tập thể cùng với con gái và một người cháu nữa (con ông anh ruột PT là Bửu Vụ). Cô Hoa hết hồn. Ông còn nói bị đập đầu vào gốc cây mà chết… khoảng 10 tháng 6 âm lịch. Nên cô Trí Hải nói lấy ngày ấy làm ngày giỗ PT…

…Như vậy, ngày chết của mẹ con chị PT không dựa vào sự thật mà chỉ dựa vào lời của một thầy “ngoại cảm”. Lấy gì để kiểm chứng cho những lời của thầy Chiêm là đúng?

Vậy đó. Tôi mệt lả đi tìm lý lịch tiểu sử Phùng Thăng giữa cõi ảo. Người thân của PT còn chịu thua thì huống gì là tôi – một kẻ xa lạ. Chỉ có người biết rõ là ông Nguyễn văn Linh và ông Phạm văn Trà – tướng chỉ huy QK4 CS và cấp lãnh đạo đảng CSVN. Họ có thể cứu sống 515 người này nếu họ thực tâm muốn cứu. Xin đọc một đọan hồi ký của một  cựu đại sứ VN tại Cao Miên sau 1975:

Ngày 4/5/1975, một tiểu đoàn CPC (tức Khmer Rouge- tòa soạn ghi chú)  đổ bộ lên đảo Phú Quốc.
Ngày 8/5/1975, lực lượng Pol Pot tiến công nhiều địa phương thuộc tỉnh Hà Tiên và Tây Ninh.
Ngày 10/5/1975, lực lượng Pol Pot tiến công đảo Thổ Chu của VN và bắt đi 515 dân trên đảo. Thực hiện quyền tự vệ của mình, quân đội ta đã đánh trả và truy kích chúng đến tận nơi xuất phát là đảo Wai, bắt giữ một số tù binh.
Ngày 2/6/1975, đ/c Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) đi Phnom Penh gặp Pol Pot, Nuon Chea và Ieng Sary. Ngày 12/6/1975, Pol Pot thăm bí mật Hà Nội, cho việc họ tấn công đảo Thổ Chu là do “không rành địa lý”, đề nghị ký Hiệp ước hòa bình hữu nghị nhưng lờ đi đề nghị của ta về đàm phán ký Hiệp ước biên giới. Ngày 3/7/1975, đ/c Nguyễn Văn Linh gặp lại Nuon Chea ở Phnom Penh và ngày 10/8/1975, đ/c Nguyễn Văn Linh một lần nữa đi Svay Rieng gặp Nuon Chea để xử lý vụ đảo Wai và về quan hệ hai nước, ta đồng ý trao trả số tù binh CPC (800 lính) bị ta bắt ở đảo Wai nhưng phía họ vẫn không trao trả cho ta 515 dân bị bắt ở Thổ Chu
. [1]

Mãi đến tháng 1, 2014, nhà báo Bùi văn Bồng mới phanh phui ra sự thật về số phận của 515 người này qua một bài ký sự nhiều kỳ trên báo Tuổi Trẻ mạng. Bài báo đã trả lời những gì tôi thắc mắc. Và thêm một lần chứng tỏ là lời của thầy Chiêm là đúng.

Bài báo viết về một hòn đảo mang tên là Koh Tang, nơi bọn Pol Pot mang 515 người Việt đến giam giữ. Chúng tôi xin mạn phép trích đăng một đoạn dưới tiêu đề:

Những tấm căn cước trên đảo Koh Tang

– Anh đi với tôi! – đột nhiên đảo trưởng Đức quay lại và nói, giọng gấp gáp.

– Đi đâu anh?

– Cứ đi. Rồi anh sẽ thấy thêm nhiều chứng tích…

Anh chỉ một ngôi mộ nhỏ:

– Đây là mộ của hai mẹ con xấu số. Khi ra đảo, anh em đào công sự phát hiện ra. Chúng chỉ vùi cát sơ sài. Chúng trói chặt đứa trẻ vào mẹ. Người mẹ và đứa trẻ bị đập vỡ sọ. Có lẽ chúng giết hồi cuối năm 1978 cho nên tháng 1-1979, anh em bới lên thấy xác họ thịt chưa rữa hết. Trong túi áo người mẹ còn tấm thẻ căn cước đề: Nguyễn Thị Tua, 29 tuổi, ở đảo Thổ Chu, do chính quyền Sài Gòn cấp ngày 20-2-1968…

Chúng tôi đi qua khỏi vườn dừa, vòng ra bãi biển. Ven bờ cát có một cây dương cao vút đứng chơ vơ. Xung quanh cỏ cây mọc rậm rạp.

– Anh nhìn lên cây dương, có thấy gì không? – anh Đức hỏi.

– Một đoạn dây!

Rồi tôi thấy gai người, thốt lên:

– Một đoạn dây thòng lọng.

Anh Đức giải thích:

– Đúng vậy. Đây là nơi chúng hành hình đồng bào ta. Khi mới lên đảo, dưới gốc cây nhẵn thín, hàng trăm dấu chân đè lên nhau. Xung quanh gốc cây chúng còn vứt rải rác gậy, dây trói, búa, dao quắm. Khi ấy anh em còn thấy máu đọng khô lại.

Chúng tôi qua bãi lau rậm, đi trên chiếc cầu gỗ bắc qua hồ nước rồi vòng ra chân đồi. Ở đây có những căn nhà lợp ngói. Một kiểu nhà sàn bốn mái, xung quanh lát gỗ, cầu thang bằng xi măng. Kiểu nhà này là nguyên dạng cấu trúc nhà ở mà người ta thường thấy ở Trung Quốc.

– Đây là nhà của các cố vấn Trung Quốc.

– Sao anh biết?

– Biết chứ! Giấy tờ, tư trang và cả thư của họ để lại mà.

Phía trước căn nhà sàn bốn mái ấy là một dãy hầm bê-tông nửa mái nổi. Dãy hầm này mới xây xong khoảng năm 1978, rêu phủ một lớp xanh sẫm ở bậc lên xuống.

Chui vào hầm còn thoảng mùi vôi vữa. Dãy hầm có bốn ngăn. Mỗi ngăn chứa gần 10 người. Ngăn nào cũng có lỗ châu mai hướng ra biển.

Trong số giấy căn cước đã nhàu nát, mối xông, thấm nước, vứt rải rác quanh khu nhà bốn mái này, tôi còn đọc được những địa danh, phần lớn là Thổ Chu, những căn cước khác có ghi rõ quê quán nạn nhân ở Chợ Lớn, Biên Hòa, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Vinh…

Khi sáng, ở ven chân đảo phía đông, tôi còn thấy những chiếc tàu đánh cá loại vừa và nhỏ đã bị hỏng. Có con tàu gối lên bờ cát, cái thì nằm chềnh ềnh giữa lối đi, có cái nửa chìm nửa nổi. Một mảnh ván bị sóng đánh tung lên bờ từ khi nào khô cong, mốc thếch, nứt nẻ.

Một chiếc tàu có mấy chữ số kẻ sơn còn đọc được: KG13…, mấy chữ số tiếp theo bị bong hết sơn. À, bọn diệt chủng Pol Pot chẳng những bắt hơn 500 người dân đảo Thổ Chu về đây, mà chúng còn bắt cóc tàu thuyền đánh cá của ngư dân VN đang làm nghề trên biển.

Bao nhiêu người già, đàn bà, trẻ em? Bao nhiêu người bị đánh đập tàn nhẫn rồi bị chết vùi thân dưới những gốc dừa kia? Chẳng ai trả lời được những câu hỏi ấy. [2]


[1] GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991) – Hồi ký của Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ CSVN tại Kampuchea
[2] Bùi văn Bồng: Đây, chứng tích thảm sát Koh Tangnguồn: Internet (đăng trên nhiều trang mạng)


2. Về hai tác phẩm luận đề bị thất lạc

Nói đến Phùng Thăng, người đọc sẽ nghĩ ngay chị là một dịch giả.  Tuy nhiên, khi nhìn vào những tác phẩm vừa liệt kê, chúng ta có thể nhận ra hai tác phẩm luận đề về triết học mà bản thảo bị thất lạc. Đó là “Theo dấu tình yêu” và “Chỉnh lý tư tưởng Tây phương”.

Qua những cuộc hàn huyên tâm sự với một bạn văn, nguyên là một học trò cũ năm Đệ Nhất tại trường Trần Quý Cáp mà PT là giáo sư Triết, chúng tôi được biết một phần nào tư tưởng của PT đã gởi gắm vào hai tác phẩm trên của chị. Theo lời người bạn, chị luôn luôn bảo thật là bất công khi người ta nhân danh tình yêu để nói chứ không bao giờ để tình yêu được nói. 

Tôi tìm ra tư tưởng này trong truyện dài Cõi Đá Vàng của Nguyễn thị Thanh Sâm.  .

Qua tâm sự của Trần với người bạn thân về người mà chàng yêu tha thiết – người góa phụ có hai con lại thêm có đôi mắt lé,  tình yêu đã nói như sau:

…Tao nói điều này mày cứ việc cười nếu mày thích, chính vì đôi mắt lé của nàng mà tao yêu thương nàng vô cùng.  Tao những muốn hôn lên đôi mắt ấy không biết bao nhiêu lần và mong gìn giữ nó mãi trong đời tao. Đôi mắt của một người bị lé nó luôn có một vẻ trơ trọi cô độc lạ lùng, ai cũng có thể thấy rõ điều đó; một đôi mắt bình thường chúng nó luôn luôn cùng nhau nhìn về một hướng nào đó, chúng biểu lộ một sự đồng điệu, vui buồn có nhau.  Trên khuôn mặt của một người có đôi mắt lé, thiếu vắng hẳn điều đó, nó lỗi điệu và tỏ rõ sự lạc lõng bơ vơ. Mày cười rồi đấy nhé, tao biết mà, điều đó đáng cười lắm, mà cũng đáng khóc nữa, cái đó còn tùy.  Có một đêm tao vùng vẫy một cách tuyệt vọng để ra khỏi một cơn mơ quái ác, cho đến khi tao hét lên một tiếng mở choàng mắt ra được, mồ hôi toát ra ướt đẫm cả người, tao vẫn còn nguyên cảm giác kinh hoàng của sự cô đơn đến cùng cực. Lúc ấy khuôn mặt và đôi mắt lé của Hiếu cúi xuống nhìn tao đầy vẻ lo âu thương cảm. Tức thì tao cảm thấy chan hòa một nỗi xót xa an ủi khiến tâm trí tao dịu lại ngay.  Tao thấy trong đôi mắt bất toàn ấy một nỗi lạc loài rộng lớn mênh mông bao trùm cả nỗi đơn độc của tao.

Nó có ma lực của một nhân duyên đã được an bài, cái nhân duyên nối liền một vực thẳm này đến một vực thẳm kia.

Đột nhiên Trần ngừng lại.

Từ ngọn đồi trước mặt, một tiếng chim lạ bỗng trỗi lên véo von réo rắt như những sợi tơ trăng ngâm lên rồi thốt nhiên im bặt như có sự lầm lẫn nào đó.  Cả hai người bạn cùng yên lặng lắng tai nghe, ngỡ ngàng.  Không khí trong suốt như được lọc từ một thiên thể khác.

Một ngôi sao băng ngang cuối trời nghe như có tiếng xé lụa trong không trung.

(trích Cõi đá vàng, truyện dài của Nguyễn thị Thanh Sâm, Thư Ấn Quán tái bản, tt. 185)

Và đây là người ta nhân danh tình yêu để nói.  Người ta là ai. Là gia đình, xã hội và Đảng. Chẳng những nói mà còn đưa ra kết luận cho lời nói của họ. Như lời của Hùynh khi Trần hỏi ý bạn:

– Thực tế mà nói, để qua một bên những rắc rối không tránh khỏi với gia đình và xã hội đối với một mối tình kỳ quặc như thế, đừng quên mày là một đảng viên, Đảng theo dõi chặt chẽ tư tưởng, hành động cho đến tình cảm của mày.  Một mối tình ngoại lệ được xem như một cách vượt rào, nó kéo theo những suy luận triền miên để đi đến những kết luận không ngờ nổi.  Nhưng kết luận ấy nó giản dị hơn những điều mày đã kể cho tao nghe đêm nay nhiều.  Nó giản dị như một viên sỏi quăng xuống bể lặn mất tăm vậy đó.  Dĩ nhiên mày cũng hiểu rằng mối tình của mày và chị Hiếu sẽ đi đến đâu rồi.  Dù sao, tao cũng không muốn thấy mày lâm vào tình cảnh khốn khó, nhưng nghĩ cho cùng, tao muốn hay không cũng vậy thôi.

(trích Cõi đá vàng, truyện dài của Nguyễn thị Thanh Sâm, Thư Ấn Quán tái bản, tt. 186)

3. Không có chỗ cho một triết gia

Trong số những người học trò của Phùng Thăng của niên khóa 1966 mà Phùng Thăng đảm trách về môn Triết có nhà thơ Nguyễn Nho Nhượn. Theo lời người bạn,  Nguyễn Nho Nhượn đã sáng tác bài thơ Vai Tuồng để tặng cô  giáo dạy triết PT:

tôi giậm chân nông nỗi
đóng vai người ăn mày
đi hành khất tình thương
lại bị người ruồng rẫy

tôi vô cùng ngu ngơ
đóng vai chàng thi sĩ
chống đối và ngợi ca
lại bị người mai mỉa

tôi quay cuồng châu thân
đóng vai nhà ảo thuật
lừa dối rất tài tình
lại bị người trục xuất

tôi vỗ tay đứng cười
đóng vai một triết gia
khinh mạn cả cuộc đời
lại bị người ó la

tôi giận tôi quá đỗi
đóng vai hề thử sao?
diễn những trò vô lối
lại được người hoan hô

tôi không còn hiểu nổi
lòng người thích thế sao
chừ đóng vai gì nữa
cho được người hoan hô?

(trích thi phẩm tiếng nói từ hư vô)

Vâng, người thi sĩ đã nói về một sự thật: Làm sao có được một triết gia ở đất nước này. Cho dù Simone Weil lấy Việt Nam để đầu thai đi nữa , người ta vẫn la ó, chỉ trích, phê bình, bơi móc, đặt điều. Chỉ có hề, hề và hề. Chỉ có phản bội và phản bội. Chỉ có những nhân danh mỹ từ khoác áo. Thương lắm Trần đã nghe tình yêu nói. Nhưng cũng xót xa lắm khi biết rằng cuộc tình sẽ không bao giờ thành tựu vì người ta đã nhân danh tình yêu mà nói, mà trói tình yêu. Bởi vậy Phùng Thăng mới lên tận Di Linh. Bởi vậy Phùng Thăng mới bỏ rừng xuống biển ra tận Thổ Chu và qua tận của đảo Koh Tang của bọn Sa Tăng chín tầng địa ngục.

Vậng, chẳng còn chỗ cho chị, và cho cả miền Nam này, sau tháng 4 năm 1975..

Kẻ lạ ở thiên đường

Tôi đã theo dấu chân Phùng Thăng qua hai tác phẩm luận đề nhờ những lời kể của một người học trò cũ của nàng, nhưng tôi không thể theo dấu cuốn Kẻ lạ ở thiên đường của Simone Weil mà PT dịch, do người thân của nàng cung cấp, với lời ghi chú là bản thảo bị thất lạc vào năm Mậu Thân. Tôi lên mạng, cầu cứu Cornell, Yale, Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ, hay những thư viện chính ở trong nước nhưng cũng đành chịu thua. Simone Weil không có tác phẩm nào mang tên là “Kẻ lạ ở thiên đường” cả. Dù là l’étranger hay dù là paradise… Simone Weil chỉ có một câu nói bất hủ là: “We must prefer real hell to an imaginary paradise.” (Chúng ta phải thích địa ngục thật hơn là thiên đường tưởng tượng).  Không ai có thể giúp tôi hết. Ngay cả nhà thơ TXK. Tôi không thể nhờ anh vì tôi rất ngại phải chạm vào vết thương lòng của anh. Anh đã quá đau đớn rồi. Làm cho anh đau đớn thêm quả là một tội ác. Nhưng mà, thưa anh. Dù sao PT cũng đã nằm xuống, và tôi là độc giả, tôi là bạn học, là kẻ chủ trương vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật. Tôi không chấp nhận những kẻ tiếm đoạt tác phẩm của chị, mạo danh chị, lấy sách chị và ghép vào bằng một cái tên khác. Tôi cũng không chấp nhận những kẻ khốn nạn nhất, phản bội anh em, phản bội đồng đội, phản bội những điếu thuốc, những bữa mì gói cơ hàn mà chúng tôi đã chia sẻ. Chúng là thứ hủi. Tôi thuộc lòng lời chị: Hãy để trái tim nói. Xin lỗi, tôi giận nổi khùng rồi. Ôi, tại sao chị, một người nữ quá chừng dịu dàng, quá chừng xinh đẹp, với một trái tim của bồ tát trên cuộc đời chó má này, lại phải bị chết thảm như vậy. Chết mà ôm chặt đứa con mình, mà não óc văng, mà sọ bị nứt, mà mẹ ơi mẹ ơi mẹ ơi con ơi con ơi… Tiếng thét nào có bật xé như rung chuyển cả mấy tầng khí quyển không, sao mà tôi nghe như bốn bề chớp lóe mà sấm rền mà mặt trời tự nhiên bị khuất vào trong mây để ngày bỗng nhiên tối lại. Tôi khóc anh à. Tôi cứ nhìn tấm hình chị chụp chung với con gái, bé Tiểu Phượng vào năm 1968 tại Blao. Bé mang áo đầm, tóc bông-bê. Bé nhìn vào ống kính, nhưng rõ ràng nhìn tôi, nhìn mọi người. Như thầm nói với tôi, hãy nói, hãy viết. Hãy đi tìm kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng là kẻ lạ ở thiên đường. Cháu cũng thích vào địa ngục với mẹ cháu để có mẹ săn sóc cháu. Trên thiên đàng kia, đâu có ai mặc áo đầm cho cháu đâu…

Vậy mà tôi tìm được. Không phải ở Cornell, Yale, hay thư viện Sài Gòn, Hà Nội mà là một thư viện tỉnh. Chẳng ai giúp tôi, trừ Google và ma lực nào đẩy đưa dẫn dắt tôi tìm đến thư viện tỉnh Thừa Thiên. Trong khi tôi đang ở Mỹ, không thể rời nhà một buổi. Chẳng có ai hết. Trừ chị. Rõ ràng Kẻ lạ ở thiên đường do An Tiêm xuất bản vào năm 1973. Rõ ràng KLOTĐ không mất như lời ghi chú của người thân. Anh TXK ơi, tôi tìm được tông tích đứa con bị thất lạc của PT rồi đấy. Xin anh cố làm sao đừng để bọn khốn nạn ăn cắp mạo danh mạo tên tuổi PT một lần nữa…

bia KLOTD

KẺ LẠ Ở THIÊN ĐƯỜNG được chọn làm tên chung cho bản dịch sáu bức thư gởi cho linh mục Perrin và năm bài trần thuyết về năm đề tài tôn giáo. Qua toàn thể văn phẩm, tâm hồn Simone Weil vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một Quê Hương tâm linh đích thực cho mình. Chính sự sáng suốt ấy đã đưa Simone Weil đến chỗ khước từ thiên đường hữu hạn để chọn hỏa ngục vô biên vì quá xót thương và muốn chia sớt những lầm than của trần thế. Trong nguyện ước của nàng, như có vọng âm những lời phát nguyện của các vị bồ tát Phật giáo từ muôn nghìn thế kỷ. Trên thiên đường hữu hạn ấy, nếu được chọn, Sìmone Weil sẽ vẫn mãi mãi là một kẻ xa lạ lạc loài, vì nàng không ước muốn. Nàng chỉ ước muốn Thiên Đường chính thực, Quê Hương tâm linh bình đẳng cho tất cả Loài Người.

Simone Weil Việt Nam…

pt-simon

Simone Weil mất ngày 24-8-1943. Phùng Thăng ra đời ngày 9-10-1943 (Quý Mùi). Simone Weil ước ao chẳng thà sống ở địa ngục thật còn hơn là thiên đường tưởng tượng, thì không gì hơn là chọn VN, vì VN là một nơi mà “When I die I will go to Heaven because I lived in VN”. Bước chân của Simone Weil là bước chân của Phùng Thăng tiếp tục. Simone là một nữ triết gia trẻ. Phùng Thăng cũng vậy. Có khác gì đâu.

Thử xem, ngoài Phùng Thăng ra có một người phụ nữ trẻ nào mang tư tưởng mình qua “Theo dấu tình yêu” hay “Chỉnh lý tư tưởng Tây phương”. Thử xem, những Buồn Nôn, Những ruồi, Bắt trẻ đồng xanh, Con sói đồng hoang, Thế giới Thiền, Kẻ lạ ở thiên đường, khi số tuổi của chị dưới 25. Thử thắp đuốc mà xem, một nữ kiệt ở Bàn Cờ [1], một người lính không có vũ khí chỉ có tình thương ở những nơi xa xôi hẻo lánh mang quà tặng đến những vùng mất an ninh nhất, để tác giả Chân Không phải viết sách bằng tiếng Việt, tiếng Anh ca ngợi hết mình.

Hãy thử xem, người mà Thái Kim Lan ngưỡng mộ, giật mình khi cả lớp ngồi lắng nghe bài triết của Phùng Thăng. Thử xem. Thử xem. Thử xem nhánh sông Vỹ Dạ thấy bóng hai nàng tôn nữ, mà trăng mà sao mà tiếng chuông chùa đã bềnh bồng trong giấc ngủ… Để rồi một người xuất gia một kẻ nhập thế, mang bình bát đựng cả ngàn năm lao khổ lên núi xuống biển. Vai thì mong manh mềm yếu. Vậy mà phải gánh cả một cả trời oan nghiệt đổ xuống đôi vai !


[1]

Trong cuốn hồi ký 52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi ký của Sư cô Chân Khôngcó đoạn nhắc đến tinh thần phục vụ xã hội này của PT:

“Chuyến đầu tiên không có thầy (Nhất Hạnh – tòa soạn chú thích), tôi rủ được Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng. Phùng Thăng có gương mặt rất thanh tú, dáng người thanh lịch, nhìn em mặc chiếc áo năm thân mầu nâu cùng đi cứu trợ với tôi ở những vùng xa xôi bom đạn như vầy tôi rất cảm động và thầm khâm phục cô công chúa bé dễ thương chịu khó này. Em nói với tôi là em rất ưa tên Phượng, nên sau này lấy chồng sinh con, Phùng Thăng đã đặt tên cháu là Tiểu Phượng.”

(nguồn: Langmai.org)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.